Vi-n 1 Nhân duyên tại Sāvatthi.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Bà-la-môn tên Mànatthada trú ở Sāvatthi. Vị này không cung kính mẹ, không cung kính cha, không cung kính Ðạo sư, không cung kính anh trưởng.
Vi-n 3 Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang thuyết pháp, có đại chúng đoanh vây.
Vi-n 4 Rồi Bà-la-môn Mànatthada suy nghĩ như sau: “Sa-môn Gotama nay đang thuyết pháp có đại chúng đoanh vây. Vậy ta hãy đi đến Sa-môn Gotama. Nếu Sa-môn Gotama nói chuyện với ta, ta cũng sẽ nói chuyện với Sa-môn Gotama. Nếu Sa-môn Gotama không nói chuyện với ta, ta cũng sẽ không nói chuyện với Sa-môn Gotama”.
Vi-n 5 Rồi Bà-la-môn Mànatthada đi đến Thế Tôn; sau khi đến, liền đứng một bên và im lặng.
Vi-n 6 Và Thế Tôn không nói chuyện với Bà-la-môn ấy.
Vi-n 7 Bà-la-môn Mànatthada suy nghĩ: “Sa-môn Gotama này không biết gì hết”, bèn muốn trở về.
Vi-n 8 Rồi Thế Tôn với tâm tư của mình biết được tâm tư của Bà-la-môn Mànatthada, liền nói lên bài kệ với Bà-la-môn Mànatthada:
Hỡi này Bà-la-môn,
Kiêu mạn không có tốt,
Ở đây không có ai,
Bà-la-môn nên biết.
Ông đến, mục đích gì,
Hãy nói lên cho biết?
Vi-n 9 Bà-la-môn Mànatthada suy nghĩ: “Sa-môn Gotama biết tâm tư của ta”, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, lấy miệng hôn chân Thế Tôn, lấy tay thoa vuốt và nói lên tên của mình:
—Tôn giả Gotama, con là Mànatthada. Tôn giả Gotama, con là Mànatthada.
Vi-n 10 Rồi đại chúng ấy tâm khởi lên kinh dị vi diệu: “Thật là vi diệu, thưa Ngài! Thật là hy hữu, thưa Ngài! Bà-la-môn Mànatthada không bao giờ cung kính mẹ, không bao giờ cung kính cha, không bao giờ cung kính Ðạo sư, không bao giờ cung kính anh trưởng, nay lại hạ mình tột cùng như vậy trước Sa-môn Gotama.”
Vi-n 11 Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn Mànatthada:
—Thôi vừa rồi Bà-la-môn. Hãy đứng dậy và ngồi lại trên ghế của Ông. Lòng tín thành của Ông đối với Ta từ đâu đến?
Vi-n 12 Rồi Bà-la-môn Mànatthada sau khi ngồi trên ghế của mình, nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Ðối ai không nên kiêu?
Ðối ai nên kính trọng?
Ðối ai nên tôn kính?
Cúng dường ai, tốt lành?
Vi-n 13 (Thế Tôn):
Với mẹ và với cha,
Với anh nhiều tuổi hơn,
Với thầy là thứ tư,
Không nên sanh kiêu mạn,
Nên kính trọng vị ấy,
Nên tôn kính vị ấy,
Cúng dường họ, tốt lành.
Các bậc A-la-hán,
Thanh lương, lậu hoặc đoạn,
Việc nên làm đã làm,
Hãy nhiếp phục kiêu mạn,
Bậc Vô thượng tôn ấy,
Ông thật nên đảnh lễ.
Vi-n 14 Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Mànatthada bạch Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! … Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
Sāvatthinidānaṁ.
Tena kho pana samayena mānatthaddho nāma brāhmaṇo sāvatthiyaṁ paṭivasati.
So neva mātaraṁ abhivādeti, na pitaraṁ abhivādeti, na ācariyaṁ abhivādeti, na jeṭṭhabhātaraṁ abhivādeti.
Tena kho pana samayena bhagavā mahatiyā parisāya parivuto dhammaṁ deseti.
Atha kho mānatthaddhassa brāhmaṇassa etadahosi:
“ayaṁ kho samaṇo gotamo mahatiyā parisāya parivuto dhammaṁ deseti.
Yannūnāhaṁ yena samaṇo gotamo tenupasaṅkameyyaṁ.
Sace maṁ samaṇo gotamo ālapissati, ahampi taṁ ālapissāmi.
No ce maṁ samaṇo gotamo ālapissati, ahampi nālapissāmī”ti.
Atha kho mānatthaddho brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā tuṇhībhūto ekamantaṁ aṭṭhāsi.
Atha kho bhagavā taṁ nālapi.
Atha kho mānatthaddho brāhmaṇo:
“nāyaṁ samaṇo gotamo kiñci jānātī”ti tatova puna nivattitukāmo ahosi.
Atha kho bhagavā mānatthaddhassa brāhmaṇassa cetasā cetoparivitakkamaññāya mānatthaddhaṁ brāhmaṇaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
“Na mānaṁ brāhmaṇa sādhu,
atthikassīdha brāhmaṇa;
Yena atthena āgacchi,
tamevamanubrūhaye”ti.
Atha kho mānatthaddho brāhmaṇo:
“cittaṁ me samaṇo gotamo jānātī”ti tattheva bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavato pādāni mukhena ca paricumbati pāṇīhi ca parisambāhati, nāmañca sāveti:
“mānatthaddhāhaṁ, bho gotama, mānatthaddhāhaṁ, bho gotamā”ti.
Atha kho sā parisā abbhutavittajātā ahosi:
“acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho.
Ayañhi mānatthaddho brāhmaṇo neva mātaraṁ abhivādeti, na pitaraṁ abhivādeti, na ācariyaṁ abhivādeti, na jeṭṭhabhātaraṁ abhivādeti;
atha ca pana samaṇe gotame evarūpaṁ paramanipaccakāraṁ karotī”ti.
Atha kho bhagavā mānatthaddhaṁ brāhmaṇaṁ etadavoca:
“alaṁ, brāhmaṇa, uṭṭhehi, sake āsane nisīda.
Yato te mayi cittaṁ pasannan”ti.
Atha kho mānatthaddho brāhmaṇo sake āsane nisīditvā bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
“Kesu na mānaṁ kayirātha,
kesu cassa sagāravo;
Kyassa apacitā assu,
kyassu sādhu supūjitā”ti.
“Mātari pitari cāpi,
atho jeṭṭhamhi bhātari;
Ācariye catutthamhi,
tesu na mānaṁ kayirātha;
Tesu assa sagāravo,
tyassa apacitā assu;
Tyassu sādhu supūjitā.
Arahante sītībhūte,
katakicce anāsave;
Nihacca mānaṁ athaddho,
te namasse anuttare”ti.
Evaṁ vutte, mānatthaddho brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bho gotama …pe…
upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
At Sāvatthī.
Now at that time a brahmin named Stuck-Up was residing in Sāvatthī.
He didn’t bow to his mother or father, his tutor, or his oldest brother.
Now, at that time the Buddha was teaching Dhamma, surrounded by a large assembly.
Then Stuck-Up thought,
“The ascetic Gotama is teaching Dhamma, surrounded by a large assembly.
Why don’t I approach him?
If he speaks to me, I’ll speak to him.
But if he doesn’t speak, neither will I.”
Then the brahmin Stuck-Up went up to the Buddha, and stood silently to one side.
But the Buddha didn’t speak to him.
Then Stuck-Up thought,
“This ascetic Gotama knows nothing!” And he wanted to go back from there right away.
Then the Buddha, knowing Stuck-Up’s train of thought, addressed him in verse:
“It’s not good to foster conceit
if you want what’s good for you, brahmin.
You should foster the goal
which brought you here.”
Then Stuck-Up thought,
“The ascetic Gotama knows my mind!” He bowed with his head at the Buddha’s feet, caressing them and covering them with kisses, and pronounced his name:
“Worthy Gotama, I am Stuck-Up! I am Stuck-Up!”
Then that assembly was stunned:
“Oh lord, how incredible, how amazing!
This brahmin Stuck-Up doesn’t bow to his mother or father, his tutor, or his oldest brother.
Yet he shows such utmost deference to the ascetic Gotama!”
Then the Buddha said to the brahmin Stuck-Up,
“Enough, brahmin. Get up, and take your own seat.
For your mind has confidence in me.”
Then Stuck-Up took his seat and said to the Buddha:
“Regarding whom should you not be conceited?
Who should you respect?
Who should you esteem?
Who is it good to venerate properly?”
“Your mother and father,
and also your oldest brother,
with tutor as fourth.
Regarding these you should not be conceited.
They are who you should respect.
They are who you should esteem.
And they’re who it’s good to venerate properly.
And when with bent knee, not stiff with conceit,
show supreme reverence for
the perfected ones—cooled,
their task complete, free of defilements.”
When he had spoken, the brahmin Stuck-Up said to the Buddha,
“Excellent, worthy Gotama …
From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Vi-n 1 Nhân duyên tại Sāvatthi.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Bà-la-môn tên Mànatthada trú ở Sāvatthi. Vị này không cung kính mẹ, không cung kính cha, không cung kính Ðạo sư, không cung kính anh trưởng.
Vi-n 3 Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang thuyết pháp, có đại chúng đoanh vây.
Vi-n 4 Rồi Bà-la-môn Mànatthada suy nghĩ như sau: “Sa-môn Gotama nay đang thuyết pháp có đại chúng đoanh vây. Vậy ta hãy đi đến Sa-môn Gotama. Nếu Sa-môn Gotama nói chuyện với ta, ta cũng sẽ nói chuyện với Sa-môn Gotama. Nếu Sa-môn Gotama không nói chuyện với ta, ta cũng sẽ không nói chuyện với Sa-môn Gotama”.
Vi-n 5 Rồi Bà-la-môn Mànatthada đi đến Thế Tôn; sau khi đến, liền đứng một bên và im lặng.
Vi-n 6 Và Thế Tôn không nói chuyện với Bà-la-môn ấy.
Vi-n 7 Bà-la-môn Mànatthada suy nghĩ: “Sa-môn Gotama này không biết gì hết”, bèn muốn trở về.
Vi-n 8 Rồi Thế Tôn với tâm tư của mình biết được tâm tư của Bà-la-môn Mànatthada, liền nói lên bài kệ với Bà-la-môn Mànatthada:
Hỡi này Bà-la-môn,
Kiêu mạn không có tốt,
Ở đây không có ai,
Bà-la-môn nên biết.
Ông đến, mục đích gì,
Hãy nói lên cho biết?
Vi-n 9 Bà-la-môn Mànatthada suy nghĩ: “Sa-môn Gotama biết tâm tư của ta”, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, lấy miệng hôn chân Thế Tôn, lấy tay thoa vuốt và nói lên tên của mình:
—Tôn giả Gotama, con là Mànatthada. Tôn giả Gotama, con là Mànatthada.
Vi-n 10 Rồi đại chúng ấy tâm khởi lên kinh dị vi diệu: “Thật là vi diệu, thưa Ngài! Thật là hy hữu, thưa Ngài! Bà-la-môn Mànatthada không bao giờ cung kính mẹ, không bao giờ cung kính cha, không bao giờ cung kính Ðạo sư, không bao giờ cung kính anh trưởng, nay lại hạ mình tột cùng như vậy trước Sa-môn Gotama.”
Vi-n 11 Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn Mànatthada:
—Thôi vừa rồi Bà-la-môn. Hãy đứng dậy và ngồi lại trên ghế của Ông. Lòng tín thành của Ông đối với Ta từ đâu đến?
Vi-n 12 Rồi Bà-la-môn Mànatthada sau khi ngồi trên ghế của mình, nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Ðối ai không nên kiêu?
Ðối ai nên kính trọng?
Ðối ai nên tôn kính?
Cúng dường ai, tốt lành?
Vi-n 13 (Thế Tôn):
Với mẹ và với cha,
Với anh nhiều tuổi hơn,
Với thầy là thứ tư,
Không nên sanh kiêu mạn,
Nên kính trọng vị ấy,
Nên tôn kính vị ấy,
Cúng dường họ, tốt lành.
Các bậc A-la-hán,
Thanh lương, lậu hoặc đoạn,
Việc nên làm đã làm,
Hãy nhiếp phục kiêu mạn,
Bậc Vô thượng tôn ấy,
Ông thật nên đảnh lễ.
Vi-n 14 Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Mànatthada bạch Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! … Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
Sāvatthinidānaṁ.
Tena kho pana samayena mānatthaddho nāma brāhmaṇo sāvatthiyaṁ paṭivasati.
So neva mātaraṁ abhivādeti, na pitaraṁ abhivādeti, na ācariyaṁ abhivādeti, na jeṭṭhabhātaraṁ abhivādeti.
Tena kho pana samayena bhagavā mahatiyā parisāya parivuto dhammaṁ deseti.
Atha kho mānatthaddhassa brāhmaṇassa etadahosi:
“ayaṁ kho samaṇo gotamo mahatiyā parisāya parivuto dhammaṁ deseti.
Yannūnāhaṁ yena samaṇo gotamo tenupasaṅkameyyaṁ.
Sace maṁ samaṇo gotamo ālapissati, ahampi taṁ ālapissāmi.
No ce maṁ samaṇo gotamo ālapissati, ahampi nālapissāmī”ti.
Atha kho mānatthaddho brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā tuṇhībhūto ekamantaṁ aṭṭhāsi.
Atha kho bhagavā taṁ nālapi.
Atha kho mānatthaddho brāhmaṇo:
“nāyaṁ samaṇo gotamo kiñci jānātī”ti tatova puna nivattitukāmo ahosi.
Atha kho bhagavā mānatthaddhassa brāhmaṇassa cetasā cetoparivitakkamaññāya mānatthaddhaṁ brāhmaṇaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
“Na mānaṁ brāhmaṇa sādhu,
atthikassīdha brāhmaṇa;
Yena atthena āgacchi,
tamevamanubrūhaye”ti.
Atha kho mānatthaddho brāhmaṇo:
“cittaṁ me samaṇo gotamo jānātī”ti tattheva bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavato pādāni mukhena ca paricumbati pāṇīhi ca parisambāhati, nāmañca sāveti:
“mānatthaddhāhaṁ, bho gotama, mānatthaddhāhaṁ, bho gotamā”ti.
Atha kho sā parisā abbhutavittajātā ahosi:
“acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho.
Ayañhi mānatthaddho brāhmaṇo neva mātaraṁ abhivādeti, na pitaraṁ abhivādeti, na ācariyaṁ abhivādeti, na jeṭṭhabhātaraṁ abhivādeti;
atha ca pana samaṇe gotame evarūpaṁ paramanipaccakāraṁ karotī”ti.
Atha kho bhagavā mānatthaddhaṁ brāhmaṇaṁ etadavoca:
“alaṁ, brāhmaṇa, uṭṭhehi, sake āsane nisīda.
Yato te mayi cittaṁ pasannan”ti.
Atha kho mānatthaddho brāhmaṇo sake āsane nisīditvā bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
“Kesu na mānaṁ kayirātha,
kesu cassa sagāravo;
Kyassa apacitā assu,
kyassu sādhu supūjitā”ti.
“Mātari pitari cāpi,
atho jeṭṭhamhi bhātari;
Ācariye catutthamhi,
tesu na mānaṁ kayirātha;
Tesu assa sagāravo,
tyassa apacitā assu;
Tyassu sādhu supūjitā.
Arahante sītībhūte,
katakicce anāsave;
Nihacca mānaṁ athaddho,
te namasse anuttare”ti.
Evaṁ vutte, mānatthaddho brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bho gotama …pe…
upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.