Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Ái nhiễm, này các Tỷ-kheo, là bệnh tật; ái nhiễm là mụt nhọt; ái nhiễm là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai sống không ái nhiễm, không bị mũi tên làm bị thương.
Vi-n 3 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước vọng gì, hãy ước sống không ái nhiễm, không bị mũi tên làm bị thương.
Vi-n 4 Chớ có nghĩ đến mắt, chớ có nghĩ đến trong mắt, chớ có nghĩ đến từ mắt, chớ có nghĩ đến: “Mắt là của tôi”. Chớ có nghĩ đến các sắc, chớ có nghĩ đến trong các sắc, chớ có nghĩ đến từ các sắc, chớ có nghĩ đến: “Các sắc là của tôi”. Chớ có nghĩ đến nhãn thức, chớ có nghĩ đến trong nhãn thức, chớ có nghĩ đến từ nhãn thức, chớ có nghĩ đến: “Nhãn thức là của tôi”. Chớ có nghĩ đến nhãn xúc, chớ có nghĩ đến trong nhãn xúc, chớ có nghĩ đến từ nhãn xúc, chớ có nghĩ đến: “Nhãn xúc là của tôi”. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến trong cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến từ cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến: “Cảm thọ ấy là tôi”.
Vi-n 5-6. Chớ có nghĩ đến tai … Chớ có nghĩ đến mũi …
Vi-n 7-8. Chớ có nghĩ đến lưỡi … Chớ có nghĩ đến thân …
Vi-n 9 Chớ có nghĩ đến ý, chớ có nghĩ đến trong ý, chớ có nghĩ đến từ ý, chớ có nghĩ đến: “Ý là của tôi”. Chớ có nghĩ đến các pháp, chớ có nghĩ đến trong các pháp, chớ có nghĩ đến từ các pháp, chớ có nghĩ đến: “Các pháp là của tôi”. Chớ có nghĩ đến ý thức, chớ có nghĩ đến trong ý thức, chớ có nghĩ đến từ ý thức, chớ có nghĩ đến: “Ý thức là của tôi”. Chớ có nghĩ đến ý xúc, chớ có nghĩ đến trong ý xúc, chớ có nghĩ đến từ ý xúc, chớ có nghĩ đến: “Ý xúc là của tôi”. Do duyên ý xúc, khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến trong cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến từ cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến: “Cảm thọ ấy là của tôi”.
Vi-n 10 Chớ có nghĩ đến tất cả, chớ có nghĩ đến trong tất cả, chớ có nghĩ đến từ tất cả, chớ có nghĩ đến: “Tất cả là của tôi”.
Vi-n 11 Vị ấy do không nghĩ đến nên không chấp thủ một vật gì ở đời. Do không chấp thủ, vị ấy không có dao động (paritassati). Do không dao động, vị ấy tự mình tịch tịnh một cách hoàn toàn. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
“Ejā, bhikkhave, rogo, ejā gaṇḍo, ejā sallaṁ.
Tasmātiha, bhikkhave, tathāgato anejo viharati vītasallo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya ‘anejo vihareyyaṁ vītasallo’ti,
cakkhuṁ na maññeyya, cakkhusmiṁ na maññeyya, cakkhuto na maññeyya, cakkhu meti na maññeyya;
rūpe na maññeyya, rūpesu na maññeyya, rūpato na maññeyya, rūpā meti na maññeyya;
cakkhuviññāṇaṁ na maññeyya, cakkhuviññāṇasmiṁ na maññeyya, cakkhuviññāṇato na maññeyya, cakkhuviññāṇaṁ meti na maññeyya;
cakkhusamphassaṁ na maññeyya, cakkhusamphassasmiṁ na maññeyya, cakkhusamphassato na maññeyya, cakkhusamphasso meti na maññeyya.
Yampidaṁ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi na maññeyya, tasmimpi na maññeyya, tatopi na maññeyya, taṁ meti na maññeyya.
Sotaṁ na maññeyya …pe…
ghānaṁ na maññeyya …pe…
jivhaṁ na maññeyya, jivhāya na maññeyya, jivhāto na maññeyya, jivhā meti na maññeyya;
rase na maññeyya …pe…
jivhāviññāṇaṁ na maññeyya …pe…
jivhāsamphassaṁ na maññeyya …pe…
yampidaṁ jivhāsamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi na maññeyya, tasmimpi na maññeyya, tatopi na maññeyya, taṁ meti na maññeyya.
Kāyaṁ na maññeyya …pe…
manaṁ na maññeyya, manasmiṁ na maññeyya, manato na maññeyya, mano meti na maññeyya;
dhamme na maññeyya …pe…
mano viññāṇaṁ …pe…
manosamphassaṁ …pe…
yampidaṁ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi na maññeyya, tasmimpi na maññeyya, tatopi na maññeyya, taṁ meti na maññeyya;
sabbaṁ na maññeyya, sabbasmiṁ na maññeyya, sabbato na maññeyya, sabbaṁ meti na maññeyya.
So evaṁ amaññamāno na kiñcipi loke upādiyati.
Anupādiyaṁ na paritassati. Aparitassaṁ paccattaññeva parinibbāyati.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Sattamaṁ.
SC 1“Bhikkhus, being stirred is a disease, being stirred is a tumour, being stirred is a dart. Therefore, bhikkhus, the Tathagata dwells unstirred, with the dart removed. sn.iv.65 Therefore, bhikkhus, if a bhikkhu should wish, ‘May I dwell unstirred, with the dart removed!’ he should not conceive the eye, should not conceive in the eye, should not conceive from the eye, should not conceive, ‘The eye is mine.’
SC 2“He should not conceive forms … eye-consciousness … eye-contact … and as to whatever feeling arises with eye-contact as condition … he should not conceive that, should not conceive in that, should not conceive from that, should not conceive, ‘That is mine.’
SC 3“He should not conceive the ear … He should not conceive the mind … mental phenomena … mind-consciousness … mind-contact … and as to whatever feeling arises with mind-contact as condition … he should not conceive that, should not conceive in that, should not conceive from that, should not conceive, ‘That is mine.’
SC 4“He should not conceive all, should not conceive in all, should not conceive from all, should not conceive, ‘All is mine.’
SC 5“Since he does not conceive anything thus, he does not cling to anything in the world. Not clinging, he is not agitated. Being unagitated, he personally attains Nibbāna. sn.iv.66 He understands: ‘Destroyed is birth, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more for this state of being.’”
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Ái nhiễm, này các Tỷ-kheo, là bệnh tật; ái nhiễm là mụt nhọt; ái nhiễm là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai sống không ái nhiễm, không bị mũi tên làm bị thương.
Vi-n 3 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước vọng gì, hãy ước sống không ái nhiễm, không bị mũi tên làm bị thương.
Vi-n 4 Chớ có nghĩ đến mắt, chớ có nghĩ đến trong mắt, chớ có nghĩ đến từ mắt, chớ có nghĩ đến: “Mắt là của tôi”. Chớ có nghĩ đến các sắc, chớ có nghĩ đến trong các sắc, chớ có nghĩ đến từ các sắc, chớ có nghĩ đến: “Các sắc là của tôi”. Chớ có nghĩ đến nhãn thức, chớ có nghĩ đến trong nhãn thức, chớ có nghĩ đến từ nhãn thức, chớ có nghĩ đến: “Nhãn thức là của tôi”. Chớ có nghĩ đến nhãn xúc, chớ có nghĩ đến trong nhãn xúc, chớ có nghĩ đến từ nhãn xúc, chớ có nghĩ đến: “Nhãn xúc là của tôi”. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến trong cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến từ cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến: “Cảm thọ ấy là tôi”.
Vi-n 5-6. Chớ có nghĩ đến tai … Chớ có nghĩ đến mũi …
Vi-n 7-8. Chớ có nghĩ đến lưỡi … Chớ có nghĩ đến thân …
Vi-n 9 Chớ có nghĩ đến ý, chớ có nghĩ đến trong ý, chớ có nghĩ đến từ ý, chớ có nghĩ đến: “Ý là của tôi”. Chớ có nghĩ đến các pháp, chớ có nghĩ đến trong các pháp, chớ có nghĩ đến từ các pháp, chớ có nghĩ đến: “Các pháp là của tôi”. Chớ có nghĩ đến ý thức, chớ có nghĩ đến trong ý thức, chớ có nghĩ đến từ ý thức, chớ có nghĩ đến: “Ý thức là của tôi”. Chớ có nghĩ đến ý xúc, chớ có nghĩ đến trong ý xúc, chớ có nghĩ đến từ ý xúc, chớ có nghĩ đến: “Ý xúc là của tôi”. Do duyên ý xúc, khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến trong cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến từ cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến: “Cảm thọ ấy là của tôi”.
Vi-n 10 Chớ có nghĩ đến tất cả, chớ có nghĩ đến trong tất cả, chớ có nghĩ đến từ tất cả, chớ có nghĩ đến: “Tất cả là của tôi”.
Vi-n 11 Vị ấy do không nghĩ đến nên không chấp thủ một vật gì ở đời. Do không chấp thủ, vị ấy không có dao động (paritassati). Do không dao động, vị ấy tự mình tịch tịnh một cách hoàn toàn. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
“Ejā, bhikkhave, rogo, ejā gaṇḍo, ejā sallaṁ.
Tasmātiha, bhikkhave, tathāgato anejo viharati vītasallo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya ‘anejo vihareyyaṁ vītasallo’ti,
cakkhuṁ na maññeyya, cakkhusmiṁ na maññeyya, cakkhuto na maññeyya, cakkhu meti na maññeyya;
rūpe na maññeyya, rūpesu na maññeyya, rūpato na maññeyya, rūpā meti na maññeyya;
cakkhuviññāṇaṁ na maññeyya, cakkhuviññāṇasmiṁ na maññeyya, cakkhuviññāṇato na maññeyya, cakkhuviññāṇaṁ meti na maññeyya;
cakkhusamphassaṁ na maññeyya, cakkhusamphassasmiṁ na maññeyya, cakkhusamphassato na maññeyya, cakkhusamphasso meti na maññeyya.
Yampidaṁ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi na maññeyya, tasmimpi na maññeyya, tatopi na maññeyya, taṁ meti na maññeyya.
Sotaṁ na maññeyya …pe…
ghānaṁ na maññeyya …pe…
jivhaṁ na maññeyya, jivhāya na maññeyya, jivhāto na maññeyya, jivhā meti na maññeyya;
rase na maññeyya …pe…
jivhāviññāṇaṁ na maññeyya …pe…
jivhāsamphassaṁ na maññeyya …pe…
yampidaṁ jivhāsamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi na maññeyya, tasmimpi na maññeyya, tatopi na maññeyya, taṁ meti na maññeyya.
Kāyaṁ na maññeyya …pe…
manaṁ na maññeyya, manasmiṁ na maññeyya, manato na maññeyya, mano meti na maññeyya;
dhamme na maññeyya …pe…
mano viññāṇaṁ …pe…
manosamphassaṁ …pe…
yampidaṁ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi na maññeyya, tasmimpi na maññeyya, tatopi na maññeyya, taṁ meti na maññeyya;
sabbaṁ na maññeyya, sabbasmiṁ na maññeyya, sabbato na maññeyya, sabbaṁ meti na maññeyya.
So evaṁ amaññamāno na kiñcipi loke upādiyati.
Anupādiyaṁ na paritassati. Aparitassaṁ paccattaññeva parinibbāyati.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Sattamaṁ.