Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Rồi Ðại đức Ānanda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Ðại đức Ānanda đang ngồi một bên:
—Này Ānanda, Ông có hoan hỷ đối với Sāriputta không?
Vi-n 3 —Bạch Thế Tôn, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỷ đối với Tôn giả Sāriputta? Bạch Thế Tôn, hiền trí là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, đại tuệ là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, quảng tuệ là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, hỷ tuệ là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, tiệp tuệ là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, lợi tuệ là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, quyết trạch tuệ là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, ít dục là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, biết đủ là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, viễn ly là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, bất cộng trú là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, tinh cần, tinh tấn là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, biện tài là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, nghe lời trung ngôn là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, cáo tội trung thực là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, chỉ trích ác pháp là Tôn giả Sāriputta.
Bạch Thế Tôn, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỷ đối với Tôn giả Sāriputta?
Vi-n 4 —Như vậy là phải, này Ānanda. Như vậy là phải, này Ānanda. Này Ānanda, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỷ đối với Sāriputta? Này Ānanda, hiền trí là Sāriputta. Này Ānanda, đại tuệ là Sāriputta. Này Ānanda, quảng tuệ là Sāriputta. Này Ānanda, hỷ tuệ là Sāriputta. Này Ānanda, tiệp tuệ là Sāriputta. Này Ānanda, lợi tuệ là Sāriputta. Này Ānanda, quyết trạch tuệ là Sāriputta. Này Ānanda, ít dục là Sāriputta. Này Ānanda, biết đủ là Sāriputta. Này Ānanda, viễn ly là Sāriputta. Này Ānanda, bất cọng trú là Sāriputta. Này Ānanda, biện tài là Sāriputta. Này Ānanda, nghe lời trung ngôn là Sāriputta. Này Ānanda, cáo tội trung thực là Sāriputta. Này Ānanda, chỉ trích ác pháp là Sāriputta. Này Ānanda, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm, lại có thể không hoan hỷ đối với Sāriputta?
Vi-n 5 Rồi Thiên tử Susima, trong khi được nghe lời tán thán về Tôn giả Sāriputta, với đại chúng Thiên tử đoanh vây, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
Vi-n 6 Ðứng một bên, Thiên tử Susima bạch Thế Tôn:
—Như vậy là phải, bạch Thế Tôn. Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ. Bạch Thế Tôn, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỷ đối với Tôn giả Sāriputta? Bạch Thế Tôn, hiền trí là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, đại tuệ là Tôn giả Sāriputta … Bạch Thế Tôn, chỉ trích ác pháp là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỷ đối với Tôn giả Sāriputta? Bạch Thế Tôn, con đi đến chúng Thiên tử nào, con đều được nghe nhiều lần tiếng nói như vậy: “Hiền trí là Tôn giả Sāriputta … … chỉ trích ác pháp là Tôn giả Sāriputta. Ai không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỷ đối với Tôn giả Sāriputta?”
Vi-n 7 Rồi chúng Thiên tử của Thiên tử Susima, trong khi những lời tán thán Tôn giả Sāriputta được lớn tiếng nói lên, họ hoan hỷ, hỷ duyệt, hân hoan và thân chói sáng màu sắc thù thắng.
Vi-n 8 Ví như một hòn lưu ly bảo châu, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo giũa, khéo mài, được đặt trên một tấm màn màu vàng da cam, chói sáng, chiếu sáng và bừng sáng. Cũng vậy, chúng Thiên tử của Thiên tử Susima, trong khi những lời tán thán Tôn giả Sāriputta được lớn tiếng nói lên, họ hoan hỷ, hỷ duyệt, hân hoan và thân chói sáng màu sắc thù thắng.
Vi-n 9 Ví như một đồ trang sức bằng vàng mịn được một người thợ vàng thiện xảo, khéo đập, khéo mài, đặt trên một tấm màn màu vàng da cam, chói sáng, chiếu sáng và bừng sáng. Cũng vậy, Thiên tử chúng của Thiên tử Susima … … và thân chói sáng màu sắc thù thắng.
Vi-n 10 Ví như trong khi đêm đã gần sáng, sao mai chói sáng, chiếu sáng và bừng sáng. Cũng vậy, chúng Thiên tử của Thiên tử Susima … … và thân chói sáng màu sắc thù thắng.
Vi-n 11 Ví như trong mùa thu, trên trời các vòng mây đã được bay sạch, mặt trời mọc lên giữa trời, đánh tan màn đêm, khắp giữa hư không chói sáng, chiếu sáng và bừng sáng. Cũng vậy, chúng Thiên tử của Thiên tử Susima, trong khi những lời tán thán Tôn giả Sāriputta được lớn tiếng nói lên, họ hoan hỷ, hỷ duyệt, hân hoan và thân chói sáng màu sắc thù thắng.
Vi-n 12 Rồi Thiên tử Susima, nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn về Sāriputta:
Ngài Sāriputta,
Ðược mọi người xác nhận,
Là bậc Ðại hiền trí,
Không phẫn hận, ít dục,
Nhu thuận và điều phục,
Ðược Ðạo Sư tán thán.
Vi-n 13 Rồi Thế Tôn nói lên bài kệ về Sāriputta cho Thiên tử Susima:
Về Sāriputta,
Mọi người đều xác nhận,
Là bậc Ðại hiền trí,
Không phẫn hận, ít dục,
Nhu thuận và điều phục,
Như người khéo điều phục,
Chờ đợi thời giờ đến,
Ðể hưởng quả thuần thục.
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ ānandaṁ bhagavā etadavoca:
“tuyhampi no, ānanda, sāriputto ruccatī”ti?
“Kassa hi nāma, bhante, abālassa aduṭṭhassa amūḷhassa avipallatthacittassa āyasmā sāriputto na rucceyya?
Paṇḍito, bhante, āyasmā sāriputto.
Mahāpañño, bhante, āyasmā sāriputto.
Puthupañño, bhante, āyasmā sāriputto.
Hāsapañño, bhante, āyasmā sāriputto.
Javanapañño, bhante, āyasmā sāriputto.
Tikkhapañño, bhante, āyasmā sāriputto.
Nibbedhikapañño, bhante, āyasmā sāriputto.
Appiccho, bhante, āyasmā sāriputto.
Santuṭṭho, bhante, āyasmā sāriputto.
Pavivitto, bhante, āyasmā sāriputto.
Asaṁsaṭṭho, bhante, āyasmā sāriputto.
Āraddhavīriyo, bhante, āyasmā sāriputto.
Vattā, bhante, āyasmā sāriputto.
Vacanakkhamo, bhante, āyasmā sāriputto.
Codako, bhante, āyasmā sāriputto.
Pāpagarahī, bhante, āyasmā sāriputto.
Kassa hi nāma, bhante, abālassa aduṭṭhassa amūḷhassa avipallatthacittassa āyasmā sāriputto na rucceyyā”ti?
“Evametaṁ, ānanda, evametaṁ, ānanda.
Kassa hi nāma, ānanda, abālassa aduṭṭhassa amūḷhassa avipallatthacittassa sāriputto na rucceyya?
Paṇḍito, ānanda, sāriputto.
Mahāpañño, ānanda, sāriputto.
Puthupañño, ānanda, sāriputto.
Hāsapañño, ānanda, sāriputto.
Javanapañño, ānanda, sāriputto.
Tikkhapañño, ānanda, sāriputto.
Nibbedhikapañño, ānanda, sāriputto.
Appiccho, ānanda, sāriputto.
Santuṭṭho, ānanda, sāriputto.
Pavivitto, ānanda, sāriputto.
Asaṁsaṭṭho, ānanda, sāriputto.
Āraddhavīriyo, ānanda, sāriputto.
Vattā, ānanda, sāriputto.
Vacanakkhamo, ānanda, sāriputto.
Codako, ānanda, sāriputto.
Pāpagarahī, ānanda, sāriputto.
Kassa hi nāma, ānanda, abālassa aduṭṭhassa amūḷhassa avipallatthacittassa sāriputto na rucceyyā”ti?
Atha kho susimo devaputto āyasmato sāriputtassa vaṇṇe bhaññamāne mahatiyā devaputtaparisāya parivuto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho susimo devaputto bhagavantaṁ etadavoca:
“Evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugata.
Kassa hi nāma, bhante, abālassa aduṭṭhassa amūḷhassa avipallatthacittassa āyasmā sāriputto na rucceyya?
Paṇḍito, bhante, āyasmā sāriputto.
Mahāpañño, bhante, puthupañño, bhante, hāsapañño, bhante, javanapañño, bhante, tikkhapañño, bhante, nibbedhikapañño, bhante, appiccho, bhante, santuṭṭho, bhante, pavivitto, bhante, asaṁsaṭṭho, bhante, āraddhavīriyo, bhante, vattā, bhante, vacanakkhamo, bhante, codako, bhante, pāpagarahī, bhante, āyasmā sāriputto.
Kassa hi nāma, bhante, abālassa aduṭṭhassa amūḷhassa avipallatthacittassa āyasmā sāriputto na rucceyya?
Ahampi hi, bhante, yaññadeva devaputtaparisaṁ upasaṅkamiṁ, etadeva bahulaṁ saddaṁ suṇāmi:
‘paṇḍito āyasmā sāriputto;
mahāpañño āyasmā, puthupañño āyasmā, hāsapañño āyasmā, javanapañño āyasmā, tikkhapañño āyasmā, nibbedhikapañño āyasmā, appiccho āyasmā, santuṭṭho āyasmā, pavivitto āyasmā, asaṁsaṭṭho āyasmā, āraddhavīriyo āyasmā, vattā āyasmā, vacanakkhamo āyasmā, codako āyasmā, pāpagarahī āyasmā sāriputto’ti.
Kassa hi nāma, bhante, abālassa aduṭṭhassa amūḷhassa avipallatthacittassa āyasmā sāriputto na rucceyyā”ti?
Atha kho susimassa devaputtassa devaputtaparisā āyasmato sāriputtassa vaṇṇe bhaññamāne attamanā pamuditā pītisomanassajātā uccāvacā vaṇṇanibhā upadaṁseti.
Seyyathāpi nāma maṇi veḷuriyo subho jātimā aṭṭhaṁso suparikammakato paṇḍukambale nikkhitto bhāsate ca tapate ca virocati ca;
evamevaṁ susimassa devaputtassa devaputtaparisā āyasmato sāriputtassa vaṇṇe bhaññamāne attamanā pamuditā pītisomanassajātā uccāvacā vaṇṇanibhā upadaṁseti.
Seyyathāpi nāma nikkhaṁ jambonadaṁ dakkhakammāraputtaukkāmukhasukusalasampahaṭṭhaṁ paṇḍukambale nikkhittaṁ bhāsate ca tapate ca virocati ca;
evamevaṁ susimassa devaputtassa devaputtaparisā āyasmato sāriputtassa vaṇṇe bhaññamāne attamanā pamuditā pītisomanassajātā uccāvacā vaṇṇanibhā upadaṁseti.
Seyyathāpi nāma saradasamaye viddhe vigatavalāhake deve rattiyā paccūsasamayaṁ osadhitārakā bhāsate ca tapate ca virocati ca;
evamevaṁ susimassa devaputtassa devaputtaparisā āyasmato sāriputtassa vaṇṇe bhaññamāne attamanā pamuditā pītisomanassajātā uccāvacā vaṇṇanibhā upadaṁseti.
Seyyathāpi nāma saradasamaye viddhe vigatavalāhake deve ādicco nabhaṁ abbhussakkamāno sabbaṁ ākāsagataṁ tamagataṁ abhivihacca bhāsate ca tapate ca virocati ca;
evamevaṁ susimassa devaputtassa devaputtaparisā āyasmato sāriputtassa vaṇṇe bhaññamāne attamanā pamuditā pītisomanassajātā uccāvacā vaṇṇanibhā upadaṁseti.
Atha kho susimo devaputto āyasmantaṁ sāriputtaṁ ārabbha bhagavato santike imaṁ gāthaṁ abhāsi:
“Paṇḍitoti samaññāto,
sāriputto akodhano;
Appiccho sorato danto,
satthuvaṇṇābhato isī”ti.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ sāriputtaṁ ārabbha susimaṁ devaputtaṁ gāthāya paccabhāsi:
“Paṇḍitoti samaññāto,
sāriputto akodhano;
Appiccho sorato danto,
kālaṁ kaṅkhati sudanto”ti.
At Sāvatthī.
Then Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him,
“Ānanda, do you endorse Sāriputta?”
“Sir, who on earth would not endorse Venerable Sāriputta unless they’re a fool, a hater, delusional, or mentally deranged?
Venerable Sāriputta is astute,
he has great wisdom,
widespread wisdom,
laughing wisdom,
swift wisdom,
sharp wisdom,
and penetrating wisdom.
He has few wishes,
he’s content,
secluded,
aloof,
and energetic.
He gives advice
and accepts advice;
he accuses
and criticizes wickedness.
Who on earth would not endorse Venerable Sāriputta unless they’re a fool, a hater, delusional, or mentally deranged?”
“That’s so true, Ānanda! That’s so true!
Who on earth would not endorse Venerable Sāriputta unless they’re a fool, a hater, delusional, or mentally deranged?”
And the Buddha repeated all of Ānanda’s terms of praise.
While this praise of Sāriputta was being spoken, the godling Susīma approached the Buddha, escorted by a large assembly of godlings. He bowed, stood to one side, and said to him:
“That’s so true, Blessed One! That’s so true, Holy One!
Who on earth would not endorse Venerable Sāriputta unless they’re a fool, a hater, delusional, or mentally deranged?”
And he too repeated all the terms of praise of Sāriputta, adding,
“For I too, sir, whenever I go to an assembly of godlings, frequently hear the same terms of praise.”
While this praise of Sāriputta was being spoken, the godlings of Susīma’s assembly—uplifted and overjoyed, full of rapture and happiness—displayed a rainbow of bright colors.
Suppose there was a beryl gem that was naturally lustrous, eight-faceted, well-worked. When placed on a cream rug it would shine and glow and radiate.
In the same way, the godlings of Susīma’s assembly displayed a rainbow of bright colors.
Suppose there was a pendant of Black Plum River gold, fashioned by a deft smith, well wrought in the forge. When placed on a cream rug it would shine and glow and radiate.
In the same way, the godlings of Susīma’s assembly displayed a rainbow of bright colors.
Suppose that in the autumn the heavens were clear and cloudless. At the crack of dawn, the Morning Star shines and glows and radiates.
In the same way, the godlings of Susīma’s assembly displayed a rainbow of bright colors.
Suppose that in the autumn the heavens were clear and cloudless. As the sun is rising to the firmament, having dispelled all the darkness of space, shines and glows and radiates.
In the same way, the godlings of Susīma’s assembly displayed a rainbow of bright colors.
Then the godling Susīma spoke this verse about Venerable Sāriputta in the Buddha’s presence:
“He’s considered astute,
Sāriputta, free of anger.
Few in wishes, gentle, tamed,
the seer shines in the Teacher’s praise!”
Then the Buddha replied to Susīma with this verse about Venerable Sāriputta:
“He’s considered astute,
Sāriputta, free of anger.
Few in wishes, gentle, tamed;
developed and well-tamed, he awaits his time.”
Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Rồi Ðại đức Ānanda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Ðại đức Ānanda đang ngồi một bên:
—Này Ānanda, Ông có hoan hỷ đối với Sāriputta không?
Vi-n 3 —Bạch Thế Tôn, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỷ đối với Tôn giả Sāriputta? Bạch Thế Tôn, hiền trí là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, đại tuệ là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, quảng tuệ là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, hỷ tuệ là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, tiệp tuệ là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, lợi tuệ là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, quyết trạch tuệ là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, ít dục là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, biết đủ là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, viễn ly là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, bất cộng trú là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, tinh cần, tinh tấn là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, biện tài là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, nghe lời trung ngôn là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, cáo tội trung thực là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, chỉ trích ác pháp là Tôn giả Sāriputta.
Bạch Thế Tôn, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỷ đối với Tôn giả Sāriputta?
Vi-n 4 —Như vậy là phải, này Ānanda. Như vậy là phải, này Ānanda. Này Ānanda, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỷ đối với Sāriputta? Này Ānanda, hiền trí là Sāriputta. Này Ānanda, đại tuệ là Sāriputta. Này Ānanda, quảng tuệ là Sāriputta. Này Ānanda, hỷ tuệ là Sāriputta. Này Ānanda, tiệp tuệ là Sāriputta. Này Ānanda, lợi tuệ là Sāriputta. Này Ānanda, quyết trạch tuệ là Sāriputta. Này Ānanda, ít dục là Sāriputta. Này Ānanda, biết đủ là Sāriputta. Này Ānanda, viễn ly là Sāriputta. Này Ānanda, bất cọng trú là Sāriputta. Này Ānanda, biện tài là Sāriputta. Này Ānanda, nghe lời trung ngôn là Sāriputta. Này Ānanda, cáo tội trung thực là Sāriputta. Này Ānanda, chỉ trích ác pháp là Sāriputta. Này Ānanda, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm, lại có thể không hoan hỷ đối với Sāriputta?
Vi-n 5 Rồi Thiên tử Susima, trong khi được nghe lời tán thán về Tôn giả Sāriputta, với đại chúng Thiên tử đoanh vây, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
Vi-n 6 Ðứng một bên, Thiên tử Susima bạch Thế Tôn:
—Như vậy là phải, bạch Thế Tôn. Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ. Bạch Thế Tôn, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỷ đối với Tôn giả Sāriputta? Bạch Thế Tôn, hiền trí là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, đại tuệ là Tôn giả Sāriputta … Bạch Thế Tôn, chỉ trích ác pháp là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỷ đối với Tôn giả Sāriputta? Bạch Thế Tôn, con đi đến chúng Thiên tử nào, con đều được nghe nhiều lần tiếng nói như vậy: “Hiền trí là Tôn giả Sāriputta … … chỉ trích ác pháp là Tôn giả Sāriputta. Ai không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỷ đối với Tôn giả Sāriputta?”
Vi-n 7 Rồi chúng Thiên tử của Thiên tử Susima, trong khi những lời tán thán Tôn giả Sāriputta được lớn tiếng nói lên, họ hoan hỷ, hỷ duyệt, hân hoan và thân chói sáng màu sắc thù thắng.
Vi-n 8 Ví như một hòn lưu ly bảo châu, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo giũa, khéo mài, được đặt trên một tấm màn màu vàng da cam, chói sáng, chiếu sáng và bừng sáng. Cũng vậy, chúng Thiên tử của Thiên tử Susima, trong khi những lời tán thán Tôn giả Sāriputta được lớn tiếng nói lên, họ hoan hỷ, hỷ duyệt, hân hoan và thân chói sáng màu sắc thù thắng.
Vi-n 9 Ví như một đồ trang sức bằng vàng mịn được một người thợ vàng thiện xảo, khéo đập, khéo mài, đặt trên một tấm màn màu vàng da cam, chói sáng, chiếu sáng và bừng sáng. Cũng vậy, Thiên tử chúng của Thiên tử Susima … … và thân chói sáng màu sắc thù thắng.
Vi-n 10 Ví như trong khi đêm đã gần sáng, sao mai chói sáng, chiếu sáng và bừng sáng. Cũng vậy, chúng Thiên tử của Thiên tử Susima … … và thân chói sáng màu sắc thù thắng.
Vi-n 11 Ví như trong mùa thu, trên trời các vòng mây đã được bay sạch, mặt trời mọc lên giữa trời, đánh tan màn đêm, khắp giữa hư không chói sáng, chiếu sáng và bừng sáng. Cũng vậy, chúng Thiên tử của Thiên tử Susima, trong khi những lời tán thán Tôn giả Sāriputta được lớn tiếng nói lên, họ hoan hỷ, hỷ duyệt, hân hoan và thân chói sáng màu sắc thù thắng.
Vi-n 12 Rồi Thiên tử Susima, nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn về Sāriputta:
Ngài Sāriputta,
Ðược mọi người xác nhận,
Là bậc Ðại hiền trí,
Không phẫn hận, ít dục,
Nhu thuận và điều phục,
Ðược Ðạo Sư tán thán.
Vi-n 13 Rồi Thế Tôn nói lên bài kệ về Sāriputta cho Thiên tử Susima:
Về Sāriputta,
Mọi người đều xác nhận,
Là bậc Ðại hiền trí,
Không phẫn hận, ít dục,
Nhu thuận và điều phục,
Như người khéo điều phục,
Chờ đợi thời giờ đến,
Ðể hưởng quả thuần thục.
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ ānandaṁ bhagavā etadavoca:
“tuyhampi no, ānanda, sāriputto ruccatī”ti?
“Kassa hi nāma, bhante, abālassa aduṭṭhassa amūḷhassa avipallatthacittassa āyasmā sāriputto na rucceyya?
Paṇḍito, bhante, āyasmā sāriputto.
Mahāpañño, bhante, āyasmā sāriputto.
Puthupañño, bhante, āyasmā sāriputto.
Hāsapañño, bhante, āyasmā sāriputto.
Javanapañño, bhante, āyasmā sāriputto.
Tikkhapañño, bhante, āyasmā sāriputto.
Nibbedhikapañño, bhante, āyasmā sāriputto.
Appiccho, bhante, āyasmā sāriputto.
Santuṭṭho, bhante, āyasmā sāriputto.
Pavivitto, bhante, āyasmā sāriputto.
Asaṁsaṭṭho, bhante, āyasmā sāriputto.
Āraddhavīriyo, bhante, āyasmā sāriputto.
Vattā, bhante, āyasmā sāriputto.
Vacanakkhamo, bhante, āyasmā sāriputto.
Codako, bhante, āyasmā sāriputto.
Pāpagarahī, bhante, āyasmā sāriputto.
Kassa hi nāma, bhante, abālassa aduṭṭhassa amūḷhassa avipallatthacittassa āyasmā sāriputto na rucceyyā”ti?
“Evametaṁ, ānanda, evametaṁ, ānanda.
Kassa hi nāma, ānanda, abālassa aduṭṭhassa amūḷhassa avipallatthacittassa sāriputto na rucceyya?
Paṇḍito, ānanda, sāriputto.
Mahāpañño, ānanda, sāriputto.
Puthupañño, ānanda, sāriputto.
Hāsapañño, ānanda, sāriputto.
Javanapañño, ānanda, sāriputto.
Tikkhapañño, ānanda, sāriputto.
Nibbedhikapañño, ānanda, sāriputto.
Appiccho, ānanda, sāriputto.
Santuṭṭho, ānanda, sāriputto.
Pavivitto, ānanda, sāriputto.
Asaṁsaṭṭho, ānanda, sāriputto.
Āraddhavīriyo, ānanda, sāriputto.
Vattā, ānanda, sāriputto.
Vacanakkhamo, ānanda, sāriputto.
Codako, ānanda, sāriputto.
Pāpagarahī, ānanda, sāriputto.
Kassa hi nāma, ānanda, abālassa aduṭṭhassa amūḷhassa avipallatthacittassa sāriputto na rucceyyā”ti?
Atha kho susimo devaputto āyasmato sāriputtassa vaṇṇe bhaññamāne mahatiyā devaputtaparisāya parivuto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho susimo devaputto bhagavantaṁ etadavoca:
“Evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugata.
Kassa hi nāma, bhante, abālassa aduṭṭhassa amūḷhassa avipallatthacittassa āyasmā sāriputto na rucceyya?
Paṇḍito, bhante, āyasmā sāriputto.
Mahāpañño, bhante, puthupañño, bhante, hāsapañño, bhante, javanapañño, bhante, tikkhapañño, bhante, nibbedhikapañño, bhante, appiccho, bhante, santuṭṭho, bhante, pavivitto, bhante, asaṁsaṭṭho, bhante, āraddhavīriyo, bhante, vattā, bhante, vacanakkhamo, bhante, codako, bhante, pāpagarahī, bhante, āyasmā sāriputto.
Kassa hi nāma, bhante, abālassa aduṭṭhassa amūḷhassa avipallatthacittassa āyasmā sāriputto na rucceyya?
Ahampi hi, bhante, yaññadeva devaputtaparisaṁ upasaṅkamiṁ, etadeva bahulaṁ saddaṁ suṇāmi:
‘paṇḍito āyasmā sāriputto;
mahāpañño āyasmā, puthupañño āyasmā, hāsapañño āyasmā, javanapañño āyasmā, tikkhapañño āyasmā, nibbedhikapañño āyasmā, appiccho āyasmā, santuṭṭho āyasmā, pavivitto āyasmā, asaṁsaṭṭho āyasmā, āraddhavīriyo āyasmā, vattā āyasmā, vacanakkhamo āyasmā, codako āyasmā, pāpagarahī āyasmā sāriputto’ti.
Kassa hi nāma, bhante, abālassa aduṭṭhassa amūḷhassa avipallatthacittassa āyasmā sāriputto na rucceyyā”ti?
Atha kho susimassa devaputtassa devaputtaparisā āyasmato sāriputtassa vaṇṇe bhaññamāne attamanā pamuditā pītisomanassajātā uccāvacā vaṇṇanibhā upadaṁseti.
Seyyathāpi nāma maṇi veḷuriyo subho jātimā aṭṭhaṁso suparikammakato paṇḍukambale nikkhitto bhāsate ca tapate ca virocati ca;
evamevaṁ susimassa devaputtassa devaputtaparisā āyasmato sāriputtassa vaṇṇe bhaññamāne attamanā pamuditā pītisomanassajātā uccāvacā vaṇṇanibhā upadaṁseti.
Seyyathāpi nāma nikkhaṁ jambonadaṁ dakkhakammāraputtaukkāmukhasukusalasampahaṭṭhaṁ paṇḍukambale nikkhittaṁ bhāsate ca tapate ca virocati ca;
evamevaṁ susimassa devaputtassa devaputtaparisā āyasmato sāriputtassa vaṇṇe bhaññamāne attamanā pamuditā pītisomanassajātā uccāvacā vaṇṇanibhā upadaṁseti.
Seyyathāpi nāma saradasamaye viddhe vigatavalāhake deve rattiyā paccūsasamayaṁ osadhitārakā bhāsate ca tapate ca virocati ca;
evamevaṁ susimassa devaputtassa devaputtaparisā āyasmato sāriputtassa vaṇṇe bhaññamāne attamanā pamuditā pītisomanassajātā uccāvacā vaṇṇanibhā upadaṁseti.
Seyyathāpi nāma saradasamaye viddhe vigatavalāhake deve ādicco nabhaṁ abbhussakkamāno sabbaṁ ākāsagataṁ tamagataṁ abhivihacca bhāsate ca tapate ca virocati ca;
evamevaṁ susimassa devaputtassa devaputtaparisā āyasmato sāriputtassa vaṇṇe bhaññamāne attamanā pamuditā pītisomanassajātā uccāvacā vaṇṇanibhā upadaṁseti.
Atha kho susimo devaputto āyasmantaṁ sāriputtaṁ ārabbha bhagavato santike imaṁ gāthaṁ abhāsi:
“Paṇḍitoti samaññāto,
sāriputto akodhano;
Appiccho sorato danto,
satthuvaṇṇābhato isī”ti.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ sāriputtaṁ ārabbha susimaṁ devaputtaṁ gāthāya paccabhāsi:
“Paṇḍitoti samaññāto,
sāriputto akodhano;
Appiccho sorato danto,
kālaṁ kaṅkhati sudanto”ti.