Vi-n 1 Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anāthapiṇḍika.
Vi-n 2 Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: ” —Này các Tỷ-kheo.” ” —Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 3 Thế Tôn nói như sau:
Vi-n 4 —Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, một cuộc chiến dữ dội khởi lên giữa chư Thiên và các Asùra.
Vi-n 5 Rồi này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka gọi chư Thiên ở Tam thập tam thiên:
“ —Này thân hữu, khi các Ông lâm chiến, nếu sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên; lúc ấy, các Ông hãy nhìn nơi đầu ngọn cờ của ta. Khi các Ông nhìn lên đầu ngọn cờ của ta, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược sẽ tiêu diệt.
Vi-n 6 Nếu các Ông không ngó lên đầu ngọn cờ của ta, thời hãy ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Pajāpati. Khi các Ông ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Pajāpati, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, cũng sẽ tiêu diệt.
Vi-n 7 Nếu các Ông không ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Pajāpati, hãy ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Varuṇa. Khi các Ông ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Varuṇa, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên cũng sẽ tiêu diệt.
Vi-n 8 Nếu các Ông không ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Varuṇa, hãy ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Īsāna. Khi các Ông ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Īsāna, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, cũng sẽ tiêu diệt.”
Vi-n 9 Này các Tỷ-kheo, khi họ nhìn lên đầu ngọn cờ của Thiên chủ Sakka, hay khi họ nhìn lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Pajāpati, hay khi họ nhìn lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Varuṇa, hay khi họ nhìn lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Īsāna, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược được khởi lên, có thể sẽ biến diệt và sẽ không biến diệt.
Vi-n 10 Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, vì Thiên chủ Sakka chưa đoạn diệt tham, chưa đoạn diệt sân, chưa đoạn diệt si, còn nhát gan, hoảng hốt, hoảng sợ, hoảng chạy.
Vi-n 11 Và này các Tỷ-kheo, Ta nói như sau: Này các Tỷ-kheo, khi các Ông đi vào rừng, đi đến gốc cây hay đi đến nhà trống, nếu run sợ, hoảng hốt, hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, trong khi ấy hãy niệm nhớ đến Ta: “Ngài là Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn”.
Vi-n 12 Này các Tỷ-kheo, khi các Ông niệm nhớ đến Ta, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, sẽ được tiêu diệt.
Vi-n 13 Nếu các Ông không niệm nhớ đến Ta, hãy niệm nhớ đến Pháp: “Ðây là Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, do người trí tự mình giác hiểu.”
Vi-n 14 Này các Tỷ-kheo, khi các Ông niệm nhớ đến Pháp, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên sẽ tiêu diệt.
Vi-n 15 Nếu các Ông không niệm nhớ đến Pháp, hãy niệm nhớ đến chúng Tăng: “Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Thiện hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Trực hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Chánh hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Như pháp hạnh, tức là bốn đôi, tám chúng. Chúng Tăng đệ tử này của Thế Tôn đáng được cúng dường, đáng được hiến dâng, đáng được bố thí, đáng được chấp tay, là vô thượng phước điền ở trên đời.”
Vi-n 16 Này các Tỷ-kheo, khi các Ông niệm nhớ đến chúng Tăng, thời sợ hãi, hoảng hốt, hay lông tóc dựng ngược có khởi lên sẽ tiêu diệt.
Vi-n 17 Vì sao? Này các Tỷ-kheo, Như Lai, bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri đã ly tham, ly sân, ly si, không nhát gan, không hoảng hốt, không hoảng sợ, không hoảng chạy.
Vi-n 18 Thế Tôn nói như vậy, Thiện Thệ nói vậy xong, bậc Ðạo Sư nói tiếp:
Này các vị Tỷ-kheo,
Trong rừng hay gốc cây,
Hay tại căn nhà trống,
Hãy niệm bậc Chánh Giác.
Các Ông có sợ hãi,
Sợ hãi sẽ tiêu diệt.
Nếu không tư niệm Phật,
Tối thượng chủ ở đời,
Và cũng là Ngưu vương,
Trong thế giới loài Người,
Vậy hãy tư niệm Pháp,
Hướng thượng, khéo tuyên thuyết.
Nếu không tư niệm Pháp,
Hướng thượng, khéo tuyên thuyết,
Vậy hãy tư niệm Tăng,
Là phước điền vô thượng.
Vậy này các Tỷ-kheo,
Như vậy tư niệm Phật,
Tư niệm Pháp và Tăng,
Sợ hãi hay hoảng hốt,
Hay lông tóc dựng ngược,
Không bao giờ khởi lên.
Sāvatthiyaṁ.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, devāsurasaṅgāmo samupabyūḷho ahosi.
Atha kho, bhikkhave, sakko devānamindo deve tāvatiṁse āmantesi:
‘Sace, mārisā, devānaṁ saṅgāmagatānaṁ uppajjeyya bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā, mameva tasmiṁ samaye dhajaggaṁ ullokeyyātha.
Mamañhi vo dhajaggaṁ ullokayataṁ yaṁ bhavissati bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā, so pahīyissati.
No ce me dhajaggaṁ ullokeyyātha, atha pajāpatissa devarājassa dhajaggaṁ ullokeyyātha.
Pajāpatissa hi vo devarājassa dhajaggaṁ ullokayataṁ yaṁ bhavissati bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā, so pahīyissati.
No ce pajāpatissa devarājassa dhajaggaṁ ullokeyyātha, atha varuṇassa devarājassa dhajaggaṁ ullokeyyātha.
Varuṇassa hi vo devarājassa dhajaggaṁ ullokayataṁ yaṁ bhavissati bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā, so pahīyissati.
No ce varuṇassa devarājassa dhajaggaṁ ullokeyyātha, atha īsānassa devarājassa dhajaggaṁ ullokeyyātha.
Īsānassa hi vo devarājassa dhajaggaṁ ullokayataṁ yaṁ bhavissati bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā, so pahīyissatī’ti.
Taṁ kho pana, bhikkhave, sakkassa vā devānamindassa dhajaggaṁ ullokayataṁ, pajāpatissa vā devarājassa dhajaggaṁ ullokayataṁ, varuṇassa vā devarājassa dhajaggaṁ ullokayataṁ, īsānassa vā devarājassa dhajaggaṁ ullokayataṁ yaṁ bhavissati bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā, so pahīyethāpi nopi pahīyetha.
Taṁ kissa hetu?
Sakko hi, bhikkhave, devānamindo avītarāgo avītadoso avītamoho bhīru chambhī utrāsī palāyīti.
Ahañca kho, bhikkhave, evaṁ vadāmi:
‘sace tumhākaṁ, bhikkhave, araññagatānaṁ vā rukkhamūlagatānaṁ vā suññāgāragatānaṁ vā uppajjeyya bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā, mameva tasmiṁ samaye anussareyyātha:
“itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā”ti.
Mamañhi vo, bhikkhave, anussarataṁ yaṁ bhavissati bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā, so pahīyissati.
No ce maṁ anussareyyātha, atha dhammaṁ anussareyyātha:
“svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī”ti.
Dhammañhi vo, bhikkhave, anussarataṁ yaṁ bhavissati bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā, so pahīyissati.
No ce dhammaṁ anussareyyātha, atha saṅghaṁ anussareyyātha:
“suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho ujuppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho ñāyappaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho sāmīcippaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, yadidaṁ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā esa bhagavato sāvakasaṅgho, āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā”ti.
Saṅghañhi vo, bhikkhave, anussarataṁ yaṁ bhavissati bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā, so pahīyissati.
Taṁ kissa hetu?
Tathāgato hi, bhikkhave, arahaṁ sammāsambuddho vītarāgo vītadoso vītamoho abhīru acchambhī anutrāsī apalāyī’”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Araññe rukkhamūle vā,
suññāgāreva bhikkhavo;
Anussaretha sambuddhaṁ,
bhayaṁ tumhāka no siyā.
No ce buddhaṁ sareyyātha,
lokajeṭṭhaṁ narāsabhaṁ;
Atha dhammaṁ sareyyātha,
niyyānikaṁ sudesitaṁ.
No ce dhammaṁ sareyyātha,
niyyānikaṁ sudesitaṁ;
Atha saṅghaṁ sareyyātha,
puññakkhettaṁ anuttaraṁ.
Evaṁ buddhaṁ sarantānaṁ,
Dhammaṁ saṅghañca bhikkhavo;
Bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā,
Lomahaṁso na hessatī”ti.
SC 1At Savatthī. There the Blessed One addressed the bhikkhus thus: “Bhikkhus!”
SC 2“Venerable sir!” those bhikkhus replied. The Blessed One said this:
SC 3“Bhikkhus, once in the past the devas and the asuras were arrayed for battle. Then Sakka, lord of the devas, addressed the Tavatiṁsa devas thus: ‘Dear sirs, when the devas are engaged in battle, sn.i.219 if fear or trepidation or terror should arise, on that occasion you should look up at the crest of my standard. For when you look up at the crest of my standard, whatever fear or trepidation or terror you may have will be abandoned.
SC 4“‘If you cannot look up at the crest of my standard, then you should look up at the crest of the deva-king Pajapati’s standard. For when you look up at the crest of his standard, whatever fear or trepidation or terror you may have will be abandoned.
SC 5“‘If you cannot look up at the crest of the deva-king Pajapati’s standard, then you should look up at the crest of the deva-king Varuṇa’s standard…. If you cannot look up at the crest of the deva-king Varuṇa’s standard, then you should look up at the crest of the deva-king Isana’s standard…. For when you look up at the crest of his standard, whatever fear or trepidation or terror you may have will be abandoned.’
SC 6“Bhikkhus, for those who look up at the crest of the standard of Sakka, lord of the devas; or of Pajapati, the deva-king; or of Varuṇa, the deva-king; or of Isana, the deva-king, whatever fear or trepidation or terror they may have may or may not be abandoned. For what reason? Because Sakka, lord of the devas, is not devoid of lust, not devoid of hatred, not devoid of delusion; he can be timid, petrified, frightened, quick to flee.
SC 7“But, bhikkhus, I say this: If you have gone to a forest or to the foot of a tree or to an empty hut, and fear or trepidation or terror should arise in you, on that occasion you should recollect me thus: ‘The Blessed One is an arahant, perfectly enlightened, accomplished in true knowledge and conduct, fortunate, knower of the world, unsurpassed leader of persons to be tamed, teacher of devas and humans, the Enlightened One, the Blessed One.’ For when you recollect me, bhikkhus, whatever fear or trepidation or terror you may have will be abandoned. sn.i.220
SC 8“If you cannot recollect me, then you should recollect the Dhamma thus: ‘The Dhamma is well expounded by the Blessed One, directly visible, immediate, inviting one to come and see, applicable, to be personally experienced by the wise.’ For when you recollect the Dhamma, bhikkhus, whatever fear or trepidation or terror you may have will be abandoned.
SC 9“If you cannot recollect the Dhamma, then you should recollect the Saṅgha thus: ‘The Saṅgha of the Blessed One’s disciples is practising the good way, practising the straight way, practising the true way, practising the proper way; that is, the four pairs of persons, the eight types of individuals—this Saṅgha of the Blessed One’s disciples is worthy of gifts, worthy of hospitality, worthy of offerings, worthy of reverential salutation, the unsurpassed field of merit for the world.’ For when you recollect the Saṅgha, bhikkhus, whatever fear or trepidation or terror you may have will be abandoned.
SC 10“For what reason? Because, bhikkhus, the Tathagata, the Arahant, the Perfectly Enlightened One is devoid of lust, devoid of hatred, devoid of delusion; he is brave, courageous, bold, ready to stand his place.”
SC 11This is what the Blessed One said. Having said this, the Fortunate One, the Teacher, further said this:
SC 12 “In a forest, at the foot of a tree,
Or in an empty hut, O bhikkhus,
You should recollect the Buddha:
No fear will then arise in you.
SC 13 “But if you cannot recall the Buddha,
Best in the world, the bull of men,
Then you should recall the Dhamma,
Emancipating, well expounded.
SC 14 “But if you cannot recall the Dhamma,
Emancipating, well expounded,
Then you should recall the Saṅgha,
The unsurpassed field of merit.
SC 15 “For those who thus recall the Buddha,
The Dhamma, and the Saṅgha, bhikkhus,
No fear or trepidation will arise,
Nor any grisly terror.”
Vi-n 1 Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anāthapiṇḍika.
Vi-n 2 Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: ” —Này các Tỷ-kheo.” ” —Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 3 Thế Tôn nói như sau:
Vi-n 4 —Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, một cuộc chiến dữ dội khởi lên giữa chư Thiên và các Asùra.
Vi-n 5 Rồi này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka gọi chư Thiên ở Tam thập tam thiên:
“ —Này thân hữu, khi các Ông lâm chiến, nếu sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên; lúc ấy, các Ông hãy nhìn nơi đầu ngọn cờ của ta. Khi các Ông nhìn lên đầu ngọn cờ của ta, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược sẽ tiêu diệt.
Vi-n 6 Nếu các Ông không ngó lên đầu ngọn cờ của ta, thời hãy ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Pajāpati. Khi các Ông ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Pajāpati, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, cũng sẽ tiêu diệt.
Vi-n 7 Nếu các Ông không ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Pajāpati, hãy ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Varuṇa. Khi các Ông ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Varuṇa, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên cũng sẽ tiêu diệt.
Vi-n 8 Nếu các Ông không ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Varuṇa, hãy ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Īsāna. Khi các Ông ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Īsāna, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, cũng sẽ tiêu diệt.”
Vi-n 9 Này các Tỷ-kheo, khi họ nhìn lên đầu ngọn cờ của Thiên chủ Sakka, hay khi họ nhìn lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Pajāpati, hay khi họ nhìn lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Varuṇa, hay khi họ nhìn lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Īsāna, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược được khởi lên, có thể sẽ biến diệt và sẽ không biến diệt.
Vi-n 10 Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, vì Thiên chủ Sakka chưa đoạn diệt tham, chưa đoạn diệt sân, chưa đoạn diệt si, còn nhát gan, hoảng hốt, hoảng sợ, hoảng chạy.
Vi-n 11 Và này các Tỷ-kheo, Ta nói như sau: Này các Tỷ-kheo, khi các Ông đi vào rừng, đi đến gốc cây hay đi đến nhà trống, nếu run sợ, hoảng hốt, hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, trong khi ấy hãy niệm nhớ đến Ta: “Ngài là Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn”.
Vi-n 12 Này các Tỷ-kheo, khi các Ông niệm nhớ đến Ta, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, sẽ được tiêu diệt.
Vi-n 13 Nếu các Ông không niệm nhớ đến Ta, hãy niệm nhớ đến Pháp: “Ðây là Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, do người trí tự mình giác hiểu.”
Vi-n 14 Này các Tỷ-kheo, khi các Ông niệm nhớ đến Pháp, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên sẽ tiêu diệt.
Vi-n 15 Nếu các Ông không niệm nhớ đến Pháp, hãy niệm nhớ đến chúng Tăng: “Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Thiện hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Trực hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Chánh hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Như pháp hạnh, tức là bốn đôi, tám chúng. Chúng Tăng đệ tử này của Thế Tôn đáng được cúng dường, đáng được hiến dâng, đáng được bố thí, đáng được chấp tay, là vô thượng phước điền ở trên đời.”
Vi-n 16 Này các Tỷ-kheo, khi các Ông niệm nhớ đến chúng Tăng, thời sợ hãi, hoảng hốt, hay lông tóc dựng ngược có khởi lên sẽ tiêu diệt.
Vi-n 17 Vì sao? Này các Tỷ-kheo, Như Lai, bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri đã ly tham, ly sân, ly si, không nhát gan, không hoảng hốt, không hoảng sợ, không hoảng chạy.
Vi-n 18 Thế Tôn nói như vậy, Thiện Thệ nói vậy xong, bậc Ðạo Sư nói tiếp:
Này các vị Tỷ-kheo,
Trong rừng hay gốc cây,
Hay tại căn nhà trống,
Hãy niệm bậc Chánh Giác.
Các Ông có sợ hãi,
Sợ hãi sẽ tiêu diệt.
Nếu không tư niệm Phật,
Tối thượng chủ ở đời,
Và cũng là Ngưu vương,
Trong thế giới loài Người,
Vậy hãy tư niệm Pháp,
Hướng thượng, khéo tuyên thuyết.
Nếu không tư niệm Pháp,
Hướng thượng, khéo tuyên thuyết,
Vậy hãy tư niệm Tăng,
Là phước điền vô thượng.
Vậy này các Tỷ-kheo,
Như vậy tư niệm Phật,
Tư niệm Pháp và Tăng,
Sợ hãi hay hoảng hốt,
Hay lông tóc dựng ngược,
Không bao giờ khởi lên.
Sāvatthiyaṁ.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, devāsurasaṅgāmo samupabyūḷho ahosi.
Atha kho, bhikkhave, sakko devānamindo deve tāvatiṁse āmantesi:
‘Sace, mārisā, devānaṁ saṅgāmagatānaṁ uppajjeyya bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā, mameva tasmiṁ samaye dhajaggaṁ ullokeyyātha.
Mamañhi vo dhajaggaṁ ullokayataṁ yaṁ bhavissati bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā, so pahīyissati.
No ce me dhajaggaṁ ullokeyyātha, atha pajāpatissa devarājassa dhajaggaṁ ullokeyyātha.
Pajāpatissa hi vo devarājassa dhajaggaṁ ullokayataṁ yaṁ bhavissati bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā, so pahīyissati.
No ce pajāpatissa devarājassa dhajaggaṁ ullokeyyātha, atha varuṇassa devarājassa dhajaggaṁ ullokeyyātha.
Varuṇassa hi vo devarājassa dhajaggaṁ ullokayataṁ yaṁ bhavissati bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā, so pahīyissati.
No ce varuṇassa devarājassa dhajaggaṁ ullokeyyātha, atha īsānassa devarājassa dhajaggaṁ ullokeyyātha.
Īsānassa hi vo devarājassa dhajaggaṁ ullokayataṁ yaṁ bhavissati bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā, so pahīyissatī’ti.
Taṁ kho pana, bhikkhave, sakkassa vā devānamindassa dhajaggaṁ ullokayataṁ, pajāpatissa vā devarājassa dhajaggaṁ ullokayataṁ, varuṇassa vā devarājassa dhajaggaṁ ullokayataṁ, īsānassa vā devarājassa dhajaggaṁ ullokayataṁ yaṁ bhavissati bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā, so pahīyethāpi nopi pahīyetha.
Taṁ kissa hetu?
Sakko hi, bhikkhave, devānamindo avītarāgo avītadoso avītamoho bhīru chambhī utrāsī palāyīti.
Ahañca kho, bhikkhave, evaṁ vadāmi:
‘sace tumhākaṁ, bhikkhave, araññagatānaṁ vā rukkhamūlagatānaṁ vā suññāgāragatānaṁ vā uppajjeyya bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā, mameva tasmiṁ samaye anussareyyātha:
“itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā”ti.
Mamañhi vo, bhikkhave, anussarataṁ yaṁ bhavissati bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā, so pahīyissati.
No ce maṁ anussareyyātha, atha dhammaṁ anussareyyātha:
“svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī”ti.
Dhammañhi vo, bhikkhave, anussarataṁ yaṁ bhavissati bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā, so pahīyissati.
No ce dhammaṁ anussareyyātha, atha saṅghaṁ anussareyyātha:
“suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho ujuppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho ñāyappaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho sāmīcippaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, yadidaṁ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā esa bhagavato sāvakasaṅgho, āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā”ti.
Saṅghañhi vo, bhikkhave, anussarataṁ yaṁ bhavissati bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā, so pahīyissati.
Taṁ kissa hetu?
Tathāgato hi, bhikkhave, arahaṁ sammāsambuddho vītarāgo vītadoso vītamoho abhīru acchambhī anutrāsī apalāyī’”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Araññe rukkhamūle vā,
suññāgāreva bhikkhavo;
Anussaretha sambuddhaṁ,
bhayaṁ tumhāka no siyā.
No ce buddhaṁ sareyyātha,
lokajeṭṭhaṁ narāsabhaṁ;
Atha dhammaṁ sareyyātha,
niyyānikaṁ sudesitaṁ.
No ce dhammaṁ sareyyātha,
niyyānikaṁ sudesitaṁ;
Atha saṅghaṁ sareyyātha,
puññakkhettaṁ anuttaraṁ.
Evaṁ buddhaṁ sarantānaṁ,
Dhammaṁ saṅghañca bhikkhavo;
Bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā,
Lomahaṁso na hessatī”ti.