Vi-n 1 … Trú ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn …
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Có bao nhiêu kiếp, bạch Thế Tôn, đã đi qua, đã vượt qua?
Vi-n 4 —Rất nhiều, này các Tỷ-kheo, là những kiếp đã đi qua, đã vượt qua. Thật không dễ gì để có thể đếm chúng được là một vài kiếp, một vài trăm kiếp, một vài ngàn kiếp, một vài trăm ngàn kiếp.
Vi-n 5 —Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể cho một ví dụ được không?
Vi-n 6 —Có thể được, này các Tỷ-kheo. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có bốn vị đệ tử, tuổi thọ một trăm tuổi, sống đến một trăm năm. Cứ mỗi ngày họ nhớ đến trăm ngàn kiếp, này các Tỷ-kheo, các kiếp được họ nhớ đến là vậy. Bốn đệ tử ấy tuổi thọ một trăm tuổi, sống đến một trăm năm, sau một trăm năm đi đến mệnh chung.
Vi-n 7 Nhiều như vậy, này các Tỷ-kheo, là những kiếp đã đi qua, đã vượt qua. Thật không dễ gì để có thể đếm chúng được là một vài kiếp, một vài trăm kiếp, một vài ngàn kiếp, một vài trăm ngàn kiếp.
Vi-n 8 Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo … là vừa đủ để được giải thoát.
Sāvatthiyaṁ viharati.
Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā …pe… ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“kīvabahukā nu kho, bhante, kappā abbhatītā atikkantā”ti?
“Bahukā kho, bhikkhave, kappā abbhatītā atikkantā.
Te na sukarā saṅkhātuṁ:
‘ettakā kappā iti vā, ettakāni kappasatāni iti vā, ettakāni kappasahassāni iti vā, ettakāni kappasatasahassāni iti vā’”ti.
“Sakkā pana, bhante, upamaṁ kātun”ti?
“Sakkā, bhikkhave”ti bhagavā avoca.
“Idhassu, bhikkhave, cattāro sāvakā vassasatāyukā vassasatajīvino.
Te divase divase kappasatasahassaṁ kappasatasahassaṁ anussareyyuṁ.
Ananussaritāva, bhikkhave, tehi kappā assu, atha kho te cattāro sāvakā vassasatāyukā vassasatajīvino vassasatassa accayena kālaṁ kareyyuṁ.
Evaṁ bahukā kho, bhikkhave, kappā abbhatītā atikkantā.
Te na sukarā saṅkhātuṁ:
‘ettakā kappā iti vā, ettakāni kappasatāni iti vā, ettakāni kappasahassāni iti vā, ettakāni kappasatasahassāni iti vā’ti.
Taṁ kissa hetu?
Anamataggoyaṁ, bhikkhave, saṁsāro …pe…
alaṁ vimuccitun”ti.
Sattamaṁ.
At Sāvatthī.
Then several mendicants went up to the Buddha … and asked him,
“Sir, how many eons have passed?”
“Mendicants, many eons have passed.
It’s not easy to calculate
how many eons have passed, how many hundreds or thousands or hundreds of thousands of eons.”
“But sir, is it possible to give a simile?”
“It’s possible,” said the Buddha.
“Suppose there were four disciples with a lifespan of a hundred years.
And each day they would each recollect a hundred thousand eons.
Those four disciples would pass away after a hundred years and there would still be eons that they haven’t recollected.
That’s how many eons have passed.
It’s not easy to calculate
how many eons have passed, how many hundreds or thousands or hundreds of thousands of eons.
Why is that?
This transmigration has no known beginning. …
This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions.”
Vi-n 1 … Trú ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn …
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Có bao nhiêu kiếp, bạch Thế Tôn, đã đi qua, đã vượt qua?
Vi-n 4 —Rất nhiều, này các Tỷ-kheo, là những kiếp đã đi qua, đã vượt qua. Thật không dễ gì để có thể đếm chúng được là một vài kiếp, một vài trăm kiếp, một vài ngàn kiếp, một vài trăm ngàn kiếp.
Vi-n 5 —Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể cho một ví dụ được không?
Vi-n 6 —Có thể được, này các Tỷ-kheo. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có bốn vị đệ tử, tuổi thọ một trăm tuổi, sống đến một trăm năm. Cứ mỗi ngày họ nhớ đến trăm ngàn kiếp, này các Tỷ-kheo, các kiếp được họ nhớ đến là vậy. Bốn đệ tử ấy tuổi thọ một trăm tuổi, sống đến một trăm năm, sau một trăm năm đi đến mệnh chung.
Vi-n 7 Nhiều như vậy, này các Tỷ-kheo, là những kiếp đã đi qua, đã vượt qua. Thật không dễ gì để có thể đếm chúng được là một vài kiếp, một vài trăm kiếp, một vài ngàn kiếp, một vài trăm ngàn kiếp.
Vi-n 8 Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo … là vừa đủ để được giải thoát.
Sāvatthiyaṁ viharati.
Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā …pe… ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“kīvabahukā nu kho, bhante, kappā abbhatītā atikkantā”ti?
“Bahukā kho, bhikkhave, kappā abbhatītā atikkantā.
Te na sukarā saṅkhātuṁ:
‘ettakā kappā iti vā, ettakāni kappasatāni iti vā, ettakāni kappasahassāni iti vā, ettakāni kappasatasahassāni iti vā’”ti.
“Sakkā pana, bhante, upamaṁ kātun”ti?
“Sakkā, bhikkhave”ti bhagavā avoca.
“Idhassu, bhikkhave, cattāro sāvakā vassasatāyukā vassasatajīvino.
Te divase divase kappasatasahassaṁ kappasatasahassaṁ anussareyyuṁ.
Ananussaritāva, bhikkhave, tehi kappā assu, atha kho te cattāro sāvakā vassasatāyukā vassasatajīvino vassasatassa accayena kālaṁ kareyyuṁ.
Evaṁ bahukā kho, bhikkhave, kappā abbhatītā atikkantā.
Te na sukarā saṅkhātuṁ:
‘ettakā kappā iti vā, ettakāni kappasatāni iti vā, ettakāni kappasahassāni iti vā, ettakāni kappasatasahassāni iti vā’ti.
Taṁ kissa hetu?
Anamataggoyaṁ, bhikkhave, saṁsāro …pe…
alaṁ vimuccitun”ti.
Sattamaṁ.