Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Có sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ. Thế nào là sáu?
Vi-n 3-5. Mắt xúc xứ, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ … Tai … Mũi …
Vi-n 6-7. … Lưỡi … Thân …
Vi-n 8 Ý xúc xứ, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.
Vi-n 9 Sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.
Vi-n 10 Có sáu xúc này, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc. Thế nào là sáu?
Vi-n 11-13. Mắt xúc xứ, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc … Tai … Mũi …
Vi-n 14-15. … Lưỡi … Thân …
Vi-n 16 Ý xúc xứ, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc.
Vi-n 17 Sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc.
Vi-n 18 Thế Tôn nói như vậy. Nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Vi-n 1~1 Hỡi các vị Tỷ-kheo,
Chính sáu xúc xứ này,
Chỗ nào không thâu nhiếp,
Chỗ ấy có đau khổ.
Những ai học biết được,
Chế ngự, phòng hộ chúng,
Với lòng tin làm bạn,
Sống thoát ly dục vọng.
Vi-n 2~2 Thấy sắc pháp khả ái,
Thấy sắc không khả ái,
Hãy nhiếp phục đường tham,
Ðối các sắc khả ái,
Chớ khiến ý nhiễm ô:
“Ðối sắc, ta không thích”.
Vi-n 3~3 Sau khi nghe các tiếng,
Khả ái, không khả ái,
Chớ để tâm say mê,
Với các tiếng khả ái.
Hãy nhiếp phục lòng sân,
Với tiếng không khả ái,
Chớ khiến ý nhiễm ô:
“Ðối tiếng, ta không thích”.
Vi-n 4~4 Sau khi ngửi các hương,
Thơm dịu, thật khả ái,
Sau khi ngửi các hương,
Bất tịnh, thật đáng ghét;
Hãy nhiếp phục lòng sân,
Ðối các hương đáng ghét,
Còn đối hương khả ái,
Chớ để dục chi phối.
Vi-n 5~5 Nếm xong vị ngon ngọt,
Và nếm vị không ngon,
Chớ có sanh tham luyến,
Khi hưởng nếm vị ngon,
Chớ nói lời chống đối,
Khi nếm vị không ngon.
Vi-n 6~6 Khi cảm thọ lạc xúc,
Chớ đắm say tham luyến,
Khi cảm thọ khổ xúc,
Chớ bị xúc động mạnh.
Ðối với cả hai xúc,
Lạc, khổ đều niệm xả,
Không thích, không chống đối,
Bất cứ loại xúc nào.
Vi-n 7~7 Ðối với các người khác,
Mê theo hý luận tưởng,
Họ mê theo hý luận,
Họ hành theo hư tưởng;
Hãy đoạn trừ tất cả,
Gia sự do ý tạo,
Hãy nhiếp các hành động,
Hướng đến hạnh viễn ly.
Vi-n 8~8 Như vậy đối sáu xứ,
Khi ý khéo tu tập,
Nếu có cảm xúc gì,
Tâm không bị dao động.
Tỷ-kheo hãy nhiếp phục,
Cả hai tham sân ấy,
Hãy đến bờ bên kia,
Vượt buộc ràng sanh tử.
Sāvatthinidānaṁ.
“Chayime, bhikkhave, phassāyatanā adantā aguttā arakkhitā asaṁvutā dukkhādhivāhā honti.
Katame cha?
Cakkhu, bhikkhave, phassāyatanaṁ adantaṁ aguttaṁ arakkhitaṁ asaṁvutaṁ dukkhādhivāhaṁ hoti …pe…
jivhā, bhikkhave, phassāyatanaṁ adantaṁ aguttaṁ arakkhitaṁ asaṁvutaṁ dukkhādhivāhaṁ hoti …pe…
mano, bhikkhave, phassāyatanaṁ adantaṁ aguttaṁ arakkhitaṁ asaṁvutaṁ dukkhādhivāhaṁ hoti.
Ime kho, bhikkhave, cha phassāyatanā adantā aguttā arakkhitā asaṁvutā dukkhādhivāhā honti”.
Chayime, bhikkhave, phassāyatanā sudantā suguttā surakkhitā susaṁvutā sukhādhivāhā honti.
Katame cha?
Cakkhu, bhikkhave, phassāyatanaṁ sudantaṁ suguttaṁ surakkhitaṁ susaṁvutaṁ sukhādhivāhaṁ hoti …pe…
jivhā, bhikkhave, phassāyatanaṁ sudantaṁ suguttaṁ surakkhitaṁ susaṁvutaṁ sukhādhivāhaṁ hoti …pe…
mano, bhikkhave, phassāyatanaṁ sudantaṁ suguttaṁ surakkhitaṁ susaṁvutaṁ sukhādhivāhaṁ hoti.
Ime kho, bhikkhave, cha phassāyatanā sudantā suguttā surakkhitā susaṁvutā sukhādhivāhā hontī”ti.
Idamavoca bhagavā …pe…
etadavoca satthā:
“Saḷeva phassāyatanāni bhikkhavo,
Asaṁvuto yattha dukkhaṁ nigacchati;
Tesañca ye saṁvaraṇaṁ avedisuṁ,
Saddhādutiyā viharantānavassutā.
Disvāna rūpāni manoramāni,
Athopi disvāna amanoramāni;
Manorame rāgapathaṁ vinodaye,
Na cāppiyaṁ meti manaṁ padosaye.
Saddañca sutvā dubhayaṁ piyāppiyaṁ,
Piyamhi sadde na samucchito siyā;
Athoppiye dosagataṁ vinodaye,
Na cāppiyaṁ meti manaṁ padosaye.
Gandhañca ghatvā surabhiṁ manoramaṁ,
Athopi ghatvā asuciṁ akantiyaṁ;
Akantiyasmiṁ paṭighaṁ vinodaye,
Chandānunīto na ca kantiye siyā.
Rasañca bhotvāna asāditañca sāduṁ,
Athopi bhotvāna asādumekadā;
Sāduṁ rasaṁ nājjhosāya bhuñje,
Virodhamāsādusu nopadaṁsaye.
Phassena phuṭṭho na sukhena majje,
Dukkhena phuṭṭhopi na sampavedhe;
Phassadvayaṁ sukhadukkhe upekkhe,
Anānuruddho aviruddha kenaci.
Papañcasaññā itarītarā narā,
Papañcayantā upayanti saññino;
Manomayaṁ gehasitañca sabbaṁ,
Panujja nekkhammasitaṁ irīyati.
Evaṁ mano chassu yadā subhāvito,
Phuṭṭhassa cittaṁ na vikampate kvaci;
Te rāgadose abhibhuyya bhikkhavo,
Bhavattha jātimaraṇassa pāragā”ti.
Paṭhamaṁ.
SC 1At Savatthi. “Bhikkhus, these six bases for contact—if untamed, unguarded, unprotected, unrestrained—are bringers of suffering. What six?
SC 2“The eye, bhikkhus, as a base for contact—if untamed, unguarded, unprotected, unrestrained—is a bringer of suffering. The ear as a base for contact … The mind as a base for contact … is a bringer of suffering. These six bases for contact—if untamed, unguarded, unprotected, unrestrained—are bringers of suffering.
SC 3“Bhikkhus, these six bases for contact—if well tamed, well guarded, well protected, well restrained—are bringers of happiness. What six?
SC 4“The eye, bhikkhus, as a base for contact—if well tamed, well guarded, well protected, well restrained—is a bringer of happiness. The ear as a base for contact … The mind as a base for contact … is a bringer of happiness. These six bases for contact—if well tamed, well guarded, well protected, well restrained—are bringers of happiness.”
SC 5This is what the Blessed One said. Having said this, the Fortunate One, the Teacher, further said this:
SC 6“Just six, O bhikkhus, are the bases for contact,
Where one unrestrained meets with suffering.
Those who know how to restrain them
Dwell uncorrupted, with faith their partner.
SC 7“Having seen forms that delight the mind
And having seen those that give no delight,
Dispel the path of lust towards the delightful
And do not soil the mind by thinking,
‘The other is displeasing to me.’ sn.iv.71
SC 8“Having heard sounds both pleasant and raucous,
Do not be enthralled with pleasant sound.
Dispel the course of hate towards the raucous,
And do not soil the mind by thinking,
‘This one is displeasing to me.’
SC 9“Having smelt a fragrant, delightful scent,
And having smelt a putrid stench,
Dispel aversion towards the stench
And do not yield to desire for the lovely.
SC 10“Having enjoyed a sweet delicious taste,
And having sometimes tasted what is bitter,
Do not greedily enjoy the sweet taste,
Do not feel aversion towards the bitter.
SC 11“When touched by pleasant contact do not be enthralled,
Do not tremble when touched by pain.
Look evenly on both the pleasant and painful,
Not drawn or repelled by anything.
SC 12“When common people of proliferated perception
Perceive and proliferate they become engaged.
Having dispelled every mind-state bound to the home life,
One travels on the road of renunciation.
SC 13“When the mind is thus well developed in six,
If touched, one’s mind never flutters anywhere.
Having vanquished both lust and hate, O bhikkhus,
Go to the far shore beyond birth and death!” sn.iv.72
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Có sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ. Thế nào là sáu?
Vi-n 3-5. Mắt xúc xứ, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ … Tai … Mũi …
Vi-n 6-7. … Lưỡi … Thân …
Vi-n 8 Ý xúc xứ, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.
Vi-n 9 Sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.
Vi-n 10 Có sáu xúc này, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc. Thế nào là sáu?
Vi-n 11-13. Mắt xúc xứ, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc … Tai … Mũi …
Vi-n 14-15. … Lưỡi … Thân …
Vi-n 16 Ý xúc xứ, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc.
Vi-n 17 Sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc.
Vi-n 18 Thế Tôn nói như vậy. Nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Vi-n 1~1 Hỡi các vị Tỷ-kheo,
Chính sáu xúc xứ này,
Chỗ nào không thâu nhiếp,
Chỗ ấy có đau khổ.
Những ai học biết được,
Chế ngự, phòng hộ chúng,
Với lòng tin làm bạn,
Sống thoát ly dục vọng.
Vi-n 2~2 Thấy sắc pháp khả ái,
Thấy sắc không khả ái,
Hãy nhiếp phục đường tham,
Ðối các sắc khả ái,
Chớ khiến ý nhiễm ô:
“Ðối sắc, ta không thích”.
Vi-n 3~3 Sau khi nghe các tiếng,
Khả ái, không khả ái,
Chớ để tâm say mê,
Với các tiếng khả ái.
Hãy nhiếp phục lòng sân,
Với tiếng không khả ái,
Chớ khiến ý nhiễm ô:
“Ðối tiếng, ta không thích”.
Vi-n 4~4 Sau khi ngửi các hương,
Thơm dịu, thật khả ái,
Sau khi ngửi các hương,
Bất tịnh, thật đáng ghét;
Hãy nhiếp phục lòng sân,
Ðối các hương đáng ghét,
Còn đối hương khả ái,
Chớ để dục chi phối.
Vi-n 5~5 Nếm xong vị ngon ngọt,
Và nếm vị không ngon,
Chớ có sanh tham luyến,
Khi hưởng nếm vị ngon,
Chớ nói lời chống đối,
Khi nếm vị không ngon.
Vi-n 6~6 Khi cảm thọ lạc xúc,
Chớ đắm say tham luyến,
Khi cảm thọ khổ xúc,
Chớ bị xúc động mạnh.
Ðối với cả hai xúc,
Lạc, khổ đều niệm xả,
Không thích, không chống đối,
Bất cứ loại xúc nào.
Vi-n 7~7 Ðối với các người khác,
Mê theo hý luận tưởng,
Họ mê theo hý luận,
Họ hành theo hư tưởng;
Hãy đoạn trừ tất cả,
Gia sự do ý tạo,
Hãy nhiếp các hành động,
Hướng đến hạnh viễn ly.
Vi-n 8~8 Như vậy đối sáu xứ,
Khi ý khéo tu tập,
Nếu có cảm xúc gì,
Tâm không bị dao động.
Tỷ-kheo hãy nhiếp phục,
Cả hai tham sân ấy,
Hãy đến bờ bên kia,
Vượt buộc ràng sanh tử.
Sāvatthinidānaṁ.
“Chayime, bhikkhave, phassāyatanā adantā aguttā arakkhitā asaṁvutā dukkhādhivāhā honti.
Katame cha?
Cakkhu, bhikkhave, phassāyatanaṁ adantaṁ aguttaṁ arakkhitaṁ asaṁvutaṁ dukkhādhivāhaṁ hoti …pe…
jivhā, bhikkhave, phassāyatanaṁ adantaṁ aguttaṁ arakkhitaṁ asaṁvutaṁ dukkhādhivāhaṁ hoti …pe…
mano, bhikkhave, phassāyatanaṁ adantaṁ aguttaṁ arakkhitaṁ asaṁvutaṁ dukkhādhivāhaṁ hoti.
Ime kho, bhikkhave, cha phassāyatanā adantā aguttā arakkhitā asaṁvutā dukkhādhivāhā honti”.
Chayime, bhikkhave, phassāyatanā sudantā suguttā surakkhitā susaṁvutā sukhādhivāhā honti.
Katame cha?
Cakkhu, bhikkhave, phassāyatanaṁ sudantaṁ suguttaṁ surakkhitaṁ susaṁvutaṁ sukhādhivāhaṁ hoti …pe…
jivhā, bhikkhave, phassāyatanaṁ sudantaṁ suguttaṁ surakkhitaṁ susaṁvutaṁ sukhādhivāhaṁ hoti …pe…
mano, bhikkhave, phassāyatanaṁ sudantaṁ suguttaṁ surakkhitaṁ susaṁvutaṁ sukhādhivāhaṁ hoti.
Ime kho, bhikkhave, cha phassāyatanā sudantā suguttā surakkhitā susaṁvutā sukhādhivāhā hontī”ti.
Idamavoca bhagavā …pe…
etadavoca satthā:
“Saḷeva phassāyatanāni bhikkhavo,
Asaṁvuto yattha dukkhaṁ nigacchati;
Tesañca ye saṁvaraṇaṁ avedisuṁ,
Saddhādutiyā viharantānavassutā.
Disvāna rūpāni manoramāni,
Athopi disvāna amanoramāni;
Manorame rāgapathaṁ vinodaye,
Na cāppiyaṁ meti manaṁ padosaye.
Saddañca sutvā dubhayaṁ piyāppiyaṁ,
Piyamhi sadde na samucchito siyā;
Athoppiye dosagataṁ vinodaye,
Na cāppiyaṁ meti manaṁ padosaye.
Gandhañca ghatvā surabhiṁ manoramaṁ,
Athopi ghatvā asuciṁ akantiyaṁ;
Akantiyasmiṁ paṭighaṁ vinodaye,
Chandānunīto na ca kantiye siyā.
Rasañca bhotvāna asāditañca sāduṁ,
Athopi bhotvāna asādumekadā;
Sāduṁ rasaṁ nājjhosāya bhuñje,
Virodhamāsādusu nopadaṁsaye.
Phassena phuṭṭho na sukhena majje,
Dukkhena phuṭṭhopi na sampavedhe;
Phassadvayaṁ sukhadukkhe upekkhe,
Anānuruddho aviruddha kenaci.
Papañcasaññā itarītarā narā,
Papañcayantā upayanti saññino;
Manomayaṁ gehasitañca sabbaṁ,
Panujja nekkhammasitaṁ irīyati.
Evaṁ mano chassu yadā subhāvito,
Phuṭṭhassa cittaṁ na vikampate kvaci;
Te rāgadose abhibhuyya bhikkhavo,
Bhavattha jātimaraṇassa pāragā”ti.
Paṭhamaṁ.