Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời, một Tỷ-kheo trú giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ Tỷ-kheo ấy, trong lúc đi nghỉ ban ngày, khởi lên những tư tưởng ác, bất thiện, liên hệ đến gia đình.
Vi-n 3 Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, thương xót Tỷ-kheo ấy, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác, liền đi đến Tỷ-kheo ấy.
Vi-n 4 Sau khi đến, vị Thiện ấy nói lên những bài kệ với vị Tỷ-kheo này:
Ông ước muốn viễn ly,
Ðã sống trong rừng núi,
Nay tâm Ông vọng động,
Dong duổi theo ngoại giới.
Ông đối mặt với Ông,
Hãy chế ngự lòng dục,
Nhờ vậy, Ông hạnh phúc,
Thoát ly được tham ái.
Hãy từ bỏ bất mãn,
Sống an trú chánh niệm,
Ông thành người hiền thiện,
Ðược chúng tôi tán thán.
Trừ bụi trần địa ngục,
Thật rất khó vượt qua,
Ông chớ vận chuyển theo,
Các bụi trần dục vọng,
Như chim, thân dính bụi,
Rung thân khiến bụi rơi.
Cũng vậy vị Tỷ-kheo,
Tinh cần, trú chánh niệm,
Vùng vẫy khiến rơi rớt,
Những bụi đời dính thân.
Vi-n 5 Tỷ-kheo ấy được vị Thiên cảnh giác, tâm hết sức xúc động.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ aññataro bhikkhu kosalesu viharati aññatarasmiṁ vanasaṇḍe.
Tena kho pana samayena so bhikkhu divāvihāragato pāpake akusale vitakke vitakketi gehanissite.
Atha kho yā tasmiṁ vanasaṇḍe adhivatthā devatā tassa bhikkhuno anukampikā atthakāmā taṁ bhikkhuṁ saṁvejetukāmā yena so bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ gāthāhi ajjhabhāsi:
“Vivekakāmosi vanaṁ paviṭṭho,
Atha te mano niccharatī bahiddhā;
Jano janasmiṁ vinayassu chandaṁ,
Tato sukhī hohisi vītarāgo.
Aratiṁ pajahāsi sato,
Bhavāsi sataṁ taṁ sārayāmase;
Pātālarajo hi duttaro,
Mā taṁ kāmarajo avāhari.
Sakuṇo yathā paṁsukunthito,
Vidhunaṁ pātayati sitaṁ rajaṁ;
Evaṁ bhikkhu padhānavā satimā,
Vidhunaṁ pātayati sitaṁ rajan”ti.
Atha kho so bhikkhu tāya devatāya saṁvejito saṁvegamāpādīti.
So I have heard.
At one time one of the mendicants was staying in the land of the Kosalans in a certain forest grove.
Now at that time that mendicant, during their day’s meditation, was thinking bad, unskillful thoughts to do with the domestic life.
The deity haunting that forest had sympathy for that mendicant, and wanted what’s best for them. So they approached that mendicant wanting to stir them up, and addressed them in verse:
“You entered the woods desiring seclusion,
yet your mind strays to outward things.
As a person, dispel the desire for people;
then you’ll be happy, free of greed.
Give up discontent; be mindful;
let us remind you to be mindful.
The dusty abyss is so hard to cross;
don’t let sensual dust drag you down.
Just as a bird strewn with dirt
sheds that clingy dust with a shake;
so too, an energetic, mindful mendicant
sheds that clingy dust with a shake.”
Impelled by that deity, that mendicant was struck with a sense of urgency.
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời, một Tỷ-kheo trú giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ Tỷ-kheo ấy, trong lúc đi nghỉ ban ngày, khởi lên những tư tưởng ác, bất thiện, liên hệ đến gia đình.
Vi-n 3 Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, thương xót Tỷ-kheo ấy, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác, liền đi đến Tỷ-kheo ấy.
Vi-n 4 Sau khi đến, vị Thiện ấy nói lên những bài kệ với vị Tỷ-kheo này:
Ông ước muốn viễn ly,
Ðã sống trong rừng núi,
Nay tâm Ông vọng động,
Dong duổi theo ngoại giới.
Ông đối mặt với Ông,
Hãy chế ngự lòng dục,
Nhờ vậy, Ông hạnh phúc,
Thoát ly được tham ái.
Hãy từ bỏ bất mãn,
Sống an trú chánh niệm,
Ông thành người hiền thiện,
Ðược chúng tôi tán thán.
Trừ bụi trần địa ngục,
Thật rất khó vượt qua,
Ông chớ vận chuyển theo,
Các bụi trần dục vọng,
Như chim, thân dính bụi,
Rung thân khiến bụi rơi.
Cũng vậy vị Tỷ-kheo,
Tinh cần, trú chánh niệm,
Vùng vẫy khiến rơi rớt,
Những bụi đời dính thân.
Vi-n 5 Tỷ-kheo ấy được vị Thiên cảnh giác, tâm hết sức xúc động.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ aññataro bhikkhu kosalesu viharati aññatarasmiṁ vanasaṇḍe.
Tena kho pana samayena so bhikkhu divāvihāragato pāpake akusale vitakke vitakketi gehanissite.
Atha kho yā tasmiṁ vanasaṇḍe adhivatthā devatā tassa bhikkhuno anukampikā atthakāmā taṁ bhikkhuṁ saṁvejetukāmā yena so bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ gāthāhi ajjhabhāsi:
“Vivekakāmosi vanaṁ paviṭṭho,
Atha te mano niccharatī bahiddhā;
Jano janasmiṁ vinayassu chandaṁ,
Tato sukhī hohisi vītarāgo.
Aratiṁ pajahāsi sato,
Bhavāsi sataṁ taṁ sārayāmase;
Pātālarajo hi duttaro,
Mā taṁ kāmarajo avāhari.
Sakuṇo yathā paṁsukunthito,
Vidhunaṁ pātayati sitaṁ rajaṁ;
Evaṁ bhikkhu padhānavā satimā,
Vidhunaṁ pātayati sitaṁ rajan”ti.
Atha kho so bhikkhu tāya devatāya saṁvejito saṁvegamāpādīti.