Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ nhiều Tỷ-kheo đang làm y cho Thế Tôn, nghĩ rằng: “Khi y xong, Thế Tôn sau ba tháng sẽ ra đi, du hành”.
Vi-n 3 Lúc bấy giờ, Isidatta và Purāna, hai người thợ mộc trú ở Sàdhuka vì một vài công việc phải làm. Hai người thợ mộc Isidatta và Purāna nghe rằng nhiều Tỷ-kheo đang làm y cho Thế Tôn, khi y làm xong, Thế Tôn sau ba tháng sẽ ra đi, du hành.
Vi-n 4 Rồi hai thợ mộc Isidatta và Purāna đặt một người đứng ở giữa đường và dặn:
—Này Ông, khi nào Ông thấy Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đi đến, hãy báo tin cho chúng tôi biết.
Vi-n 5 Sau khi đứng hai, ba ngày, người ấy thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy liền đi đến hai người thợ mộc Isidatta và Purāna và nói với họ:
—Thưa Quý vị, bậc Thế Tôn ấy đã đến, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Nay là thời Quý vị nghĩ phải làm gì.
Vi-n 6 Rồi hai người thợ mộc Isidatta và Purāna đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đi theo sau lưng Thế Tôn.
Vi-n 7 Rồi Thế Tôn đi xuống đường, đến một gốc cây; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Isidatta và Purāna đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, hai người thợ mộc Isidatta và Purāna bạch Thế Tôn:
Vi-n 8 —Bạch Thế Tôn, khi chúng con được nghe: “Thế Tôn sẽ đi khỏi Sāvatthi để du hành giữa dân chúng Kosala”; khi ấy, chúng con không được hoan hỷ, có sự ưu buồn, nghĩ rằng: “Thế Tôn sẽ ở xa chúng ta”. Và khi, bạch Thế Tôn, chúng con được nghe: “Thế Tôn đã đi khỏi Sāvatthi, đang du hành giữa dân chúng Kosala”; khi ấy, chúng con không được hoan hỷ, có sự ưu buồn, nghĩ rằng: “Thế Tôn đã ở xa chúng ta”.
Vi-n 9 Bạch Thế Tôn, khi chúng con được nghe: “Thế Tôn sẽ đi khỏi dân chúng Kosala để du hành giữa dân chúng Malla”; khi ấy, chúng con không hoan hỷ, có ưu buồn, nghĩ rằng: “Thế Tôn sẽ ở xa chúng ta”. Và khi, bạch Thế Tôn, chúng con được nghe: “Thế Tôn đã ra đi khỏi dân chúng Kosala, và đang du hành giữa dân chúng Malla”; khi ấy, chúng con không hoan hỷ, có ưu buồn, nghĩ rằng: “Thế Tôn đã ở xa chúng ta”.
Vi-n 10 Bạch Thế Tôn, khi chúng con được nghe: “Thế Tôn sẽ ra đi khỏi dân chúng Malla để du hành giữa dân chúng Vajjī”; khi ấy, chúng con không hoan hỷ, có ưu buồn, nghĩ rằng: “Thế Tôn sẽ ở xa chúng ta”; Và khi, bạch Thế Tôn, chúng con được nghe: “Thế Tôn đã ra đi khỏi dân chúng Malla, và đang du hành giữa dân chúng Vajjī”; khi ấy, chúng con không hoan hỷ, có ưu buồn, nghĩ rằng: “Thế Tôn đã ở xa chúng ta”.
Vi-n 11 Bạch Thế Tôn, khi chúng con được nghe: “Thế Tôn sẽ ra đi khỏi dân chúng Vajjī để du hành giữa dân chúng Kāsi”; khi ấy, chúng con không hoan hỷ, có ưu buồn, nghĩ rằng: “Thế Tôn sẽ ở xa chúng ta”. Và khi, bạch Thế Tôn, chúng con được nghe: “Thế Tôn đã ra đi khỏi dân chúng Vajjī, và đang du hành giữa dân chúng Kāsi”; khi ấy, chúng con không hoan hỷ, có ưu buồn, nghĩ rằng: “Thế Tôn đã ở xa chúng ta”.
Vi-n 12 Bạch Thế Tôn, khi chúng con được nghe: “Thế Tôn sẽ ra đi khỏi dân chúng Kāsi để du hành giữa dân chúng Magadha”; khi ấy, chúng con không hoan hỷ, có ưu buồn, nghĩ rằng: “Thế Tôn sẽ ở xa chúng ta”. Và khi, bạch Thế Tôn, chúng con được nghe: “Thế Tôn đã ra đi khỏi dân chúng Kāsi, và đang du hành giữa dân chúng Magadha”; khi ấy, chúng con không hoan hỷ, có ưu buồn, nghĩ rằng: “Thế Tôn đã ở xa chúng ta”.
Vi-n 13 Bạch Thế Tôn, khi chúng con được nghe: “Thế Tôn sẽ ra đi khỏi dân chúng Magadha để du hành giữa dân chúng Kāsi”; khi ấy, chúng con được vui vẻ, có sự hoan hỷ, nghĩ rằng: “Thế Tôn sẽ ở gần chúng ta”. Khi chúng con được nghe: “Thế Tôn đã ra đi khỏi dân chúng Magadha và đang du hành ở Kāsi”; khi ấy, chúng con được vui vẻ, có sự hoan hỷ, (nghĩ rằng): “Thế Tôn đã ở gần chúng ta”.
Vi-n 14 … “khỏi dân chúng Kāsi để du hành ở giữa dân chúng Vajjī.”.
Vi-n 15 … “khỏi dân chúng Vajjī để du hành ở giữa dân chúng Malla.”.
Vi-n 16 … “khỏi dân chúng Malla để du hành ở giữa dân chúng Kosala.”.
Vi-n 17 Bạch Thế Tôn, khi chúng con được nghe: “Thế Tôn sẽ ra đi khỏi dân chúng Kosala, để du hành giữa dân chúng Sāvatthi”; khi ấy, chúng con được vui vẻ, có sự hoan hỷ, (nghĩ rằng): “Thế Tôn sẽ ở gần chúng ta”. Khi chúng con được nghe: “Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Thắng Lâm, khu vườn ông Anāthapiṇḍika”; khi ấy vô lượng là sự vui vẻ của chúng con, vô lượng là hoan hỷ của chúng con (nghĩ rằng): “Thế Tôn đã ở gần chúng ta”.
Vi-n 18 —Do vậy, này các người Thợ mộc, chật hẹp là đời sống ở gia đình, đầy những bụi đời! Phóng khoáng giữa trời là đời sống người xuất gia! Như vậy là vừa đủ, này các người Thợ mộc, để các Ông không có phóng dật.
Vi-n 19 —Nhưng bạch Thế Tôn, ở đây chúng con có đàn áp khác, còn áp bức hơn, còn bội phần áp bức hơn.
—Thế nào là sự đàn áp khác, này các người Thợ mộc, còn áp bức hơn, còn bội phần hơn?
Vi-n 20 —Ở đây, bạch Thế Tôn, khi vua Pasenadi nước Kosala muốn đi ra viếng thăm khu vườn, thời các con voi của vua Pasenadi nước Kosala cần phải được chúng con chuẩn bị và trang sức, và các cung phi khả ái, khả ý của vua Pasenadi nước Kosala cần phải có chúng con đặt ngồi một người ngồi trước, một người ngồi sau. Bạch Thế Tôn, mùi hương của các cung phi ấy thật là thơm ngọt như một hộp nước hoa vừa được mở ra, các cung phi của vua được ướp với mùi thơm như vậy. Lại nữa, bạch Thế Tôn, thân xúc các cung phi này thật là mềm dịu như một túm bông hoa hồng, vì họ được nuôi dưỡng rất an lạc. Bạch Thế Tôn, trong lúc ấy, chúng con cần phải hộ trì cho voi, cần phải hộ trì cho các cung phi, cần phải hộ trì cho tự ngã nữa.
Vi-n 21 Dầu vậy, bạch Thế Tôn, chúng con không rõ biết sự khởi lên ái tâm đối với các cung phi ấy. Ðây, bạch Thế Tôn, là đàn áp khác, còn áp bức hơn, còn bội phần áp bức hơn!
Vi-n 22 —Do vậy, này các người Thợ mộc, chật hẹp là đời sống ở gia đình, đầy những bụi đời! Phóng khoáng giữa trời là đời sống người xuất gia! Như vậy là vừa đủ, này các người Thợ mộc, để các Người không có phóng dật!
Vi-n 23 Này các người Thợ mộc, thành tựu bốn pháp, vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Thế nào là bốn?
Vi-n 24 Ở đây, này các người Thợ mộc, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động đối với đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng, … Phật, Thế Tôn” … đối với Pháp … đối với chúng Tăng … Vị ấy sống ở gia đình, với tâm gột sạch cấu uế, xan tham. Vị ấy thường bố thí, bàn tay rộng mở, ưa thích từ bỏ, thích được nhờ cậy, thích thú chia xẻ vật được bố thí. Thành tựu bốn pháp này, này các người Thợ mộc, vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.
Vi-n 25 Này các người Thợ mộc, các Người thành tựu lòng tin bất động đối với đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng, … Phật, Thế Tôn” … đối với Pháp … đối với chúng Tăng. Trong gia đình các Người, phàm có vật được bố thí nào, tất cả đều được chia xẻ hoàn toàn và vô tư cho những vị có trì giới và các thiện nhân.
Vi-n 26 Các Ông nghĩ thế nào, này các người Thợ mộc, có bao nhiêu người ở tại Kosala có thể ngang bằng các Ông về phần chia vật bố thí?
Vi-n 27 —Thật lợi đắc cho chúng con, bạch Thế Tôn! Thật khéo lợi đắc cho chúng con, bạch Thế Tôn, được Thế Tôn biết chúng con như vậy!
Sāvatthinidānaṁ.
Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū bhagavato cīvarakammaṁ karonti:
“niṭṭhitacīvaro bhagavā temāsaccayena cārikaṁ pakkamissatī”ti.
Tena kho pana samayena isidattapurāṇā thapatayo sādhuke paṭivasanti kenacideva karaṇīyena.
Assosuṁ kho isidattapurāṇā thapatayo:
“sambahulā kira bhikkhū bhagavato cīvarakammaṁ karonti:
‘niṭṭhitacīvaro bhagavā temāsaccayena cārikaṁ pakkamissatī’”ti.
Atha kho isidattapurāṇā thapatayo magge purisaṁ ṭhapesuṁ:
“yadā tvaṁ, ambho purisa, passeyyāsi bhagavantaṁ āgacchantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ, atha amhākaṁ āroceyyāsī”ti.
Dvīhatīhaṁ ṭhito kho so puriso addasa bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ.
Disvāna yena isidattapurāṇā thapatayo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā isidattapurāṇe thapatayo etadavoca:
“ayaṁ so, bhante, bhagavā āgacchati arahaṁ sammāsambuddho.
Yassadāni kālaṁ maññathā”ti.
Atha kho isidattapurāṇā thapatayo yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā bhagavantaṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandhiṁsu.
Atha kho bhagavā maggā okkamma yena aññataraṁ rukkhamūlaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Isidattapurāṇā thapatayo bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
Ekamantaṁ nisinnā kho te isidattapurāṇā thapatayo bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“Yadā mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘sāvatthiyā kosalesu cārikaṁ pakkamissatī’ti, hoti no tasmiṁ samaye anattamanatā hoti domanassaṁ:
‘dūre no bhagavā bhavissatī’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘sāvatthiyā kosalesu cārikaṁ pakkanto’ti, hoti no tasmiṁ samaye anattamanatā hoti domanassaṁ:
‘dūre no bhagavā’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘kosalehi mallesu cārikaṁ pakkamissatī’ti, hoti no tasmiṁ samaye anattamanatā hoti domanassaṁ:
‘dūre no bhagavā bhavissatī’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘kosalehi mallesu cārikaṁ pakkanto’ti, hoti no tasmiṁ samaye anattamanatā hoti domanassaṁ:
‘dūre no bhagavā’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘mallehi vajjīsu cārikaṁ pakkamissatī’ti, hoti no tasmiṁ samaye anattamanatā hoti domanassaṁ:
‘dūre no bhagavā bhavissatī’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘mallehi vajjīsu cārikaṁ pakkanto’ti, hoti no tasmiṁ samaye anattamanatā hoti domanassaṁ:
‘dūre no bhagavā’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘vajjīhi kāsīsu cārikaṁ pakkamissatī’ti, hoti no tasmiṁ samaye anattamanatā hoti domanassaṁ:
‘dūre no bhagavā bhavissatī’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘vajjīhi kāsīsu cārikaṁ pakkanto’ti, hoti no tasmiṁ samaye anattamanatā hoti domanassaṁ:
‘dūre no bhagavā’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘kāsīhi māgadhe cārikaṁ pakkamissatī’ti, hoti no tasmiṁ samaye anattamanatā hoti domanassaṁ:
‘dūre no bhagavā bhavissatī’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘kāsīhi māgadhe cārikaṁ pakkanto’ti, hoti anappakā no tasmiṁ samaye anattamanatā hoti anappakaṁ domanassaṁ:
‘dūre no bhagavā’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘māgadhehi kāsīsu cārikaṁ pakkamissatī’ti, hoti no tasmiṁ samaye attamanatā hoti somanassaṁ:
‘āsanne no bhagavā bhavissatī’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘māgadhehi kāsīsu cārikaṁ pakkanto’ti, hoti no tasmiṁ samaye attamanatā hoti somanassaṁ:
‘āsanne no bhagavā’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘kāsīhi vajjīsu cārikaṁ pakkamissatī’ti, hoti no tasmiṁ samaye attamanatā hoti somanassaṁ:
‘āsanne no bhagavā bhavissatī’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘kāsīhi vajjīsu cārikaṁ pakkanto’ti, hoti no tasmiṁ samaye attamanatā hoti somanassaṁ:
‘āsanne no bhagavā’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘vajjīhi mallesu cārikaṁ pakkamissatī’ti, hoti no tasmiṁ samaye attamanatā hoti somanassaṁ:
‘āsanne no bhagavā bhavissatī’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘vajjīhi mallesu cārikaṁ pakkanto’ti, hoti no tasmiṁ samaye attamanatā hoti somanassaṁ:
‘āsanne no bhagavā’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘mallehi kosale cārikaṁ pakkamissatī’ti, hoti no tasmiṁ samaye attamanatā hoti somanassaṁ:
‘āsanne no bhagavā bhavissatī’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘mallehi kosale cārikaṁ pakkanto’ti, hoti no tasmiṁ samaye attamanatā hoti somanassaṁ:
‘āsanne no bhagavā’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘kosalehi sāvatthiṁ cārikaṁ pakkamissatī’ti, hoti no tasmiṁ samaye attamanatā hoti somanassaṁ:
‘āsanne no bhagavā bhavissatī’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme’ti, hoti anappakā no tasmiṁ samaye attamanatā hoti anappakaṁ somanassaṁ:
‘āsanne no bhagavā’”ti.
“Tasmātiha, thapatayo, sambādho gharāvāso rajāpatho, abbhokāso pabbajjā.
Alañca pana vo, thapatayo, appamādāyā”ti.
“Atthi kho no, bhante, etamhā sambādhā añño sambādho sambādhataro ceva sambādhasaṅkhātataro cā”ti.
“Katamo pana vo, thapatayo, etamhā sambādhā añño sambādho sambādhataro ceva sambādhasaṅkhātataro cā”ti?
“Idha mayaṁ, bhante, yadā rājā pasenadi kosalo uyyānabhūmiṁ niyyātukāmo hoti, ye te rañño pasenadissa kosalassa nāgā opavayhā te kappetvā, yā tā rañño pasenadissa kosalassa pajāpatiyo piyā manāpā tā ekaṁ purato ekaṁ pacchato nisīdāpema.
Tāsaṁ kho pana, bhante, bhaginīnaṁ evarūpo gandho hoti, seyyathāpi nāma gandhakaraṇḍakassa tāvadeva vivariyamānassa, yathā taṁ rājakaññānaṁ gandhena vibhūsitānaṁ.
Tāsaṁ kho pana, bhante, bhaginīnaṁ evarūpo kāyasamphasso hoti, seyyathāpi nāma tūlapicuno vā kappāsapicuno vā, yathā taṁ rājakaññānaṁ sukhedhitānaṁ.
Tasmiṁ kho pana, bhante, samaye nāgopi rakkhitabbo hoti, tāpi bhaginiyo rakkhitabbā honti, attāpi rakkhitabbo hoti.
Na kho pana mayaṁ, bhante, abhijānāma tāsu bhaginīsu pāpakaṁ cittaṁ uppādetā.
Ayaṁ kho no, bhante, etamhā sambādhā añño sambādho sambādhataro ceva sambādhasaṅkhātataro cā”ti.
“Tasmātiha, thapatayo, sambādho gharāvāso rajāpatho, abbhokāso pabbajjā.
Alañca pana vo, thapatayo, appamādāya.
Catūhi kho, thapatayo, dhammehi samannāgato ariyasāvako sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo.
Katamehi catūhi?
Idha, thapatayo, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe …pe…
vigatamalamaccherena cetasā ajjhāgāraṁ vasati muttacāgo payatapāṇi vossaggarato yācayogo dānasaṁvibhāgarato.
Imehi kho, thapatayo, catūhi dhammehi samannāgato ariyasāvako sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo.
Tumhe kho, thapatayo, buddhe aveccappasādena samannāgatā—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe …pe…
yaṁ kho pana kiñci kule deyyadhammaṁ sabbaṁ taṁ appaṭivibhattaṁ sīlavantehi kalyāṇadhammehi.
Taṁ kiṁ maññatha, thapatayo,
katividhā te kosalesu manussā ye tumhākaṁ samasamā, yadidaṁ—
dānasaṁvibhāge”ti?
“Lābhā no, bhante, suladdhaṁ no, bhante.
Yesaṁ no bhagavā evaṁ pajānātī”ti.
Chaṭṭhaṁ.
At Sāvatthī.
At that time several mendicants were making a robe for the Buddha, thinking that
when his robe was finished and the three months of the rains residence had passed the Buddha would set out wandering.
Now at that time the chamberlains Isidatta and Purāṇa were residing in Sādhuka on some business.
They heard about this.
So they posted someone on the road, saying:
“My friend, let us know when you see the Blessed One coming, the perfected one, the fully awakened Buddha.”
And that person stood there for two or three days before they saw the Buddha coming off in the distance.
When they saw him, they went to the chamberlains and said:
“Sirs, the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha is coming.
Please come at your convenience.”
Then the chamberlains went up to the Buddha, bowed, and followed behind him.
And then the Buddha left the road, went to the root of a certain tree, and sat down on the seat spread out.
The chamberlains Isidatta and Purāṇa bowed, sat down to one side,
and said to the Buddha:
“Sir, when we hear that
you will be setting out from Sāvatthī to wander in the Kosalan lands, we’re sad and upset, thinking that
you will be far from us.
And when we hear that
you are setting out from Sāvatthī to wander in the Kosalan lands, we’re sad and upset, thinking that
you are far from us.
And when we hear that
you will be setting out from the Kosalan lands to wander in the Mallian lands, we’re sad and upset, thinking that
you will be far from us.
And when we hear that
you are setting out from the Kosalan lands to wander in the Mallian lands, we’re sad and upset, thinking that
you are far from us.
And when we hear that
you will be setting out from the Mallian lands to wander in the Vajjian lands …
you will be setting out from the Vajjian lands to wander in the Kāsian lands …
you will be setting out from the Kāsian lands to wander in the Magadhan lands …
you are setting out from the Kāsian lands to wander in the Magadhan lands, we’re sad and upset, thinking that
you are far from us.
But when we hear that
you will be setting out from the Magadhan lands to wander in the Kāsian lands, we’re happy and joyful, thinking that
you will be near to us.
And when we hear that
you are setting out from the Magadhan lands to wander in the Kāsian lands …
you will be setting out from the Kāsian lands to wander in the Vajjian lands …
you will be setting out from the Vajjian lands to wander in the Mallian lands …
you will be setting out from the Mallian lands to wander in the Kosalan lands …
you will be setting out in the Kosalan lands to wander to Sāvatthī, we’re happy and joyful, thinking that
you will be near to us.
And when we hear that
you are staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery we have no little happiness and joy, thinking that
you are near to us.”
“Well then, chamberlains, life at home is cramped and dirty, life gone forth is wide open.
Just this much is enough for diligence.”
“Sir, for us there is something that’s even more cramped than that, and is considered as such.”
“What is that?”
“Sir, it’s when King Pasenadi of Kosala wants to go and visit a park. We have to harness and prepare his royal elephants. Then we have to seat his dear and beloved wives on the elephants, one in front of us, and one behind.
Those sisters smell like a freshly opened perfume box; that’s how the royal ladies smell with makeup on.
The touch of those sisters is like a tuft of cotton-wool or kapok; that’s how dainty the royal ladies are.
Now at that time we must look after the elephants, the sisters, and ourselves.
But we don’t recall having a bad thought regarding those sisters.
This is that thing that’s even more cramped than that, and is considered as such.”
“Well then, chamberlains, life at home is cramped and dirty, life gone forth is wide open.
Just this much is enough for diligence.
A noble disciple who has four things is a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, destined for awakening.
What four?
It’s when a noble disciple has experiential confidence in the Buddha …
the teaching …
the Saṅgha …
They live at home rid of the stain of stinginess, freely generous, open-handed, loving to let go, committed to charity, loving to give and to share.
A noble disciple who has these four things is a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, destined for awakening.
And you have experiential confidence in the Buddha …
the teaching …
the Saṅgha …
And whatever there is in your family that’s available to give, you share it all with those who are ethical, of good character.
What do you think, chamberlains?
How many people among the Kosalans are your equal
when it comes to giving and sharing?”
“We’re fortunate, sir, so very fortunate,
in that the Buddha understands us like this.”
Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ nhiều Tỷ-kheo đang làm y cho Thế Tôn, nghĩ rằng: “Khi y xong, Thế Tôn sau ba tháng sẽ ra đi, du hành”.
Vi-n 3 Lúc bấy giờ, Isidatta và Purāna, hai người thợ mộc trú ở Sàdhuka vì một vài công việc phải làm. Hai người thợ mộc Isidatta và Purāna nghe rằng nhiều Tỷ-kheo đang làm y cho Thế Tôn, khi y làm xong, Thế Tôn sau ba tháng sẽ ra đi, du hành.
Vi-n 4 Rồi hai thợ mộc Isidatta và Purāna đặt một người đứng ở giữa đường và dặn:
—Này Ông, khi nào Ông thấy Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đi đến, hãy báo tin cho chúng tôi biết.
Vi-n 5 Sau khi đứng hai, ba ngày, người ấy thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy liền đi đến hai người thợ mộc Isidatta và Purāna và nói với họ:
—Thưa Quý vị, bậc Thế Tôn ấy đã đến, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Nay là thời Quý vị nghĩ phải làm gì.
Vi-n 6 Rồi hai người thợ mộc Isidatta và Purāna đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đi theo sau lưng Thế Tôn.
Vi-n 7 Rồi Thế Tôn đi xuống đường, đến một gốc cây; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Isidatta và Purāna đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, hai người thợ mộc Isidatta và Purāna bạch Thế Tôn:
Vi-n 8 —Bạch Thế Tôn, khi chúng con được nghe: “Thế Tôn sẽ đi khỏi Sāvatthi để du hành giữa dân chúng Kosala”; khi ấy, chúng con không được hoan hỷ, có sự ưu buồn, nghĩ rằng: “Thế Tôn sẽ ở xa chúng ta”. Và khi, bạch Thế Tôn, chúng con được nghe: “Thế Tôn đã đi khỏi Sāvatthi, đang du hành giữa dân chúng Kosala”; khi ấy, chúng con không được hoan hỷ, có sự ưu buồn, nghĩ rằng: “Thế Tôn đã ở xa chúng ta”.
Vi-n 9 Bạch Thế Tôn, khi chúng con được nghe: “Thế Tôn sẽ đi khỏi dân chúng Kosala để du hành giữa dân chúng Malla”; khi ấy, chúng con không hoan hỷ, có ưu buồn, nghĩ rằng: “Thế Tôn sẽ ở xa chúng ta”. Và khi, bạch Thế Tôn, chúng con được nghe: “Thế Tôn đã ra đi khỏi dân chúng Kosala, và đang du hành giữa dân chúng Malla”; khi ấy, chúng con không hoan hỷ, có ưu buồn, nghĩ rằng: “Thế Tôn đã ở xa chúng ta”.
Vi-n 10 Bạch Thế Tôn, khi chúng con được nghe: “Thế Tôn sẽ ra đi khỏi dân chúng Malla để du hành giữa dân chúng Vajjī”; khi ấy, chúng con không hoan hỷ, có ưu buồn, nghĩ rằng: “Thế Tôn sẽ ở xa chúng ta”; Và khi, bạch Thế Tôn, chúng con được nghe: “Thế Tôn đã ra đi khỏi dân chúng Malla, và đang du hành giữa dân chúng Vajjī”; khi ấy, chúng con không hoan hỷ, có ưu buồn, nghĩ rằng: “Thế Tôn đã ở xa chúng ta”.
Vi-n 11 Bạch Thế Tôn, khi chúng con được nghe: “Thế Tôn sẽ ra đi khỏi dân chúng Vajjī để du hành giữa dân chúng Kāsi”; khi ấy, chúng con không hoan hỷ, có ưu buồn, nghĩ rằng: “Thế Tôn sẽ ở xa chúng ta”. Và khi, bạch Thế Tôn, chúng con được nghe: “Thế Tôn đã ra đi khỏi dân chúng Vajjī, và đang du hành giữa dân chúng Kāsi”; khi ấy, chúng con không hoan hỷ, có ưu buồn, nghĩ rằng: “Thế Tôn đã ở xa chúng ta”.
Vi-n 12 Bạch Thế Tôn, khi chúng con được nghe: “Thế Tôn sẽ ra đi khỏi dân chúng Kāsi để du hành giữa dân chúng Magadha”; khi ấy, chúng con không hoan hỷ, có ưu buồn, nghĩ rằng: “Thế Tôn sẽ ở xa chúng ta”. Và khi, bạch Thế Tôn, chúng con được nghe: “Thế Tôn đã ra đi khỏi dân chúng Kāsi, và đang du hành giữa dân chúng Magadha”; khi ấy, chúng con không hoan hỷ, có ưu buồn, nghĩ rằng: “Thế Tôn đã ở xa chúng ta”.
Vi-n 13 Bạch Thế Tôn, khi chúng con được nghe: “Thế Tôn sẽ ra đi khỏi dân chúng Magadha để du hành giữa dân chúng Kāsi”; khi ấy, chúng con được vui vẻ, có sự hoan hỷ, nghĩ rằng: “Thế Tôn sẽ ở gần chúng ta”. Khi chúng con được nghe: “Thế Tôn đã ra đi khỏi dân chúng Magadha và đang du hành ở Kāsi”; khi ấy, chúng con được vui vẻ, có sự hoan hỷ, (nghĩ rằng): “Thế Tôn đã ở gần chúng ta”.
Vi-n 14 … “khỏi dân chúng Kāsi để du hành ở giữa dân chúng Vajjī.”.
Vi-n 15 … “khỏi dân chúng Vajjī để du hành ở giữa dân chúng Malla.”.
Vi-n 16 … “khỏi dân chúng Malla để du hành ở giữa dân chúng Kosala.”.
Vi-n 17 Bạch Thế Tôn, khi chúng con được nghe: “Thế Tôn sẽ ra đi khỏi dân chúng Kosala, để du hành giữa dân chúng Sāvatthi”; khi ấy, chúng con được vui vẻ, có sự hoan hỷ, (nghĩ rằng): “Thế Tôn sẽ ở gần chúng ta”. Khi chúng con được nghe: “Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Thắng Lâm, khu vườn ông Anāthapiṇḍika”; khi ấy vô lượng là sự vui vẻ của chúng con, vô lượng là hoan hỷ của chúng con (nghĩ rằng): “Thế Tôn đã ở gần chúng ta”.
Vi-n 18 —Do vậy, này các người Thợ mộc, chật hẹp là đời sống ở gia đình, đầy những bụi đời! Phóng khoáng giữa trời là đời sống người xuất gia! Như vậy là vừa đủ, này các người Thợ mộc, để các Ông không có phóng dật.
Vi-n 19 —Nhưng bạch Thế Tôn, ở đây chúng con có đàn áp khác, còn áp bức hơn, còn bội phần áp bức hơn.
—Thế nào là sự đàn áp khác, này các người Thợ mộc, còn áp bức hơn, còn bội phần hơn?
Vi-n 20 —Ở đây, bạch Thế Tôn, khi vua Pasenadi nước Kosala muốn đi ra viếng thăm khu vườn, thời các con voi của vua Pasenadi nước Kosala cần phải được chúng con chuẩn bị và trang sức, và các cung phi khả ái, khả ý của vua Pasenadi nước Kosala cần phải có chúng con đặt ngồi một người ngồi trước, một người ngồi sau. Bạch Thế Tôn, mùi hương của các cung phi ấy thật là thơm ngọt như một hộp nước hoa vừa được mở ra, các cung phi của vua được ướp với mùi thơm như vậy. Lại nữa, bạch Thế Tôn, thân xúc các cung phi này thật là mềm dịu như một túm bông hoa hồng, vì họ được nuôi dưỡng rất an lạc. Bạch Thế Tôn, trong lúc ấy, chúng con cần phải hộ trì cho voi, cần phải hộ trì cho các cung phi, cần phải hộ trì cho tự ngã nữa.
Vi-n 21 Dầu vậy, bạch Thế Tôn, chúng con không rõ biết sự khởi lên ái tâm đối với các cung phi ấy. Ðây, bạch Thế Tôn, là đàn áp khác, còn áp bức hơn, còn bội phần áp bức hơn!
Vi-n 22 —Do vậy, này các người Thợ mộc, chật hẹp là đời sống ở gia đình, đầy những bụi đời! Phóng khoáng giữa trời là đời sống người xuất gia! Như vậy là vừa đủ, này các người Thợ mộc, để các Người không có phóng dật!
Vi-n 23 Này các người Thợ mộc, thành tựu bốn pháp, vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Thế nào là bốn?
Vi-n 24 Ở đây, này các người Thợ mộc, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động đối với đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng, … Phật, Thế Tôn” … đối với Pháp … đối với chúng Tăng … Vị ấy sống ở gia đình, với tâm gột sạch cấu uế, xan tham. Vị ấy thường bố thí, bàn tay rộng mở, ưa thích từ bỏ, thích được nhờ cậy, thích thú chia xẻ vật được bố thí. Thành tựu bốn pháp này, này các người Thợ mộc, vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.
Vi-n 25 Này các người Thợ mộc, các Người thành tựu lòng tin bất động đối với đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng, … Phật, Thế Tôn” … đối với Pháp … đối với chúng Tăng. Trong gia đình các Người, phàm có vật được bố thí nào, tất cả đều được chia xẻ hoàn toàn và vô tư cho những vị có trì giới và các thiện nhân.
Vi-n 26 Các Ông nghĩ thế nào, này các người Thợ mộc, có bao nhiêu người ở tại Kosala có thể ngang bằng các Ông về phần chia vật bố thí?
Vi-n 27 —Thật lợi đắc cho chúng con, bạch Thế Tôn! Thật khéo lợi đắc cho chúng con, bạch Thế Tôn, được Thế Tôn biết chúng con như vậy!
Sāvatthinidānaṁ.
Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū bhagavato cīvarakammaṁ karonti:
“niṭṭhitacīvaro bhagavā temāsaccayena cārikaṁ pakkamissatī”ti.
Tena kho pana samayena isidattapurāṇā thapatayo sādhuke paṭivasanti kenacideva karaṇīyena.
Assosuṁ kho isidattapurāṇā thapatayo:
“sambahulā kira bhikkhū bhagavato cīvarakammaṁ karonti:
‘niṭṭhitacīvaro bhagavā temāsaccayena cārikaṁ pakkamissatī’”ti.
Atha kho isidattapurāṇā thapatayo magge purisaṁ ṭhapesuṁ:
“yadā tvaṁ, ambho purisa, passeyyāsi bhagavantaṁ āgacchantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ, atha amhākaṁ āroceyyāsī”ti.
Dvīhatīhaṁ ṭhito kho so puriso addasa bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ.
Disvāna yena isidattapurāṇā thapatayo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā isidattapurāṇe thapatayo etadavoca:
“ayaṁ so, bhante, bhagavā āgacchati arahaṁ sammāsambuddho.
Yassadāni kālaṁ maññathā”ti.
Atha kho isidattapurāṇā thapatayo yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā bhagavantaṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandhiṁsu.
Atha kho bhagavā maggā okkamma yena aññataraṁ rukkhamūlaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Isidattapurāṇā thapatayo bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
Ekamantaṁ nisinnā kho te isidattapurāṇā thapatayo bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“Yadā mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘sāvatthiyā kosalesu cārikaṁ pakkamissatī’ti, hoti no tasmiṁ samaye anattamanatā hoti domanassaṁ:
‘dūre no bhagavā bhavissatī’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘sāvatthiyā kosalesu cārikaṁ pakkanto’ti, hoti no tasmiṁ samaye anattamanatā hoti domanassaṁ:
‘dūre no bhagavā’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘kosalehi mallesu cārikaṁ pakkamissatī’ti, hoti no tasmiṁ samaye anattamanatā hoti domanassaṁ:
‘dūre no bhagavā bhavissatī’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘kosalehi mallesu cārikaṁ pakkanto’ti, hoti no tasmiṁ samaye anattamanatā hoti domanassaṁ:
‘dūre no bhagavā’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘mallehi vajjīsu cārikaṁ pakkamissatī’ti, hoti no tasmiṁ samaye anattamanatā hoti domanassaṁ:
‘dūre no bhagavā bhavissatī’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘mallehi vajjīsu cārikaṁ pakkanto’ti, hoti no tasmiṁ samaye anattamanatā hoti domanassaṁ:
‘dūre no bhagavā’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘vajjīhi kāsīsu cārikaṁ pakkamissatī’ti, hoti no tasmiṁ samaye anattamanatā hoti domanassaṁ:
‘dūre no bhagavā bhavissatī’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘vajjīhi kāsīsu cārikaṁ pakkanto’ti, hoti no tasmiṁ samaye anattamanatā hoti domanassaṁ:
‘dūre no bhagavā’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘kāsīhi māgadhe cārikaṁ pakkamissatī’ti, hoti no tasmiṁ samaye anattamanatā hoti domanassaṁ:
‘dūre no bhagavā bhavissatī’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘kāsīhi māgadhe cārikaṁ pakkanto’ti, hoti anappakā no tasmiṁ samaye anattamanatā hoti anappakaṁ domanassaṁ:
‘dūre no bhagavā’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘māgadhehi kāsīsu cārikaṁ pakkamissatī’ti, hoti no tasmiṁ samaye attamanatā hoti somanassaṁ:
‘āsanne no bhagavā bhavissatī’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘māgadhehi kāsīsu cārikaṁ pakkanto’ti, hoti no tasmiṁ samaye attamanatā hoti somanassaṁ:
‘āsanne no bhagavā’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘kāsīhi vajjīsu cārikaṁ pakkamissatī’ti, hoti no tasmiṁ samaye attamanatā hoti somanassaṁ:
‘āsanne no bhagavā bhavissatī’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘kāsīhi vajjīsu cārikaṁ pakkanto’ti, hoti no tasmiṁ samaye attamanatā hoti somanassaṁ:
‘āsanne no bhagavā’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘vajjīhi mallesu cārikaṁ pakkamissatī’ti, hoti no tasmiṁ samaye attamanatā hoti somanassaṁ:
‘āsanne no bhagavā bhavissatī’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘vajjīhi mallesu cārikaṁ pakkanto’ti, hoti no tasmiṁ samaye attamanatā hoti somanassaṁ:
‘āsanne no bhagavā’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘mallehi kosale cārikaṁ pakkamissatī’ti, hoti no tasmiṁ samaye attamanatā hoti somanassaṁ:
‘āsanne no bhagavā bhavissatī’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘mallehi kosale cārikaṁ pakkanto’ti, hoti no tasmiṁ samaye attamanatā hoti somanassaṁ:
‘āsanne no bhagavā’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘kosalehi sāvatthiṁ cārikaṁ pakkamissatī’ti, hoti no tasmiṁ samaye attamanatā hoti somanassaṁ:
‘āsanne no bhagavā bhavissatī’ti.
Yadā pana mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ suṇāma:
‘sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme’ti, hoti anappakā no tasmiṁ samaye attamanatā hoti anappakaṁ somanassaṁ:
‘āsanne no bhagavā’”ti.
“Tasmātiha, thapatayo, sambādho gharāvāso rajāpatho, abbhokāso pabbajjā.
Alañca pana vo, thapatayo, appamādāyā”ti.
“Atthi kho no, bhante, etamhā sambādhā añño sambādho sambādhataro ceva sambādhasaṅkhātataro cā”ti.
“Katamo pana vo, thapatayo, etamhā sambādhā añño sambādho sambādhataro ceva sambādhasaṅkhātataro cā”ti?
“Idha mayaṁ, bhante, yadā rājā pasenadi kosalo uyyānabhūmiṁ niyyātukāmo hoti, ye te rañño pasenadissa kosalassa nāgā opavayhā te kappetvā, yā tā rañño pasenadissa kosalassa pajāpatiyo piyā manāpā tā ekaṁ purato ekaṁ pacchato nisīdāpema.
Tāsaṁ kho pana, bhante, bhaginīnaṁ evarūpo gandho hoti, seyyathāpi nāma gandhakaraṇḍakassa tāvadeva vivariyamānassa, yathā taṁ rājakaññānaṁ gandhena vibhūsitānaṁ.
Tāsaṁ kho pana, bhante, bhaginīnaṁ evarūpo kāyasamphasso hoti, seyyathāpi nāma tūlapicuno vā kappāsapicuno vā, yathā taṁ rājakaññānaṁ sukhedhitānaṁ.
Tasmiṁ kho pana, bhante, samaye nāgopi rakkhitabbo hoti, tāpi bhaginiyo rakkhitabbā honti, attāpi rakkhitabbo hoti.
Na kho pana mayaṁ, bhante, abhijānāma tāsu bhaginīsu pāpakaṁ cittaṁ uppādetā.
Ayaṁ kho no, bhante, etamhā sambādhā añño sambādho sambādhataro ceva sambādhasaṅkhātataro cā”ti.
“Tasmātiha, thapatayo, sambādho gharāvāso rajāpatho, abbhokāso pabbajjā.
Alañca pana vo, thapatayo, appamādāya.
Catūhi kho, thapatayo, dhammehi samannāgato ariyasāvako sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo.
Katamehi catūhi?
Idha, thapatayo, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe …pe…
vigatamalamaccherena cetasā ajjhāgāraṁ vasati muttacāgo payatapāṇi vossaggarato yācayogo dānasaṁvibhāgarato.
Imehi kho, thapatayo, catūhi dhammehi samannāgato ariyasāvako sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo.
Tumhe kho, thapatayo, buddhe aveccappasādena samannāgatā—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe …pe…
yaṁ kho pana kiñci kule deyyadhammaṁ sabbaṁ taṁ appaṭivibhattaṁ sīlavantehi kalyāṇadhammehi.
Taṁ kiṁ maññatha, thapatayo,
katividhā te kosalesu manussā ye tumhākaṁ samasamā, yadidaṁ—
dānasaṁvibhāge”ti?
“Lābhā no, bhante, suladdhaṁ no, bhante.
Yesaṁ no bhagavā evaṁ pajānātī”ti.
Chaṭṭhaṁ.