Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở Natika, tại căn nhà bằng gạch.
Vi-n 2 Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”: “Thưa vâng bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 3 Thế Tôn nói như sau:
—Này các Tỷ-kheo, do duyên giới, tưởng sanh khởi, kiến sanh khởi, tầm sanh khởi.
Vi-n 4 Khi nghe nói vậy, Tôn giả Saddha Kaccāyana bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, kiến này giữa những vị không Chánh Ðẳng Chánh Giác, có vị Chánh Ðẳng Chánh Giác. Bạch Thế Tôn, kiến này do duyên gì được hiển lộ?
Vi-n 5 —Lớn thay, này Kaccāyana, là giới này, tức là vô minh giới.
Vi-n 6 Này Kaccāyana, do duyên liệt (hìna) giới, liệt tưởng, liệt kiến, liệt tầm, liệt tư (cetanà), liệt hy vọng (patthanà), liệt ước nguyện, liệt nhân (puggalà), liệt ngữ sanh khởi. Liệt là điều vị ấy nói, vị ấy thuyết, vị ấy trình bày, vị ấy đề xướng, vị ấy hiển thị, vị ấy phân biệt, vị ấy tuyên thị. Ta nói rằng liệt là sự thọ sanh (uppatti) của vị ấy.
Vi-n 7 Này Kaccāyana, do duyên trung giới, trung tưởng, trung kiến, trung tầm, trung tư, trung hy vọng, trung ước nguyện, trung nhân, trung ngữ sanh khởi. Trung là điều vị ấy nói, vị ấy thuyết, vị ấy trình bày, vị ấy đề xướng, vị ấy hiển thị, vị ấy phân biệt, vị ấy tuyên thị. Ta nói rằng trung là sự thọ sanh của vị ấy.
Vi-n 8 Này Kaccāyana, do duyên thắng giới, thắng tưởng, thắng kiến, thắng tầm, thắng tư, thắng hy vọng, thắng ước nguyện, thắng nhân, thắng ngữ sanh khởi. Thắng là điều vị ấy nói, vị ấy thuyết, vị ấy trình bày, vị ấy đề xướng, vị ấy hiển thị, vị ấy phân biệt, vị ấy tuyên thị. Ta nói rằng thắng là sự thọ sanh của vị ấy.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā ñātike viharati giñjakāvasathe.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Dhātuṁ, bhikkhave, paṭicca uppajjati saññā, uppajjati diṭṭhi, uppajjati vitakko”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā kaccāno bhagavantaṁ etadavoca:
“yāyaṁ, bhante, diṭṭhi:
‘asammāsambuddhesu sammāsambuddhā’ti, ayaṁ nu kho, bhante, diṭṭhi kiṁ paṭicca paññāyatī”ti?
“Mahati kho esā, kaccāna, dhātu yadidaṁ avijjādhātu.
Hīnaṁ, kaccāna, dhātuṁ paṭicca uppajjati hīnā saññā, hīnā diṭṭhi, hīno vitakko, hīnā cetanā, hīnā patthanā, hīno paṇidhi, hīno puggalo, hīnā vācā;
hīnaṁ ācikkhati deseti paññapeti paṭṭhapeti vivarati vibhajati uttānīkaroti;
hīnā tassa upapattīti vadāmi.
Majjhimaṁ, kaccāna, dhātuṁ paṭicca uppajjati majjhimā saññā, majjhimā diṭṭhi, majjhimo vitakko, majjhimā cetanā, majjhimā patthanā, majjhimo paṇidhi, majjhimo puggalo, majjhimā vācā;
majjhimaṁ ācikkhati deseti paññapeti paṭṭhapeti vivarati vibhajati uttānīkaroti;
majjhimā tassa upapattīti vadāmi.
Paṇītaṁ, kaccāna, dhātuṁ paṭicca uppajjati paṇītā saññā, paṇītā diṭṭhi, paṇīto vitakko, paṇītā cetanā, paṇītā patthanā, paṇīto paṇidhi, paṇīto puggalo, paṇītā vācā;
paṇītaṁ ācikkhati deseti paññapeti paṭṭhapeti vivarati vibhajati uttānīkaroti;
paṇītā tassa upapattīti vadāmī”ti.
Tatiyaṁ.
At one time the Buddha was staying at Ñātika in the brick house.
There the Buddha addressed the mendicants,
“Mendicants!”
“Venerable sir,” they replied.
The Buddha said this:
“Mendicants, an element gives rise to a perception, a view, and a thought.”
When he said this, Venerable Kaccāna said to the Buddha,
“Sir, regarding
those who are not fully awakened Buddhas, there is a view that they are in fact fully awakened Buddhas. Due to what does this view appear?”
“It’s a mighty thing, Kaccāna, the element of ignorance.
An inferior element gives rise to inferior perception, inferior view, inferior thought, inferior intention, inferior aim, inferior wish, an inferior person, and inferior speech.
One explains, teaches, asserts, establishes, clarifies, analyzes, and reveals the inferior.
I say that their rebirth is inferior.
A middling element gives rise to middling perception, middling view, middling thought, middling intention, middling aim, middling wish, a middling person, and middling speech.
One explains, teaches, asserts, establishes, clarifies, analyzes, and reveals the middling.
I say that their rebirth is middling.
A superior element gives rise to superior perception, superior view, superior thought, superior intention, superior aim, superior wish, a superior person, and superior speech.
One explains, teaches, asserts, establishes, clarifies, analyzes, and reveals the superior.
I say that their rebirth is superior.”
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở Natika, tại căn nhà bằng gạch.
Vi-n 2 Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”: “Thưa vâng bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 3 Thế Tôn nói như sau:
—Này các Tỷ-kheo, do duyên giới, tưởng sanh khởi, kiến sanh khởi, tầm sanh khởi.
Vi-n 4 Khi nghe nói vậy, Tôn giả Saddha Kaccāyana bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, kiến này giữa những vị không Chánh Ðẳng Chánh Giác, có vị Chánh Ðẳng Chánh Giác. Bạch Thế Tôn, kiến này do duyên gì được hiển lộ?
Vi-n 5 —Lớn thay, này Kaccāyana, là giới này, tức là vô minh giới.
Vi-n 6 Này Kaccāyana, do duyên liệt (hìna) giới, liệt tưởng, liệt kiến, liệt tầm, liệt tư (cetanà), liệt hy vọng (patthanà), liệt ước nguyện, liệt nhân (puggalà), liệt ngữ sanh khởi. Liệt là điều vị ấy nói, vị ấy thuyết, vị ấy trình bày, vị ấy đề xướng, vị ấy hiển thị, vị ấy phân biệt, vị ấy tuyên thị. Ta nói rằng liệt là sự thọ sanh (uppatti) của vị ấy.
Vi-n 7 Này Kaccāyana, do duyên trung giới, trung tưởng, trung kiến, trung tầm, trung tư, trung hy vọng, trung ước nguyện, trung nhân, trung ngữ sanh khởi. Trung là điều vị ấy nói, vị ấy thuyết, vị ấy trình bày, vị ấy đề xướng, vị ấy hiển thị, vị ấy phân biệt, vị ấy tuyên thị. Ta nói rằng trung là sự thọ sanh của vị ấy.
Vi-n 8 Này Kaccāyana, do duyên thắng giới, thắng tưởng, thắng kiến, thắng tầm, thắng tư, thắng hy vọng, thắng ước nguyện, thắng nhân, thắng ngữ sanh khởi. Thắng là điều vị ấy nói, vị ấy thuyết, vị ấy trình bày, vị ấy đề xướng, vị ấy hiển thị, vị ấy phân biệt, vị ấy tuyên thị. Ta nói rằng thắng là sự thọ sanh của vị ấy.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā ñātike viharati giñjakāvasathe.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Dhātuṁ, bhikkhave, paṭicca uppajjati saññā, uppajjati diṭṭhi, uppajjati vitakko”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā kaccāno bhagavantaṁ etadavoca:
“yāyaṁ, bhante, diṭṭhi:
‘asammāsambuddhesu sammāsambuddhā’ti, ayaṁ nu kho, bhante, diṭṭhi kiṁ paṭicca paññāyatī”ti?
“Mahati kho esā, kaccāna, dhātu yadidaṁ avijjādhātu.
Hīnaṁ, kaccāna, dhātuṁ paṭicca uppajjati hīnā saññā, hīnā diṭṭhi, hīno vitakko, hīnā cetanā, hīnā patthanā, hīno paṇidhi, hīno puggalo, hīnā vācā;
hīnaṁ ācikkhati deseti paññapeti paṭṭhapeti vivarati vibhajati uttānīkaroti;
hīnā tassa upapattīti vadāmi.
Majjhimaṁ, kaccāna, dhātuṁ paṭicca uppajjati majjhimā saññā, majjhimā diṭṭhi, majjhimo vitakko, majjhimā cetanā, majjhimā patthanā, majjhimo paṇidhi, majjhimo puggalo, majjhimā vācā;
majjhimaṁ ācikkhati deseti paññapeti paṭṭhapeti vivarati vibhajati uttānīkaroti;
majjhimā tassa upapattīti vadāmi.
Paṇītaṁ, kaccāna, dhātuṁ paṭicca uppajjati paṇītā saññā, paṇītā diṭṭhi, paṇīto vitakko, paṇītā cetanā, paṇītā patthanā, paṇīto paṇidhi, paṇīto puggalo, paṇītā vācā;
paṇītaṁ ācikkhati deseti paññapeti paṭṭhapeti vivarati vibhajati uttānīkaroti;
paṇītā tassa upapattīti vadāmī”ti.
Tatiyaṁ.