Vi-n 1 Tại ngôi vườn ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, một vị tân Tỷ-kheo đi đến các gia đình quá nhiều thì giờ. Các Tỷ-kheo nói với Tỷ-kheo ấy:
—Tôn giả chớ có đi đến các gia đình quá nhiều thì giờ.
Vi-n 3 Ðược nói vậy, vị Tỷ-kheo ấy nói:
—Những Trưởng lão Tỷ-kheo này nghĩ rằng, họ có thể đi đến các gia đình. Sao không phải ta?
Vi-n 4 Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn … rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 5 Ngồi xuống một bên, các vị Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, có người tân Tỷ-kheo đi đến các gia đình quá nhiều thì giờ. Các Tỷ-kheo nói với Tỷ-kheo ấy: “Tôn giả chớ có đi đến các gia đình quá nhiều thì giờ”. Ðược các Tỷ-kheo nói vậy, Tỷ-kheo ấy nói: “Những Trưởng lão Tỷ-kheo này nghĩ rằng, họ có thể đi đến các gia đình. Sao không phải ta?”
Vi-n 6 —Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, gần một hồ nước lớn, tại một khu rừng, các con voi sống ở đấy. Chúng lặn xuống hồ, lấy vòi nhổ lên các củ và rễ sen, rửa chúng thật sạch, làm cho chúng sạch bùn rồi ăn chúng. Nhờ vậy, các con voi ấy được dung sắc và sức mạnh, và không vì nhân duyên ấy những con voi đi đến chết hay đi đến đau khổ gần như chết.
Vi-n 7 Ðược huấn luyện theo các con voi lớn ấy, này các Tỷ-kheo, các con voi trẻ và nhỏ lặn xuống hồ, lấy vòi nhổ lên các củ, rễ sen, không rửa chúng thật sạch, không làm cho chúng sạch bùn rồi ăn chúng. Do vậy, các con voi ấy không được dung sắc và sức mạnh, và vì nhân duyên ấy những con voi đi đến chết hay đi đến đau khổ gần như chết.
Vi-n 8 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây các Trưởng lão Tỷ-kheo vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào làng hay thị trấn để khất thực. Tại đấy họ thuyết pháp. Các gia chủ hoan hỷ làm bổn phận của mình với các vị ấy. Các Tỷ-kheo ấy thọ dụng các lợi đắc, không tham trước, không say đắm, không phạm tội, thấy những nguy hiểm, hiểu sự xuất ly với trí tuệ. Nhờ vậy, các Tỷ-kheo ấy được dung sắc và sức mạnh, và không vì nhân duyên ấy họ đi đến chết hay đi đến đau khổ gần như chết.
Vi-n 9 Nhưng này các Tỷ-kheo, được huấn luyện theo các Trưởng lão Tỷ-kheo, các tân Tỷ-kheo vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào làng hay thị trấn để khất thực.
Vi-n 10 Tại đấy, các vị thuyết pháp. Các gia chủ hoan hỷ làm bổn phận của mình. Các Tỷ-kheo ấy thọ dụng các lợi đắc, tham trước, say đắm, phạm tội, không thấy sự nguy hiểm, không hiểu sự xuất ly với trí tuệ. Do vậy, các vị Tỷ-kheo ấy không được dung sắc và sức mạnh, và vì nhân duyên ấy họ đi đến chết hay đi đến đau khổ gần như chết.
Vi-n 11 Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: “Chúng tôi sẽ thọ dụng các lợi đắc, không tham đắm, không say mê, không phạm tội, thấy những nguy hiểm, hiểu rõ sự xuất ly với trí tuệ”.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena aññataro navo bhikkhu ativelaṁ kulāni upasaṅkamati.
Tamenaṁ bhikkhū evamāhaṁsu:
“māyasmā ativelaṁ kulāni upasaṅkamī”ti.
So bhikkhu bhikkhūhi vuccamāno evamāha:
“ime hi nāma therā bhikkhū kulāni upasaṅkamitabbaṁ maññissanti, kimaṅgaṁ panāhan”ti?
Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“idha, bhante, aññataro navo bhikkhu ativelaṁ kulāni upasaṅkamati.
Tamenaṁ bhikkhū evamāhaṁsu:
‘māyasmā ativelaṁ kulāni upasaṅkamī’ti.
So bhikkhu bhikkhūhi vuccamāno evamāha:
‘ime hi nāma therā bhikkhū kulāni upasaṅkamitabbaṁ maññissanti, kimaṅgaṁ panāhan’”ti.
“Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, araññāyatane mahāsarasī.
Taṁ nāgā upanissāya viharanti.
Te taṁ sarasiṁ ogāhetvā soṇḍāya bhisamuḷālaṁ abbuhetvā suvikkhālitaṁ vikkhāletvā akaddamaṁ saṅkhāditvā ajjhoharanti.
Tesaṁ taṁ vaṇṇāya ceva hoti balāya ca, na ca tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigacchanti maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ.
Tesaṁyeva kho pana, bhikkhave, mahānāgānaṁ anusikkhamānā taruṇā bhiṅkacchāpā taṁ sarasiṁ ogāhetvā soṇḍāya bhisamuḷālaṁ abbuhetvā na suvikkhālitaṁ vikkhāletvā sakaddamaṁ asaṅkhāditvā ajjhoharanti.
Tesaṁ taṁ neva vaṇṇāya hoti na balāya.
Tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigacchanti maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ.
Evameva kho, bhikkhave, idha therā bhikkhū pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya pavisanti.
Te tattha dhammaṁ bhāsanti.
Tesaṁ gihī pasannākāraṁ karonti.
Te taṁ lābhaṁ agadhitā amucchitā anajjhopannā ādīnavadassāvino nissaraṇapaññā paribhuñjanti.
Tesaṁ taṁ vaṇṇāya ceva hoti balāya ca, na ca tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigacchanti maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ.
Tesaṁyeva kho pana, bhikkhave, therānaṁ bhikkhūnaṁ anusikkhamānā navā bhikkhū pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya pavisanti.
Te tattha dhammaṁ bhāsanti.
Tesaṁ gihī pasannākāraṁ karonti.
Te taṁ lābhaṁ gadhitā mucchitā ajjhopannā anādīnavadassāvino anissaraṇapaññā paribhuñjanti.
Tesaṁ taṁ neva vaṇṇāya hoti na balāya, te tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigacchanti maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘agadhitā amucchitā anajjhopannā ādīnavadassāvino nissaraṇapaññā taṁ lābhaṁ paribhuñjissāmā’ti.
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Navamaṁ.
So I have heard.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Now at that time a certain junior mendicant went to visit families too often.
The mendicants said to him,
“Venerable, don’t go to visit families too often.”
But that mendicant, when spoken to by the mendicants, said this,
“But these senior mendicants think they can go to visit families, so why can’t I?”
And then several mendicants went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened. The Buddha said:
“Once upon a time, mendicants, there was a great lake in the jungle,
with bull elephants living nearby.
They’d plunge into the lake and pull up lotus bulbs with their trunks. They’d wash them thoroughly until they were free of mud before chewing and swallowing them.
That was good for their appearance and strength, and wouldn’t result in death or deadly pain.
The young cubs, following the example of the great bull elephants, plunged into the lake and pulled up lotus bulbs with their trunks. But they didn’t wash them thoroughly, and while they were still muddy they chewed and swallowed them.
That was not good for their appearance and strength, and resulted in death or deadly pain.
In the same way, there are senior mendicants who robe up in the morning and, taking their bowl and robe, enter the town or village for alms.
There they speak on the teachings,
and lay people demonstrate their confidence in them.
And when they get things, they use them untied, uninfatuated, unattached, seeing the drawbacks, and understanding the escape.
That’s good for their appearance and strength, and doesn’t result in death or deadly pain.
Junior mendicants, following the example of the senior mendicants, robe up in the morning and, taking their bowl and robe, enter the town or village for alms.
There they speak on the teachings,
and lay people demonstrate their confidence in them.
But when they get things, they use them tied, infatuated, attached, blind to the drawbacks, not understanding the escape.
That’s not good for their appearance and strength, and results in death or deadly pain.
So you should train like this:
‘When we get things, we will use them untied, uninfatuated, unattached, seeing the drawbacks, and understanding the escape.’
That’s how you should train.”
Vi-n 1 Tại ngôi vườn ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, một vị tân Tỷ-kheo đi đến các gia đình quá nhiều thì giờ. Các Tỷ-kheo nói với Tỷ-kheo ấy:
—Tôn giả chớ có đi đến các gia đình quá nhiều thì giờ.
Vi-n 3 Ðược nói vậy, vị Tỷ-kheo ấy nói:
—Những Trưởng lão Tỷ-kheo này nghĩ rằng, họ có thể đi đến các gia đình. Sao không phải ta?
Vi-n 4 Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn … rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 5 Ngồi xuống một bên, các vị Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, có người tân Tỷ-kheo đi đến các gia đình quá nhiều thì giờ. Các Tỷ-kheo nói với Tỷ-kheo ấy: “Tôn giả chớ có đi đến các gia đình quá nhiều thì giờ”. Ðược các Tỷ-kheo nói vậy, Tỷ-kheo ấy nói: “Những Trưởng lão Tỷ-kheo này nghĩ rằng, họ có thể đi đến các gia đình. Sao không phải ta?”
Vi-n 6 —Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, gần một hồ nước lớn, tại một khu rừng, các con voi sống ở đấy. Chúng lặn xuống hồ, lấy vòi nhổ lên các củ và rễ sen, rửa chúng thật sạch, làm cho chúng sạch bùn rồi ăn chúng. Nhờ vậy, các con voi ấy được dung sắc và sức mạnh, và không vì nhân duyên ấy những con voi đi đến chết hay đi đến đau khổ gần như chết.
Vi-n 7 Ðược huấn luyện theo các con voi lớn ấy, này các Tỷ-kheo, các con voi trẻ và nhỏ lặn xuống hồ, lấy vòi nhổ lên các củ, rễ sen, không rửa chúng thật sạch, không làm cho chúng sạch bùn rồi ăn chúng. Do vậy, các con voi ấy không được dung sắc và sức mạnh, và vì nhân duyên ấy những con voi đi đến chết hay đi đến đau khổ gần như chết.
Vi-n 8 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây các Trưởng lão Tỷ-kheo vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào làng hay thị trấn để khất thực. Tại đấy họ thuyết pháp. Các gia chủ hoan hỷ làm bổn phận của mình với các vị ấy. Các Tỷ-kheo ấy thọ dụng các lợi đắc, không tham trước, không say đắm, không phạm tội, thấy những nguy hiểm, hiểu sự xuất ly với trí tuệ. Nhờ vậy, các Tỷ-kheo ấy được dung sắc và sức mạnh, và không vì nhân duyên ấy họ đi đến chết hay đi đến đau khổ gần như chết.
Vi-n 9 Nhưng này các Tỷ-kheo, được huấn luyện theo các Trưởng lão Tỷ-kheo, các tân Tỷ-kheo vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào làng hay thị trấn để khất thực.
Vi-n 10 Tại đấy, các vị thuyết pháp. Các gia chủ hoan hỷ làm bổn phận của mình. Các Tỷ-kheo ấy thọ dụng các lợi đắc, tham trước, say đắm, phạm tội, không thấy sự nguy hiểm, không hiểu sự xuất ly với trí tuệ. Do vậy, các vị Tỷ-kheo ấy không được dung sắc và sức mạnh, và vì nhân duyên ấy họ đi đến chết hay đi đến đau khổ gần như chết.
Vi-n 11 Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: “Chúng tôi sẽ thọ dụng các lợi đắc, không tham đắm, không say mê, không phạm tội, thấy những nguy hiểm, hiểu rõ sự xuất ly với trí tuệ”.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena aññataro navo bhikkhu ativelaṁ kulāni upasaṅkamati.
Tamenaṁ bhikkhū evamāhaṁsu:
“māyasmā ativelaṁ kulāni upasaṅkamī”ti.
So bhikkhu bhikkhūhi vuccamāno evamāha:
“ime hi nāma therā bhikkhū kulāni upasaṅkamitabbaṁ maññissanti, kimaṅgaṁ panāhan”ti?
Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“idha, bhante, aññataro navo bhikkhu ativelaṁ kulāni upasaṅkamati.
Tamenaṁ bhikkhū evamāhaṁsu:
‘māyasmā ativelaṁ kulāni upasaṅkamī’ti.
So bhikkhu bhikkhūhi vuccamāno evamāha:
‘ime hi nāma therā bhikkhū kulāni upasaṅkamitabbaṁ maññissanti, kimaṅgaṁ panāhan’”ti.
“Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, araññāyatane mahāsarasī.
Taṁ nāgā upanissāya viharanti.
Te taṁ sarasiṁ ogāhetvā soṇḍāya bhisamuḷālaṁ abbuhetvā suvikkhālitaṁ vikkhāletvā akaddamaṁ saṅkhāditvā ajjhoharanti.
Tesaṁ taṁ vaṇṇāya ceva hoti balāya ca, na ca tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigacchanti maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ.
Tesaṁyeva kho pana, bhikkhave, mahānāgānaṁ anusikkhamānā taruṇā bhiṅkacchāpā taṁ sarasiṁ ogāhetvā soṇḍāya bhisamuḷālaṁ abbuhetvā na suvikkhālitaṁ vikkhāletvā sakaddamaṁ asaṅkhāditvā ajjhoharanti.
Tesaṁ taṁ neva vaṇṇāya hoti na balāya.
Tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigacchanti maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ.
Evameva kho, bhikkhave, idha therā bhikkhū pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya pavisanti.
Te tattha dhammaṁ bhāsanti.
Tesaṁ gihī pasannākāraṁ karonti.
Te taṁ lābhaṁ agadhitā amucchitā anajjhopannā ādīnavadassāvino nissaraṇapaññā paribhuñjanti.
Tesaṁ taṁ vaṇṇāya ceva hoti balāya ca, na ca tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigacchanti maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ.
Tesaṁyeva kho pana, bhikkhave, therānaṁ bhikkhūnaṁ anusikkhamānā navā bhikkhū pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya pavisanti.
Te tattha dhammaṁ bhāsanti.
Tesaṁ gihī pasannākāraṁ karonti.
Te taṁ lābhaṁ gadhitā mucchitā ajjhopannā anādīnavadassāvino anissaraṇapaññā paribhuñjanti.
Tesaṁ taṁ neva vaṇṇāya hoti na balāya, te tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigacchanti maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘agadhitā amucchitā anajjhopannā ādīnavadassāvino nissaraṇapaññā taṁ lābhaṁ paribhuñjissāmā’ti.
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Navamaṁ.