Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Này Ānanda, nếu Ông được hỏi như sau: “Trong những pháp nào, này Hiền giả Ānanda, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ? Trong những pháp nào sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ? Trong những pháp nào, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ?” Ðược hỏi như vậy, này Ānanda, Ông trả lời như thế nào?
Vi-n 4 —Bạch Thế Tôn, nếu con được hỏi như sau: “Trong những pháp nào, này Hiền giả Ānanda, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ? Trong những pháp nào, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ? Trong những pháp nào, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ?” Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như sau:
Vi-n 5 “Ðối với sắc quá khứ, này Hiền giả, đã đoạn diệt, đã biến hoại, đối với sắc ấy, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ. Ðối với thọ quá khứ, đã đoạn diệt, đã biến hoại, sự sanh khởi của thọ ấy được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ. Ðối với tưởng … Ðối với các hành … Ðối với thức quá khứ, đã đoạn diệt, đã biến hoại, sự sanh khởi của thức ấy đã được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ. Trong những pháp này, này Hiền giả, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ.
Vi-n 6 Ðối với sắc chưa sanh, này Hiền giả, chưa hiện hữu, trong sắc ấy, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ. Ðối với thọ chưa sanh, chưa hiện hữu, trong thọ ấy, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ. Ðối với tưởng … Ðối với các hành … Ðối với thức chưa sanh, chưa hiện hữu, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ. Trong những pháp này, này Hiền giả, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ.
Vi-n 7 Ðối với sắc đã sanh, này Hiền giả, đã hiện hữu, trong sắc ấy, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Ðối với thọ đã sanh, đã hiện hữu … Ðối với tưởng đã sanh, đã hiện hữu … Ðối với các hành đã sanh, đã hiện hữu … Ðối với thức đã sanh, đã hiện hữu, trong thức ấy, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ. Trong những pháp này, này Hiền giả, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ”.
Nếu con được hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như vậy.
Vi-n 8 —Lành thay, lành thay, này Ānanda! Này Ānanda, đối với sắc thuộc quá khứ đã đoạn diệt, đã biến hoại; đối với sắc ấy, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ. Ðối với thọ … Ðối với tưởng … Ðối với các hành … Ðối với thức, thuộc quá khứ đã đoạn diệt, đã biến hoại, trong thức ấy, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự biến mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ. Trong các pháp này, này Ānanda, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự biến mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ.
Vi-n 9 Ðối với sắc chưa sanh, này Ānanda, chưa hiện hữu, trong sắc ấy, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ. Ðối với thọ … Ðối với tưởng … Ðối với các hành … Ðối với thức chưa sanh khởi, chưa hiện hữu, trong thức ấy, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ. Ðối với những pháp này, này Ānanda, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ.
Vi-n 10 Ðối với sắc đã sanh, này Ānanda, đã hiện hữu, đối với sắc ấy, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Ðối với thọ … Ðối với tưởng … Ðối với các hành … Ðối với thức đã sanh, đã hiện hữu, đối với thức ấy, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Trong những pháp này, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Ðược hỏi như vậy, này Ānanda, Ông cần phải trả lời như vậy.
Sāvatthinidānaṁ.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ ānandaṁ bhagavā etadavoca:
“Sace taṁ, ānanda, evaṁ puccheyyuṁ:
‘katamesaṁ, āvuso ānanda, dhammānaṁ uppādo paññāyittha, vayo paññāyittha, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyittha?
Katamesaṁ dhammānaṁ uppādo paññāyissati, vayo paññāyissati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyissati?
Katamesaṁ dhammānaṁ uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyatī’ti?
Evaṁ puṭṭho tvaṁ, ānanda, kinti byākareyyāsī”ti?
“Sace maṁ, bhante, evaṁ puccheyyuṁ:
‘katamesaṁ, āvuso ānanda, dhammānaṁ uppādo paññāyittha, vayo paññāyittha, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyittha?
Katamesaṁ dhammānaṁ uppādo paññāyissati, vayo paññāyissati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyissati?
Katamesaṁ dhammānaṁ uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyatī’ti?
Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyaṁ:
‘yaṁ kho, āvuso, rūpaṁ atītaṁ niruddhaṁ vipariṇataṁ;
tassa uppādo paññāyittha, vayo paññāyittha, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyittha.
Yā vedanā atītā niruddhā vipariṇatā;
tassā uppādo paññāyittha, vayo paññāyittha, ṭhitāya aññathattaṁ paññāyittha.
Yā saññā …
ye saṅkhārā atītā niruddhā vipariṇatā;
tesaṁ uppādo paññāyittha, vayo paññāyittha, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyittha.
Yaṁ viññāṇaṁ atītaṁ niruddhaṁ vipariṇataṁ;
tassa uppādo paññāyittha, vayo paññāyittha, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyittha.
Imesaṁ kho, āvuso, dhammānaṁ uppādo paññāyittha, vayo paññāyittha, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyittha.
Yaṁ kho, āvuso, rūpaṁ ajātaṁ apātubhūtaṁ;
tassa uppādo paññāyissati, vayo paññāyissati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyissati.
Yā vedanā ajātā apātubhūtā;
tassā uppādo paññāyissati, vayo paññāyissati, ṭhitāya aññathattaṁ paññāyissati.
Yā saññā …pe…
ye saṅkhārā ajātā apātubhūtā;
tesaṁ uppādo paññāyissati, vayo paññāyissati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyissati.
Yaṁ viññāṇaṁ ajātaṁ apātubhūtaṁ;
tassa uppādo paññāyissati, vayo paññāyissati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyissati.
Imesaṁ kho, āvuso, dhammānaṁ uppādo paññāyissati, vayo paññāyissati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyissati.
Yaṁ kho, āvuso, rūpaṁ jātaṁ pātubhūtaṁ;
tassa uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyati.
Yā vedanā jātā pātubhūtā …pe…
yā saññā …
ye saṅkhārā jātā pātubhūtā;
tesaṁ uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyati.
Yaṁ viññāṇaṁ jātaṁ pātubhūtaṁ tassa uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyati.
Imesaṁ kho, āvuso, dhammānaṁ uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyatī’ti.
Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyan”ti.
“Sādhu sādhu, ānanda.
Yaṁ kho, ānanda, rūpaṁ atītaṁ niruddhaṁ vipariṇataṁ;
tassa uppādo paññāyittha, vayo paññāyittha, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyittha.
Yā vedanā …
yā saññā …
ye saṅkhārā …
yaṁ viññāṇaṁ atītaṁ niruddhaṁ vipariṇataṁ;
tassa uppādo paññāyittha, vayo paññāyittha, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyittha.
Imesaṁ kho, ānanda, dhammānaṁ uppādo paññāyittha, vayo paññāyittha, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyittha.
Yaṁ kho, ānanda, rūpaṁ ajātaṁ apātubhūtaṁ;
tassa uppādo paññāyissati, vayo paññāyissati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyissati.
Yā vedanā …
yā saññā …
ye saṅkhārā …
yaṁ viññāṇaṁ ajātaṁ apātubhūtaṁ;
tassa uppādo paññāyissati, vayo paññāyissati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyissati.
Imesaṁ kho, ānanda, dhammānaṁ uppādo paññāyissati, vayo paññāyissati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyissati.
Yaṁ kho, ānanda, rūpaṁ jātaṁ pātubhūtaṁ;
tassa uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyati.
Yā vedanā jātā pātubhūtā …
yā saññā …
ye saṅkhārā …
yaṁ viññāṇaṁ jātaṁ pātubhūtaṁ;
tassa uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyati.
Imesaṁ kho, ānanda, dhammānaṁ uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyatīti.
Evaṁ puṭṭho tvaṁ, ānanda, evaṁ byākareyyāsī”ti.
Chaṭṭhaṁ.
SC 1At Savatthi…. The Blessed One then said to the Venerable Ānanda as he was sitting to one side:
SC 2“If, Ānanda, they were to ask you: ‘Friend Ānanda, what are the things of which an arising was discerned, a vanishing was discerned, an alteration of that which stands was discerned? What are the things of which an arising will be discerned, a vanishing will be discerned, an alteration of that which stands will be discerned? What are the things of which an arising is discerned, a vanishing is discerned, an alteration of that which stands is discerned?’—being asked thus, Ānanda, how would you answer?”
SC 3“Venerable sir, if they were to ask me this, sn.iii.39 I would answer thus: ‘Friends, with form that has passed, ceased, changed, an arising was discerned, a vanishing was discerned, an alteration of that which stands was discerned. With feeling … perception … volitional formations … consciousness that has passed, ceased, changed, an arising was discerned, a vanishing was discerned, an alteration of that which stands was discerned. It is of these things, friends, that an arising was discerned, that a vanishing was discerned, that an alteration of that which stands was discerned.
SC 4“‘Friends, with form that has not been born, not become manifest, an arising will be discerned, a vanishing will be discerned, an alteration of that which stands will be discerned. With feeling … perception … volitional formations … consciousness that has not been born, not become manifest, an arising will be discerned, a vanishing will be discerned, an alteration of that which stands will be discerned. It is of these things, friends, that an arising will be discerned, that a vanishing will be discerned, that an alteration of that which stands will be discerned.
SC 5“‘Friends, with form that has been born, that has become manifest, an arising is discerned, a vanishing is discerned, an alteration of that which stands is discerned. With feeling … perception … volitional formations … consciousness that has been born, that has become manifest, an arising is discerned, a vanishing is discerned, an alteration of that which stands is discerned. It is of these things, friends, that an arising is discerned, that a vanishing is discerned, that an alteration of that which stands is discerned.’
SC 6“Being asked thus, venerable sir, I would answer in such a way.”
“Good, good, Ānanda!”
SC 7The Buddha here repeats the entire answer of the Venerable Ānanda, concluding: sn.iii.40
SC 8“Being asked thus, Ānanda, you should answer in such a way.”
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Này Ānanda, nếu Ông được hỏi như sau: “Trong những pháp nào, này Hiền giả Ānanda, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ? Trong những pháp nào sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ? Trong những pháp nào, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ?” Ðược hỏi như vậy, này Ānanda, Ông trả lời như thế nào?
Vi-n 4 —Bạch Thế Tôn, nếu con được hỏi như sau: “Trong những pháp nào, này Hiền giả Ānanda, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ? Trong những pháp nào, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ? Trong những pháp nào, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ?” Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như sau:
Vi-n 5 “Ðối với sắc quá khứ, này Hiền giả, đã đoạn diệt, đã biến hoại, đối với sắc ấy, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ. Ðối với thọ quá khứ, đã đoạn diệt, đã biến hoại, sự sanh khởi của thọ ấy được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ. Ðối với tưởng … Ðối với các hành … Ðối với thức quá khứ, đã đoạn diệt, đã biến hoại, sự sanh khởi của thức ấy đã được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ. Trong những pháp này, này Hiền giả, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ.
Vi-n 6 Ðối với sắc chưa sanh, này Hiền giả, chưa hiện hữu, trong sắc ấy, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ. Ðối với thọ chưa sanh, chưa hiện hữu, trong thọ ấy, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ. Ðối với tưởng … Ðối với các hành … Ðối với thức chưa sanh, chưa hiện hữu, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ. Trong những pháp này, này Hiền giả, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ.
Vi-n 7 Ðối với sắc đã sanh, này Hiền giả, đã hiện hữu, trong sắc ấy, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Ðối với thọ đã sanh, đã hiện hữu … Ðối với tưởng đã sanh, đã hiện hữu … Ðối với các hành đã sanh, đã hiện hữu … Ðối với thức đã sanh, đã hiện hữu, trong thức ấy, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ. Trong những pháp này, này Hiền giả, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ”.
Nếu con được hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như vậy.
Vi-n 8 —Lành thay, lành thay, này Ānanda! Này Ānanda, đối với sắc thuộc quá khứ đã đoạn diệt, đã biến hoại; đối với sắc ấy, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ. Ðối với thọ … Ðối với tưởng … Ðối với các hành … Ðối với thức, thuộc quá khứ đã đoạn diệt, đã biến hoại, trong thức ấy, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự biến mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ. Trong các pháp này, này Ānanda, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự biến mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ.
Vi-n 9 Ðối với sắc chưa sanh, này Ānanda, chưa hiện hữu, trong sắc ấy, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ. Ðối với thọ … Ðối với tưởng … Ðối với các hành … Ðối với thức chưa sanh khởi, chưa hiện hữu, trong thức ấy, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ. Ðối với những pháp này, này Ānanda, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ.
Vi-n 10 Ðối với sắc đã sanh, này Ānanda, đã hiện hữu, đối với sắc ấy, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Ðối với thọ … Ðối với tưởng … Ðối với các hành … Ðối với thức đã sanh, đã hiện hữu, đối với thức ấy, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Trong những pháp này, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Ðược hỏi như vậy, này Ānanda, Ông cần phải trả lời như vậy.
Sāvatthinidānaṁ.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ ānandaṁ bhagavā etadavoca:
“Sace taṁ, ānanda, evaṁ puccheyyuṁ:
‘katamesaṁ, āvuso ānanda, dhammānaṁ uppādo paññāyittha, vayo paññāyittha, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyittha?
Katamesaṁ dhammānaṁ uppādo paññāyissati, vayo paññāyissati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyissati?
Katamesaṁ dhammānaṁ uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyatī’ti?
Evaṁ puṭṭho tvaṁ, ānanda, kinti byākareyyāsī”ti?
“Sace maṁ, bhante, evaṁ puccheyyuṁ:
‘katamesaṁ, āvuso ānanda, dhammānaṁ uppādo paññāyittha, vayo paññāyittha, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyittha?
Katamesaṁ dhammānaṁ uppādo paññāyissati, vayo paññāyissati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyissati?
Katamesaṁ dhammānaṁ uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyatī’ti?
Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyaṁ:
‘yaṁ kho, āvuso, rūpaṁ atītaṁ niruddhaṁ vipariṇataṁ;
tassa uppādo paññāyittha, vayo paññāyittha, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyittha.
Yā vedanā atītā niruddhā vipariṇatā;
tassā uppādo paññāyittha, vayo paññāyittha, ṭhitāya aññathattaṁ paññāyittha.
Yā saññā …
ye saṅkhārā atītā niruddhā vipariṇatā;
tesaṁ uppādo paññāyittha, vayo paññāyittha, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyittha.
Yaṁ viññāṇaṁ atītaṁ niruddhaṁ vipariṇataṁ;
tassa uppādo paññāyittha, vayo paññāyittha, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyittha.
Imesaṁ kho, āvuso, dhammānaṁ uppādo paññāyittha, vayo paññāyittha, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyittha.
Yaṁ kho, āvuso, rūpaṁ ajātaṁ apātubhūtaṁ;
tassa uppādo paññāyissati, vayo paññāyissati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyissati.
Yā vedanā ajātā apātubhūtā;
tassā uppādo paññāyissati, vayo paññāyissati, ṭhitāya aññathattaṁ paññāyissati.
Yā saññā …pe…
ye saṅkhārā ajātā apātubhūtā;
tesaṁ uppādo paññāyissati, vayo paññāyissati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyissati.
Yaṁ viññāṇaṁ ajātaṁ apātubhūtaṁ;
tassa uppādo paññāyissati, vayo paññāyissati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyissati.
Imesaṁ kho, āvuso, dhammānaṁ uppādo paññāyissati, vayo paññāyissati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyissati.
Yaṁ kho, āvuso, rūpaṁ jātaṁ pātubhūtaṁ;
tassa uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyati.
Yā vedanā jātā pātubhūtā …pe…
yā saññā …
ye saṅkhārā jātā pātubhūtā;
tesaṁ uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyati.
Yaṁ viññāṇaṁ jātaṁ pātubhūtaṁ tassa uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyati.
Imesaṁ kho, āvuso, dhammānaṁ uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyatī’ti.
Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyan”ti.
“Sādhu sādhu, ānanda.
Yaṁ kho, ānanda, rūpaṁ atītaṁ niruddhaṁ vipariṇataṁ;
tassa uppādo paññāyittha, vayo paññāyittha, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyittha.
Yā vedanā …
yā saññā …
ye saṅkhārā …
yaṁ viññāṇaṁ atītaṁ niruddhaṁ vipariṇataṁ;
tassa uppādo paññāyittha, vayo paññāyittha, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyittha.
Imesaṁ kho, ānanda, dhammānaṁ uppādo paññāyittha, vayo paññāyittha, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyittha.
Yaṁ kho, ānanda, rūpaṁ ajātaṁ apātubhūtaṁ;
tassa uppādo paññāyissati, vayo paññāyissati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyissati.
Yā vedanā …
yā saññā …
ye saṅkhārā …
yaṁ viññāṇaṁ ajātaṁ apātubhūtaṁ;
tassa uppādo paññāyissati, vayo paññāyissati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyissati.
Imesaṁ kho, ānanda, dhammānaṁ uppādo paññāyissati, vayo paññāyissati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyissati.
Yaṁ kho, ānanda, rūpaṁ jātaṁ pātubhūtaṁ;
tassa uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyati.
Yā vedanā jātā pātubhūtā …
yā saññā …
ye saṅkhārā …
yaṁ viññāṇaṁ jātaṁ pātubhūtaṁ;
tassa uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyati.
Imesaṁ kho, ānanda, dhammānaṁ uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyatīti.
Evaṁ puṭṭho tvaṁ, ānanda, evaṁ byākareyyāsī”ti.
Chaṭṭhaṁ.