Vi-n 1 Một thời Tôn giả Udāyi trú ở Kàmandàya, tại vườn xoài của Bà-la-môn Todeyya.
Vi-n 2 Rồi một đệ tử thanh niên của nữ Bà-la-môn, thuộc dòng họ Verahaccàni, đi đến Tôn giả Udāyi; sau khi đến, nói với Tôn giả Udāyi những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Udāyi với bài pháp thoại, trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ thanh niên Bà-la-môn ấy đang ngồi xuống một bên.
Vi-n 4 Rồi thanh niên ấy, sau khi được Tôn giả Udāyi với bài pháp thoại, trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, liền đi đến nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni; sau khi đến, nói với nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni:
—Mong nữ Tôn giả biết cho, Sa-môn Udāyi thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, với nghĩa, với văn, và trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh.
Vi-n 5 —Vậy này Thanh niên, hãy nhân danh ta, mời Sa-môn Udāyi ngày mai đến dùng cơm.
—Thưa vâng, Tôn giả.
Thanh niên Bà-la-môn ấy vâng đáp nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni, đi đến Tôn giả Udāyi; sau khi đến thưa với Tôn giả Udāyi:
—Tôn giả Udāyi, hãy nhận đạo sư phí của chúng tôi là buổi cơm ngày mai từ nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni.
Tôn giả Udāyi im lặng nhận lời.
Vi-n 6 Rồi Tôn giả Udāyi, sau khi đêm ấy đã mãn, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi đến nhà của nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni; sau khi đi đến, liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
Vi-n 7 Rồi nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni tự tay dâng cúng, hầu hạ Tôn giả Udāyi với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm.
Vi-n 8 Rồi nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni sau khi thấy Tôn giả Udāyi đã dùng cơm xong, tay đã rút lui khỏi bát, liền mang dép, ngồi trên chỗ ngồi cao, trùm đầu, và thưa với Tôn giả Udāyi:
—Này Sa-môn, hãy thuyết pháp.
—Này Chị, thời gian ấy sẽ đến.
Nói xong, Tôn giả Udāyi từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Vi-n 9 Lần thứ hai, thanh niên Bà-la-môn ấy đi đến Tôn giả Udāyi; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Udāyi những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Rồi Tôn giả Udāyi với lời pháp thoại trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ thanh niên Bà-la-môn đang ngồi xuống một bên.
Vi-n 10 Lần thứ hai, thanh niên Bà-la-môn ấy sau khi được Tôn giả Udāyi với pháp thoại, trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni; sau khi đến nói với nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni:
—Nữ Tôn giả hãy biết, Sa-môn Udāyi thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, với nghĩa, với văn và trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh.
Vi-n 11 —Như vậy, này Thanh niên Bà-la-môn, Ông nói lời tán thán Sa-môn Udāyi. Nhưng Sa-môn Udāyi khi được nói: “Này Sa-môn, hãy thuyết pháp”, sau khi trả lời: “Này Chị, thời ấy sẽ đến”, từ chỗ ngồi đứng dậy, và đi về tịnh xá.
Vi-n 12 —Thưa nữ Tôn giả, vì rằng nữ Tôn giả đã đi dép, ngồi trên chỗ cao, trùm đầu và nói: “Này Sa-môn, hãy thuyết pháp”, các bậc Tôn giả ấy cung kính pháp, tôn trọng pháp.
Vi-n 13 —Vậy, này Thanh niên Bà-la-môn, hãy nhân danh ta, ngày mai mời Sa-môn Udāyi đến dùng cơm.
—Thưa vâng, nữ Tôn giả.
Thanh niên Bà-la-môn ấy vâng đáp nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni, đi đến Tôn giả Udāyi; sau khi đến, nói với Tôn giả Udāyi:
—Tôn giả Udāyi, hãy chấp nhận đạo sư phí của chúng tôi là buổi cơm ngày mai từ nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni.
Tôn giả Udāyi im lặng nhận lời.
Vi-n 14 Rồi Tôn giả Udāyi, sau khi đêm ấy đã mãn, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi đến nhà của nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni; sau khi đến, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
Vi-n 15 Rồi nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni, tự tay dâng cúng, hầu hạ Tôn giả Udāyi với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm.
Vi-n 16 Rồi nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni, sau khi thấy Tôn giả ăn xong, tay đã rút lui khỏi bát, liền cởi dép, ngồi trên chỗ ngồi thấp, cởi khăn trùm đầu, rồi thưa Tôn giả Udāyi:
—Thưa Tôn giả, do cái gì hiện hữu, các bậc A-la-hán trình bày về lạc khổ? Do cái gì không hiện hữu, các bậc A-la-hán không trình bày lạc khổ?
Vi-n 17 —Này Chị, do mắt hiện hữu, các bậc A-la-hán trình bày lạc khổ. Do mắt không hiện hữu, các bậc A-la-hán không trình bày lạc khổ … Do ý hiện hữu, các bậc A-la-hán trình bày lạc khổ. Do ý không hiện hữu, các bậc A-la-hán không trình bày lạc khổ.
Vi-n 18 Khi được nói vậy, nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni thưa với Tôn giả Udāyi:
—Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả! Thưa Tôn giả, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Udāyi dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Và nay, thưa Tôn giả Udāyi, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Tôn giả Udāyi nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā udāyī kāmaṇḍāyaṁ viharati todeyyassa brāhmaṇassa ambavane.
Atha kho verahaccānigottāya brāhmaṇiyā antevāsī māṇavako yenāyasmā udāyī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā udāyinā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho taṁ māṇavakaṁ āyasmā udāyī dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Atha kho so māṇavako āyasmatā udāyinā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito uṭṭhāyāsanā yena verahaccānigottā brāhmaṇī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā verahaccānigottaṁ brāhmaṇiṁ etadavoca:
“yagghe, bhoti, jāneyyāsi.
Samaṇo udāyī dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ, sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsetī”ti.
“Tena hi tvaṁ, māṇavaka, mama vacanena samaṇaṁ udāyiṁ nimantehi svātanāya bhattenā”ti.
“Evaṁ, bhotī”ti kho so māṇavako verahaccānigottāya brāhmaṇiyā paṭissutvā yenāyasmā udāyī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca:
“adhivāsetu kira, bhavaṁ udāyī amhākaṁ ācariyabhariyāya verahaccānigottāya brāhmaṇiyā svātanāya bhattan”ti.
Adhivāsesi kho āyasmā udāyī tuṇhībhāvena.
Atha kho āyasmā udāyī tassā rattiyā accayena pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena verahaccānigottāya brāhmaṇiyā nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Atha kho verahaccānigottā brāhmaṇī āyasmantaṁ udāyiṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi.
Atha kho verahaccānigottā brāhmaṇī āyasmantaṁ udāyiṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ pādukā ārohitvā ucce āsane nisīditvā sīsaṁ oguṇṭhitvā āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca:
“bhaṇa, samaṇa, dhamman”ti.
“Bhavissati, bhagini, samayo”ti vatvā uṭṭhāyāsanā pakkami.
Dutiyampi kho so māṇavako yenāyasmā udāyī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā udāyinā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho taṁ māṇavakaṁ āyasmā udāyī dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Dutiyampi kho so māṇavako āyasmatā udāyinā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito uṭṭhāyāsanā yena verahaccānigottā brāhmaṇī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā verahaccānigottaṁ brāhmaṇiṁ etadavoca:
“yagghe, bhoti, jāneyyāsi.
Samaṇo udāyī dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ, sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsetī”ti.
“Evamevaṁ pana tvaṁ, māṇavaka, samaṇassa udāyissa vaṇṇaṁ bhāsasi.
Samaṇo panudāyī ‘bhaṇa, samaṇa, dhamman’ti vutto samāno ‘bhavissati, bhagini, samayo’ti vatvā uṭṭhāyāsanā pakkanto”ti.
“Tathā hi pana tvaṁ, bhoti, pādukā ārohitvā ucce āsane nisīditvā sīsaṁ oguṇṭhitvā etadavoca:
‘bhaṇa, samaṇa, dhamman’ti.
Dhammagaruno hi te bhavanto dhammagāravā”ti.
“Tena hi tvaṁ, māṇavaka, mama vacanena samaṇaṁ udāyiṁ nimantehi svātanāya bhattenā”ti.
“Evaṁ, bhotī”ti kho so māṇavako verahaccānigottāya brāhmaṇiyā paṭissutvā yenāyasmā udāyī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca:
“adhivāsetu kira bhavaṁ udāyī amhākaṁ ācariyabhariyāya verahaccānigottāya brāhmaṇiyā svātanāya bhattan”ti.
Adhivāsesi kho āyasmā udāyī tuṇhībhāvena.
Atha kho āyasmā udāyī tassā rattiyā accayena pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena verahaccānigottāya brāhmaṇiyā nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Atha kho verahaccānigottā brāhmaṇī āyasmantaṁ udāyiṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi.
Atha kho verahaccānigottā brāhmaṇī āyasmantaṁ udāyiṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ pādukā orohitvā nīce āsane nisīditvā sīsaṁ vivaritvā āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca:
“kismiṁ nu kho, bhante, sati arahanto sukhadukkhaṁ paññapenti, kismiṁ asati arahanto sukhadukkhaṁ na paññapentī”ti?
“Cakkhusmiṁ kho, bhagini, sati arahanto sukhadukkhaṁ paññapenti, cakkhusmiṁ asati arahanto sukhadukkhaṁ na paññapenti …pe…
jivhāya sati arahanto sukhadukkhaṁ paññapenti, jivhāya asati arahanto sukhadukkhaṁ na paññapenti …pe….
Manasmiṁ sati arahanto sukhadukkhaṁ paññapenti, manasmiṁ asati arahanto sukhadukkhaṁ na paññapentī”ti.
Evaṁ vutte, verahaccānigottā brāhmaṇī āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante.
Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ ayyena udāyinā anekapariyāyena dhammo pakāsito.
Esāhaṁ, ayya udāyi, taṁ bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi, dhammañca, bhikkhusaṅghañca.
Upāsikaṁ maṁ ayyo udāyī dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Dasamaṁ.
Gahapativaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Vesālī vajji nāḷandā,
Bhāradvāja soṇo ca ghosito;
Hāliddiko nakulapitā,
Lohicco verahaccānīti.
SC 1On one occasion the Venerable Udayī was living at Kamaṇḍa in the brahmin Todeyya’s Mango Grove. Then a brahmin youth, a student of the brahmin lady of the Verahaccani clan, approached the Venerable Udayī and greeted him. When they had concluded their greetings and cordial talk, he sat down to one side, and the Venerable Udayī instructed, exhorted, inspired, and gladdened him with a Dhamma talk. Having been instructed, exhorted, inspired, and gladdened by the Dhamma talk, the brahmin youth rose from his seat, approached the brahmin lady of the Verahaccani clan, and said to her: “See now, madam, you should know that the ascetic Udayī teaches a Dhamma that is good in the beginning, good in the middle, and good in the end, sn.iv.122 with the right meaning and phrasing; he reveals a holy life that is perfectly complete and pure.”
SC 2“In that case, young man, invite the ascetic Udayī in my name for tomorrow’s meal.”
SC 3“Yes, madam,” the youth replied. Then he went to the Venerable Udayī and said to him: “Let Master Udayī consent to accept tomorrow’s meal from our revered teacher, the brahmin lady of the Verahaccani clan.”
SC 4The Venerable Udayī consented by silence. Then, when the night had passed, in the morning the Venerable Udayī dressed, took his bowl and outer robe, and went to the residence of the brahmin lady of the Verahaccani clan. There he sat down in the appointed seat. Then, with her own hands, the brahmin lady served and satisfied the Venerable Udayī with various kinds of delicious food. When the Venerable Udayī had finished eating and had put away his bowl, the brahmin lady put on her sandals, sat down on a high seat, covered her head, and told him: “Preach the Dhamma, ascetic.” Having said, “There will be an occasion for that, sister,” he rose from his seat and departed.
SC 5A second time that brahmin youth approached the Venerable Udayī … as above down to: … “See now, madam, you should know that the ascetic Udayī teaches a Dhamma that is good in the beginning, good in the middle, sn.iv.123 and good in the end, with the right meaning and phrasing; he reveals a holy life that is perfectly complete and pure.”
SC 6“In such a way, young man, you keep on praising the ascetic Udayī, but when I told him, ‘Preach the Dhamma, ascetic,’ he said, ‘There will be an occasion for that, sister,’ and he rose from his seat and departed.”
SC 7“That, madam, was because you put on your sandals, sat down on a high seat, covered your head, and told him: ‘Preach the Dhamma, ascetic.’ For these worthies respect and revere the Dhamma.”
SC 8“In that case, young man, invite the ascetic Udayī in my name for tomorrow’s meal.”
SC 9“Yes, madam,” he replied. Then he went to the Venerable Udayī … all as above … When the Venerable Udayī had finished eating and had put away his bowl, the brahmin lady removed her sandals, sat down on a low seat, uncovered her head, and said to him: “Venerable sir, what do the arahants maintain must exist for there to be pleasure and pain? And what is it that the arahants maintain must cease to exist for there to be no pleasure and pain?”
SC 10“Sister, the arahants maintain that when the eye exists there is pleasure and pain, and when the eye does not exist there is no pleasure and pain. sn.iv.124 The arahants maintain that when the ear exists there is pleasure and pain, and when the ear does not exist there is no pleasure and pain…. The arahants maintain that when the mind exists there is pleasure and pain, and when the mind does not exist there is no pleasure and pain.”
SC 11When this was said, the brahmin lady of the Verahaccani clan said to the Venerable Udayī: “Magnificent, venerable sir! Magnificent, venerable sir! The Dhamma has been made clear in many ways by Master Udayī … as in §127 … From today let Master Udayī remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Vi-n 1 Một thời Tôn giả Udāyi trú ở Kàmandàya, tại vườn xoài của Bà-la-môn Todeyya.
Vi-n 2 Rồi một đệ tử thanh niên của nữ Bà-la-môn, thuộc dòng họ Verahaccàni, đi đến Tôn giả Udāyi; sau khi đến, nói với Tôn giả Udāyi những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Udāyi với bài pháp thoại, trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ thanh niên Bà-la-môn ấy đang ngồi xuống một bên.
Vi-n 4 Rồi thanh niên ấy, sau khi được Tôn giả Udāyi với bài pháp thoại, trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, liền đi đến nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni; sau khi đến, nói với nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni:
—Mong nữ Tôn giả biết cho, Sa-môn Udāyi thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, với nghĩa, với văn, và trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh.
Vi-n 5 —Vậy này Thanh niên, hãy nhân danh ta, mời Sa-môn Udāyi ngày mai đến dùng cơm.
—Thưa vâng, Tôn giả.
Thanh niên Bà-la-môn ấy vâng đáp nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni, đi đến Tôn giả Udāyi; sau khi đến thưa với Tôn giả Udāyi:
—Tôn giả Udāyi, hãy nhận đạo sư phí của chúng tôi là buổi cơm ngày mai từ nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni.
Tôn giả Udāyi im lặng nhận lời.
Vi-n 6 Rồi Tôn giả Udāyi, sau khi đêm ấy đã mãn, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi đến nhà của nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni; sau khi đi đến, liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
Vi-n 7 Rồi nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni tự tay dâng cúng, hầu hạ Tôn giả Udāyi với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm.
Vi-n 8 Rồi nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni sau khi thấy Tôn giả Udāyi đã dùng cơm xong, tay đã rút lui khỏi bát, liền mang dép, ngồi trên chỗ ngồi cao, trùm đầu, và thưa với Tôn giả Udāyi:
—Này Sa-môn, hãy thuyết pháp.
—Này Chị, thời gian ấy sẽ đến.
Nói xong, Tôn giả Udāyi từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Vi-n 9 Lần thứ hai, thanh niên Bà-la-môn ấy đi đến Tôn giả Udāyi; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Udāyi những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Rồi Tôn giả Udāyi với lời pháp thoại trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ thanh niên Bà-la-môn đang ngồi xuống một bên.
Vi-n 10 Lần thứ hai, thanh niên Bà-la-môn ấy sau khi được Tôn giả Udāyi với pháp thoại, trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni; sau khi đến nói với nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni:
—Nữ Tôn giả hãy biết, Sa-môn Udāyi thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, với nghĩa, với văn và trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh.
Vi-n 11 —Như vậy, này Thanh niên Bà-la-môn, Ông nói lời tán thán Sa-môn Udāyi. Nhưng Sa-môn Udāyi khi được nói: “Này Sa-môn, hãy thuyết pháp”, sau khi trả lời: “Này Chị, thời ấy sẽ đến”, từ chỗ ngồi đứng dậy, và đi về tịnh xá.
Vi-n 12 —Thưa nữ Tôn giả, vì rằng nữ Tôn giả đã đi dép, ngồi trên chỗ cao, trùm đầu và nói: “Này Sa-môn, hãy thuyết pháp”, các bậc Tôn giả ấy cung kính pháp, tôn trọng pháp.
Vi-n 13 —Vậy, này Thanh niên Bà-la-môn, hãy nhân danh ta, ngày mai mời Sa-môn Udāyi đến dùng cơm.
—Thưa vâng, nữ Tôn giả.
Thanh niên Bà-la-môn ấy vâng đáp nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni, đi đến Tôn giả Udāyi; sau khi đến, nói với Tôn giả Udāyi:
—Tôn giả Udāyi, hãy chấp nhận đạo sư phí của chúng tôi là buổi cơm ngày mai từ nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni.
Tôn giả Udāyi im lặng nhận lời.
Vi-n 14 Rồi Tôn giả Udāyi, sau khi đêm ấy đã mãn, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi đến nhà của nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni; sau khi đến, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
Vi-n 15 Rồi nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni, tự tay dâng cúng, hầu hạ Tôn giả Udāyi với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm.
Vi-n 16 Rồi nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni, sau khi thấy Tôn giả ăn xong, tay đã rút lui khỏi bát, liền cởi dép, ngồi trên chỗ ngồi thấp, cởi khăn trùm đầu, rồi thưa Tôn giả Udāyi:
—Thưa Tôn giả, do cái gì hiện hữu, các bậc A-la-hán trình bày về lạc khổ? Do cái gì không hiện hữu, các bậc A-la-hán không trình bày lạc khổ?
Vi-n 17 —Này Chị, do mắt hiện hữu, các bậc A-la-hán trình bày lạc khổ. Do mắt không hiện hữu, các bậc A-la-hán không trình bày lạc khổ … Do ý hiện hữu, các bậc A-la-hán trình bày lạc khổ. Do ý không hiện hữu, các bậc A-la-hán không trình bày lạc khổ.
Vi-n 18 Khi được nói vậy, nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni thưa với Tôn giả Udāyi:
—Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả! Thưa Tôn giả, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Udāyi dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Và nay, thưa Tôn giả Udāyi, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Tôn giả Udāyi nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā udāyī kāmaṇḍāyaṁ viharati todeyyassa brāhmaṇassa ambavane.
Atha kho verahaccānigottāya brāhmaṇiyā antevāsī māṇavako yenāyasmā udāyī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā udāyinā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho taṁ māṇavakaṁ āyasmā udāyī dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Atha kho so māṇavako āyasmatā udāyinā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito uṭṭhāyāsanā yena verahaccānigottā brāhmaṇī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā verahaccānigottaṁ brāhmaṇiṁ etadavoca:
“yagghe, bhoti, jāneyyāsi.
Samaṇo udāyī dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ, sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsetī”ti.
“Tena hi tvaṁ, māṇavaka, mama vacanena samaṇaṁ udāyiṁ nimantehi svātanāya bhattenā”ti.
“Evaṁ, bhotī”ti kho so māṇavako verahaccānigottāya brāhmaṇiyā paṭissutvā yenāyasmā udāyī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca:
“adhivāsetu kira, bhavaṁ udāyī amhākaṁ ācariyabhariyāya verahaccānigottāya brāhmaṇiyā svātanāya bhattan”ti.
Adhivāsesi kho āyasmā udāyī tuṇhībhāvena.
Atha kho āyasmā udāyī tassā rattiyā accayena pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena verahaccānigottāya brāhmaṇiyā nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Atha kho verahaccānigottā brāhmaṇī āyasmantaṁ udāyiṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi.
Atha kho verahaccānigottā brāhmaṇī āyasmantaṁ udāyiṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ pādukā ārohitvā ucce āsane nisīditvā sīsaṁ oguṇṭhitvā āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca:
“bhaṇa, samaṇa, dhamman”ti.
“Bhavissati, bhagini, samayo”ti vatvā uṭṭhāyāsanā pakkami.
Dutiyampi kho so māṇavako yenāyasmā udāyī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā udāyinā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho taṁ māṇavakaṁ āyasmā udāyī dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Dutiyampi kho so māṇavako āyasmatā udāyinā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito uṭṭhāyāsanā yena verahaccānigottā brāhmaṇī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā verahaccānigottaṁ brāhmaṇiṁ etadavoca:
“yagghe, bhoti, jāneyyāsi.
Samaṇo udāyī dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ, sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsetī”ti.
“Evamevaṁ pana tvaṁ, māṇavaka, samaṇassa udāyissa vaṇṇaṁ bhāsasi.
Samaṇo panudāyī ‘bhaṇa, samaṇa, dhamman’ti vutto samāno ‘bhavissati, bhagini, samayo’ti vatvā uṭṭhāyāsanā pakkanto”ti.
“Tathā hi pana tvaṁ, bhoti, pādukā ārohitvā ucce āsane nisīditvā sīsaṁ oguṇṭhitvā etadavoca:
‘bhaṇa, samaṇa, dhamman’ti.
Dhammagaruno hi te bhavanto dhammagāravā”ti.
“Tena hi tvaṁ, māṇavaka, mama vacanena samaṇaṁ udāyiṁ nimantehi svātanāya bhattenā”ti.
“Evaṁ, bhotī”ti kho so māṇavako verahaccānigottāya brāhmaṇiyā paṭissutvā yenāyasmā udāyī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca:
“adhivāsetu kira bhavaṁ udāyī amhākaṁ ācariyabhariyāya verahaccānigottāya brāhmaṇiyā svātanāya bhattan”ti.
Adhivāsesi kho āyasmā udāyī tuṇhībhāvena.
Atha kho āyasmā udāyī tassā rattiyā accayena pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena verahaccānigottāya brāhmaṇiyā nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Atha kho verahaccānigottā brāhmaṇī āyasmantaṁ udāyiṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi.
Atha kho verahaccānigottā brāhmaṇī āyasmantaṁ udāyiṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ pādukā orohitvā nīce āsane nisīditvā sīsaṁ vivaritvā āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca:
“kismiṁ nu kho, bhante, sati arahanto sukhadukkhaṁ paññapenti, kismiṁ asati arahanto sukhadukkhaṁ na paññapentī”ti?
“Cakkhusmiṁ kho, bhagini, sati arahanto sukhadukkhaṁ paññapenti, cakkhusmiṁ asati arahanto sukhadukkhaṁ na paññapenti …pe…
jivhāya sati arahanto sukhadukkhaṁ paññapenti, jivhāya asati arahanto sukhadukkhaṁ na paññapenti …pe….
Manasmiṁ sati arahanto sukhadukkhaṁ paññapenti, manasmiṁ asati arahanto sukhadukkhaṁ na paññapentī”ti.
Evaṁ vutte, verahaccānigottā brāhmaṇī āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante.
Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ ayyena udāyinā anekapariyāyena dhammo pakāsito.
Esāhaṁ, ayya udāyi, taṁ bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi, dhammañca, bhikkhusaṅghañca.
Upāsikaṁ maṁ ayyo udāyī dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Dasamaṁ.
Gahapativaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Vesālī vajji nāḷandā,
Bhāradvāja soṇo ca ghosito;
Hāliddiko nakulapitā,
Lohicco verahaccānīti.