Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahà Moggallāna cùng ở Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm) tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc, chung một tịnh xá.
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Sāriputta, từ chỗ độc cư Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Moggallāna; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Mahà Moggallāna những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu bèn ngồi xuống một bên.
Vi-n 4 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Mahà Moggallāna:
—Này Hiền giả Moggallāna, các căn của Hiền giả thật là tịch tịnh; sắc mặt thật là thanh tịnh, trong sáng. Có phải hôm nay Tôn giả Mahà Moggallāna an trú với sự an trú tịnh lạc?
—Thưa Hiền giả, hôm nay tôi an trú với sự an trú thô thiển. Tôi có được một cuộc pháp thoại.
Vi-n 5 —Với ai, Tôn giả Mahà Moggallāna có được một cuộc đàm luận về Chánh pháp?
—Thưa Hiền giả, tôi có một cuộc pháp thoại với Thế Tôn.
Vi-n 6 —Ở xa, thưa Hiền giả, là Thế Tôn. Hiện nay Thế Tôn ở Sāvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anāthapiṇḍika. Có phải Tôn giả Mahà Moggallāna đi đến Thế Tôn bằng thần thông hay Thế Tôn đi đến Tôn giả Mahà Moggallāna bằng thần thông?
Vi-n 7 —Thưa Hiền giả, tôi không đi đến Thế Tôn bằng thần thông. Và Thế Tôn cũng không đi đến tôi bằng thần thông. Tôi như thế nào thời Thế Tôn được thiên nhãn thanh tịnh, cả thiên nhĩ nữa như vậy! Thế Tôn như thế nào thời tôi được thiên nhãn thanh tịnh, cả thiên nhĩ nữa như vậy.
Vi-n 8 —Như thế nào là cuộc pháp thoại giữa Tôn giả Mahà Moggallāna với Thế Tôn?
Vi-n 9 —Ở đây, thưa Hiền giả, tôi bạch với Thế Tôn:
“—Bạch Thế Tôn ở đây tinh cần, tinh tấn, được gọi là tinh cần, tinh tấn. Như thế nào, bạch Thế Tôn, là tinh cần, tinh tấn?”.
Vi-n 10 Khi được nói vậy, thưa Hiền giả, Thế Tôn nói với tôi:
“—Ở đây, này Moggallāna, Tỷ-kheo sống tinh cần, tinh tấn: ‘Dầu cho da, dây gân và xương có khô héo, dầu thịt và máu có héo tàn trên thân tôi, cái gì có thể lấy sức lực của người, tinh tấn của người, nỗ lực của người có thể đạt được; nếu chưa đạt được, thời tinh tấn sẽ không bao giờ dừng nghỉ’. Như vậy, này Moggallāna, là sự tinh cần, tinh tấn”.
Vi-n 11 Như vậy, này Hiền giả, là cuộc pháp thoại giữa Thế Tôn và tôi.
Vi-n 12 Ví như, này Hiền giả, một đống hòn sạn nhỏ đem đặt dài theo Hy-mã-lạp sơn, vua các loài núi. Cũng vậy, là chúng tôi được đem đặt dài theo Tôn giả Mahà Moggallāna. Mong rằng Tôn giả Mahà Moggallāna, bậc đại thần thông, đại uy lực, nếu muốn hãy sống cho đến một kiếp.
Vi-n 13 Ví như, này Hiền giả, một nắm muối nhỏ được đem đặt dài theo một ghè muối lớn. Cũng vậy, là chúng tôi được đem đặt dài theo Tôn giả Sāriputta.
Vi-n 14 Tôn giả Sāriputta được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện xưng tán, tán thán, tán dương:
Như vị Xá-lợi-phất,
Về trí tuệ, giới luật,
Và cả về tịch tịnh,
Ông là bậc đệ nhất.
Tỷ-kheo đạt bỉ ngạn,
Cũng là bậc tối thượng.
Vi-n 15 Như vậy, hai bậc Long Tượng ấy (Nàgà) cùng nhau hoan hỷ, tán thán trong câu chuyện khéo nói, khéo thuyết.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena āyasmā ca sāriputto āyasmā ca mahāmoggallāno rājagahe viharanti veḷuvane kalandakanivāpe ekavihāre.
Atha kho āyasmā sāriputto sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā mahāmoggallāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā mahāmoggallānena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ etadavoca:
“Vippasannāni kho te, āvuso moggallāna, indriyāni;
parisuddho mukhavaṇṇo pariyodāto santena nūnāyasmā mahāmoggallāno ajja vihārena vihāsī”ti.
“Oḷārikena khvāhaṁ, āvuso, ajja vihārena vihāsiṁ.
Api ca me ahosi dhammī kathā”ti.
“Kena saddhiṁ panāyasmato mahāmoggallānassa ahosi dhammī kathā”ti?
“Bhagavatā kho me, āvuso, saddhiṁ ahosi dhammī kathā”ti.
“Dūre kho, āvuso, bhagavā etarahi sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Kiṁ nu kho āyasmā mahāmoggallāno bhagavantaṁ iddhiyā upasaṅkami;
udāhu bhagavā āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ iddhiyā upasaṅkamī”ti?
“Na khvāhaṁ, āvuso, bhagavantaṁ iddhiyā upasaṅkamiṁ;
napi maṁ bhagavā iddhiyā upasaṅkami.
Api ca me yāvatā bhagavā ettāvatā dibbacakkhu visujjhi dibbā ca sotadhātu.
Bhagavatopi yāvatāhaṁ ettāvatā dibbacakkhu visujjhi dibbā ca sotadhātū”ti.
“Yathākathaṁ panāyasmato mahāmoggallānassa bhagavatā saddhiṁ ahosi dhammī kathā”ti?
“Idhāhaṁ, āvuso, bhagavantaṁ etadavocaṁ:
‘āraddhavīriyo āraddhavīriyoti, bhante, vuccati.
Kittāvatā nu kho, bhante, āraddhavīriyo hotī’ti?
Evaṁ vutte, maṁ, āvuso, bhagavā etadavoca:
‘idha, moggallāna, bhikkhu āraddhavīriyo viharati—
kāmaṁ taco ca nhāru ca aṭṭhi ca avasissatu, sarīre upassussatu maṁsalohitaṁ, yaṁ taṁ purisathāmena purisavīriyena purisaparakkamena pattabbaṁ na taṁ apāpuṇitvā vīriyassa saṇṭhānaṁ bhavissatīti.
Evaṁ kho, moggallāna, āraddhavīriyo hotī’ti.
Evaṁ kho me, āvuso, bhagavatā saddhiṁ ahosi dhammī kathā”ti.
“Seyyathāpi, āvuso, himavato pabbatarājassa parittā pāsāṇasakkharā yāvadeva upanikkhepanamattāya;
evameva kho mayaṁ āyasmato mahāmoggallānassa yāvadeva upanikkhepanamattāya.
Āyasmā hi mahāmoggallāno mahiddhiko mahānubhāvo ākaṅkhamāno kappaṁ tiṭṭheyyā”ti.
“Seyyathāpi, āvuso, mahatiyā loṇaghaṭāya parittā loṇasakkharāya yāvadeva upanikkhepanamattāya;
evameva kho mayaṁ āyasmato sāriputtassa yāvadeva upanikkhepanamattāya.
Āyasmā hi sāriputto bhagavatā anekapariyāyena thomito vaṇṇito pasattho:
‘Sāriputtova paññāya,
sīlena upasamena ca;
Yopi pāraṅgato bhikkhu,
etāvaparamo siyā’”ti.
Itiha te ubho mahānāgā aññamaññassa subhāsitaṁ sulapitaṁ samanumodiṁsūti.
Tatiyaṁ.
SC 1Thus have I heard. On one occasion the Blessed One was dwelling at Savatthi in Jeta’s Grove, Anathapiṇḍika’s Park. Now on that occasion the Venerable Sāriputta and the Venerable Mahamoggallana were dwelling at Rajagaha in a single dwelling in the Bamboo Grove, the Squirrel Sanctuary. Then, in the evening, the Venerable Sāriputta emerged from seclusion and approached the Venerable Mahamoggallana. He exchanged greetings with the Venerable Mahamoggallana and, when they had concluded their greetings and cordial talk, he sat down to one side and said to him:
SC 2“Friend Moggallana, your faculties are serene, your facial complexion is pure and bright. Has the Venerable Mahamoggallana spent the day in a peaceful dwelling?”
SC 3“I spent the day in a gross dwelling, friend, but I did have some Dhamma talk.”
SC 4“With whom did the Venerable Mahamoggallana have some Dhamma talk?”
SC 5“I had some Dhamma talk with the Blessed One, friend.”
SC 6“But the Blessed One is far away, friend. He is now dwelling at Savatthi in Jeta’s Grove, Anathapiṇḍika’s Park. Did the Venerable Mahamoggallana approach the Blessed One by means of spiritual power, or did the Blessed One approach the Venerable Mahamoggallana by means of spiritual power?” sn.ii.276
SC 7“I didn’t approach the Blessed One by means of spiritual power, friend, nor did the Blessed One approach me by means of spiritual power. Rather, the Blessed One cleared his divine eye and divine ear element to communicate with me, and I cleared my divine eye and divine ear element to communicate with the Blessed One.”
SC 8“What kind of Dhamma talk did the Venerable Mahamoggallana have with the Blessed One?”
SC 9“Here, friend, I said to the Blessed One: ‘Venerable sir, it is said, “one with energy aroused, one with energy aroused.” In what way, venerable sir, does one have energy aroused?’ The Blessed One then said to me: ‘Here, Moggallana, a bhikkhu with energy aroused dwells thus: “Willingly, let only my skin, sinews, and bones remain, and let the flesh and blood dry up in my body, but I will not relax my energy so long as I have not attained what can be attained by manly strength, by manly energy, by manly exertion.” It is in such a way, Moggallana, that one has aroused energy.’ Such, friend, is the Dhamma talk that I had with the Blessed One.”
SC 10“Friend, compared to the Venerable Mahamoggallana we are like a few grains of gravel compared to the Himalayas, the king of mountains. For the Venerable Mahamoggallana is of such great spiritual power and might that if so he wished he could live on for an aeon.”
SC 11“Friend, compared to the Venerable Sāriputta we are like a few grains of salt compared to a barrel of salt. sn.ii.277 For the Venerable Sāriputta has been extolled, lauded, and praised in many ways by the Blessed One:
SC 12“‘As Sāriputta is supreme
In wisdom, virtue, and peace,
So a bhikkhu who has gone beyond
At best can only equal him.’”
SC 13In this manner both these great nagas rejoiced in what was well stated and well declared by the other.
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahà Moggallāna cùng ở Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm) tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc, chung một tịnh xá.
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Sāriputta, từ chỗ độc cư Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Moggallāna; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Mahà Moggallāna những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu bèn ngồi xuống một bên.
Vi-n 4 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Mahà Moggallāna:
—Này Hiền giả Moggallāna, các căn của Hiền giả thật là tịch tịnh; sắc mặt thật là thanh tịnh, trong sáng. Có phải hôm nay Tôn giả Mahà Moggallāna an trú với sự an trú tịnh lạc?
—Thưa Hiền giả, hôm nay tôi an trú với sự an trú thô thiển. Tôi có được một cuộc pháp thoại.
Vi-n 5 —Với ai, Tôn giả Mahà Moggallāna có được một cuộc đàm luận về Chánh pháp?
—Thưa Hiền giả, tôi có một cuộc pháp thoại với Thế Tôn.
Vi-n 6 —Ở xa, thưa Hiền giả, là Thế Tôn. Hiện nay Thế Tôn ở Sāvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anāthapiṇḍika. Có phải Tôn giả Mahà Moggallāna đi đến Thế Tôn bằng thần thông hay Thế Tôn đi đến Tôn giả Mahà Moggallāna bằng thần thông?
Vi-n 7 —Thưa Hiền giả, tôi không đi đến Thế Tôn bằng thần thông. Và Thế Tôn cũng không đi đến tôi bằng thần thông. Tôi như thế nào thời Thế Tôn được thiên nhãn thanh tịnh, cả thiên nhĩ nữa như vậy! Thế Tôn như thế nào thời tôi được thiên nhãn thanh tịnh, cả thiên nhĩ nữa như vậy.
Vi-n 8 —Như thế nào là cuộc pháp thoại giữa Tôn giả Mahà Moggallāna với Thế Tôn?
Vi-n 9 —Ở đây, thưa Hiền giả, tôi bạch với Thế Tôn:
“—Bạch Thế Tôn ở đây tinh cần, tinh tấn, được gọi là tinh cần, tinh tấn. Như thế nào, bạch Thế Tôn, là tinh cần, tinh tấn?”.
Vi-n 10 Khi được nói vậy, thưa Hiền giả, Thế Tôn nói với tôi:
“—Ở đây, này Moggallāna, Tỷ-kheo sống tinh cần, tinh tấn: ‘Dầu cho da, dây gân và xương có khô héo, dầu thịt và máu có héo tàn trên thân tôi, cái gì có thể lấy sức lực của người, tinh tấn của người, nỗ lực của người có thể đạt được; nếu chưa đạt được, thời tinh tấn sẽ không bao giờ dừng nghỉ’. Như vậy, này Moggallāna, là sự tinh cần, tinh tấn”.
Vi-n 11 Như vậy, này Hiền giả, là cuộc pháp thoại giữa Thế Tôn và tôi.
Vi-n 12 Ví như, này Hiền giả, một đống hòn sạn nhỏ đem đặt dài theo Hy-mã-lạp sơn, vua các loài núi. Cũng vậy, là chúng tôi được đem đặt dài theo Tôn giả Mahà Moggallāna. Mong rằng Tôn giả Mahà Moggallāna, bậc đại thần thông, đại uy lực, nếu muốn hãy sống cho đến một kiếp.
Vi-n 13 Ví như, này Hiền giả, một nắm muối nhỏ được đem đặt dài theo một ghè muối lớn. Cũng vậy, là chúng tôi được đem đặt dài theo Tôn giả Sāriputta.
Vi-n 14 Tôn giả Sāriputta được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện xưng tán, tán thán, tán dương:
Như vị Xá-lợi-phất,
Về trí tuệ, giới luật,
Và cả về tịch tịnh,
Ông là bậc đệ nhất.
Tỷ-kheo đạt bỉ ngạn,
Cũng là bậc tối thượng.
Vi-n 15 Như vậy, hai bậc Long Tượng ấy (Nàgà) cùng nhau hoan hỷ, tán thán trong câu chuyện khéo nói, khéo thuyết.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena āyasmā ca sāriputto āyasmā ca mahāmoggallāno rājagahe viharanti veḷuvane kalandakanivāpe ekavihāre.
Atha kho āyasmā sāriputto sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā mahāmoggallāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā mahāmoggallānena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ etadavoca:
“Vippasannāni kho te, āvuso moggallāna, indriyāni;
parisuddho mukhavaṇṇo pariyodāto santena nūnāyasmā mahāmoggallāno ajja vihārena vihāsī”ti.
“Oḷārikena khvāhaṁ, āvuso, ajja vihārena vihāsiṁ.
Api ca me ahosi dhammī kathā”ti.
“Kena saddhiṁ panāyasmato mahāmoggallānassa ahosi dhammī kathā”ti?
“Bhagavatā kho me, āvuso, saddhiṁ ahosi dhammī kathā”ti.
“Dūre kho, āvuso, bhagavā etarahi sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Kiṁ nu kho āyasmā mahāmoggallāno bhagavantaṁ iddhiyā upasaṅkami;
udāhu bhagavā āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ iddhiyā upasaṅkamī”ti?
“Na khvāhaṁ, āvuso, bhagavantaṁ iddhiyā upasaṅkamiṁ;
napi maṁ bhagavā iddhiyā upasaṅkami.
Api ca me yāvatā bhagavā ettāvatā dibbacakkhu visujjhi dibbā ca sotadhātu.
Bhagavatopi yāvatāhaṁ ettāvatā dibbacakkhu visujjhi dibbā ca sotadhātū”ti.
“Yathākathaṁ panāyasmato mahāmoggallānassa bhagavatā saddhiṁ ahosi dhammī kathā”ti?
“Idhāhaṁ, āvuso, bhagavantaṁ etadavocaṁ:
‘āraddhavīriyo āraddhavīriyoti, bhante, vuccati.
Kittāvatā nu kho, bhante, āraddhavīriyo hotī’ti?
Evaṁ vutte, maṁ, āvuso, bhagavā etadavoca:
‘idha, moggallāna, bhikkhu āraddhavīriyo viharati—
kāmaṁ taco ca nhāru ca aṭṭhi ca avasissatu, sarīre upassussatu maṁsalohitaṁ, yaṁ taṁ purisathāmena purisavīriyena purisaparakkamena pattabbaṁ na taṁ apāpuṇitvā vīriyassa saṇṭhānaṁ bhavissatīti.
Evaṁ kho, moggallāna, āraddhavīriyo hotī’ti.
Evaṁ kho me, āvuso, bhagavatā saddhiṁ ahosi dhammī kathā”ti.
“Seyyathāpi, āvuso, himavato pabbatarājassa parittā pāsāṇasakkharā yāvadeva upanikkhepanamattāya;
evameva kho mayaṁ āyasmato mahāmoggallānassa yāvadeva upanikkhepanamattāya.
Āyasmā hi mahāmoggallāno mahiddhiko mahānubhāvo ākaṅkhamāno kappaṁ tiṭṭheyyā”ti.
“Seyyathāpi, āvuso, mahatiyā loṇaghaṭāya parittā loṇasakkharāya yāvadeva upanikkhepanamattāya;
evameva kho mayaṁ āyasmato sāriputtassa yāvadeva upanikkhepanamattāya.
Āyasmā hi sāriputto bhagavatā anekapariyāyena thomito vaṇṇito pasattho:
‘Sāriputtova paññāya,
sīlena upasamena ca;
Yopi pāraṅgato bhikkhu,
etāvaparamo siyā’”ti.
Itiha te ubho mahānāgā aññamaññassa subhāsitaṁ sulapitaṁ samanumodiṁsūti.
Tatiyaṁ.