Vi-n 1-2...
Vi-n 3 : “Thiền thứ tư, Thiền thứ tư”, như vậy được nói đến. Như thế nào là Thiền thứ tư?
Vi-n 4 Này chư Hiền, rồi tôi suy nghĩ như sau: “Ở đây, Tỷ-kheo xả khổ, xả lạc, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh”. Ðây gọi là Thiền thứ tư.
Vi-n 5 Rồi này chư Hiền, tôi xả khổ, xả lạc, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này chư Hiền, do tôi trú với an trú này, các tưởng câu hữu với lạc được tác ý và hiện hành.
Vi-n 6 Rồi này chư Hiền, Thế Tôn với thần thông đi đến tôi và nói: “Này Moggallāna, này Moggallāna, chớ có phóng dật Thiền thứ tư. Này Moggallāna, hãy đặt tâm vào Thiền thứ tư! Hãy nhứt tâm vào Thiền thứ tư! Hãy định tâm vào Thiền thứ tư!”
Vi-n 7 Rồi này chư Hiền, trong một thời gian khác, tôi xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Vi-n 8 (Như đoạn 8 của kinh trên).
“‘Catutthaṁ jhānaṁ, catutthaṁ jhānan’ti vuccati.
Katamaṁ nu kho catutthaṁ jhānanti?
Tassa mayhaṁ, āvuso, etadahosi:
‘idha bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Idaṁ vuccati catutthaṁ jhānan’ti.
So khvāhaṁ, āvuso, sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharāmi.
Tassa mayhaṁ, āvuso, iminā vihārena viharato sukhasahagatā saññāmanasikārā samudācaranti.
Atha kho maṁ, āvuso, bhagavā iddhiyā upasaṅkamitvā etadavoca:
‘moggallāna, moggallāna.
Mā, brāhmaṇa, catutthaṁ jhānaṁ pamādo, catutthe jhāne cittaṁ saṇṭhapehi, catutthe jhāne cittaṁ ekodiṁ karohi, catutthe jhāne cittaṁ samādahā’ti.
So khvāhaṁ, āvuso, aparena samayena sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja vihāsiṁ.
Yañhi taṁ, āvuso, sammā vadamāno vadeyya …pe… mahābhiññataṁ patto”ti.
Catutthaṁ.
“They speak of this thing called the ‘fourth absorption’.
What is the fourth absorption?
It occurred to me:
‘It’s when, with the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, a mendicant enters and remains in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness.
This is called the fourth absorption.’
And so … I was entering and remaining in the fourth absorption.
While I was in that meditation, perception and focus accompanied by pleasure beset me.
Then the Buddha came up to me with his psychic power and said,
‘Moggallāna, Moggallāna!
Don’t neglect the fourth absorption, brahmin! Settle your mind in the fourth absorption; unify your mind and immerse it in the fourth absorption.’
And so, after some time … I entered and remained in the fourth absorption.
So if anyone should be rightly called a disciple who attained to great direct knowledge with help from the Teacher, it’s me.”
Vi-n 1-2...
Vi-n 3 : “Thiền thứ tư, Thiền thứ tư”, như vậy được nói đến. Như thế nào là Thiền thứ tư?
Vi-n 4 Này chư Hiền, rồi tôi suy nghĩ như sau: “Ở đây, Tỷ-kheo xả khổ, xả lạc, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh”. Ðây gọi là Thiền thứ tư.
Vi-n 5 Rồi này chư Hiền, tôi xả khổ, xả lạc, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này chư Hiền, do tôi trú với an trú này, các tưởng câu hữu với lạc được tác ý và hiện hành.
Vi-n 6 Rồi này chư Hiền, Thế Tôn với thần thông đi đến tôi và nói: “Này Moggallāna, này Moggallāna, chớ có phóng dật Thiền thứ tư. Này Moggallāna, hãy đặt tâm vào Thiền thứ tư! Hãy nhứt tâm vào Thiền thứ tư! Hãy định tâm vào Thiền thứ tư!”
Vi-n 7 Rồi này chư Hiền, trong một thời gian khác, tôi xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Vi-n 8 (Như đoạn 8 của kinh trên).
“‘Catutthaṁ jhānaṁ, catutthaṁ jhānan’ti vuccati.
Katamaṁ nu kho catutthaṁ jhānanti?
Tassa mayhaṁ, āvuso, etadahosi:
‘idha bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Idaṁ vuccati catutthaṁ jhānan’ti.
So khvāhaṁ, āvuso, sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharāmi.
Tassa mayhaṁ, āvuso, iminā vihārena viharato sukhasahagatā saññāmanasikārā samudācaranti.
Atha kho maṁ, āvuso, bhagavā iddhiyā upasaṅkamitvā etadavoca:
‘moggallāna, moggallāna.
Mā, brāhmaṇa, catutthaṁ jhānaṁ pamādo, catutthe jhāne cittaṁ saṇṭhapehi, catutthe jhāne cittaṁ ekodiṁ karohi, catutthe jhāne cittaṁ samādahā’ti.
So khvāhaṁ, āvuso, aparena samayena sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja vihāsiṁ.
Yañhi taṁ, āvuso, sammā vadamāno vadeyya …pe… mahābhiññataṁ patto”ti.
Catutthaṁ.