Vi-n 1 Một thời Tôn giả Sāriputta trú tại Sāvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anāthapiṇḍika.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tỷ kheo Yamaka khởi lên ác tà kiến sau đây: “Như ta hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết”.
Vi-n 3 Nhiều Tỷ-kheo nghe Tỷ-kheo Yamaka khởi lên ác tà kiến sau đây: “Như ta hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết”.
Vi-n 4 Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến Tôn giả Yamaka; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Yamaka những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
Vi-n 5 Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy nói với Tôn giả Yamaka:
—Có thật chăng, này Hiền giả Yamaka, Hiền giả khởi lên ác tà kiến như sau: “Như ta hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết”.
Vi-n 6 —Này chư Hiền, tôi đã hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp như vầy: “Như ta hiểu lời Thế Tôn … sau khi chết”.
Vi-n 7 —Chớ có nói vậy, Hiền giả Yamaka! Chớ có xuyên tạc Thế Tôn! Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt lành. Thế Tôn không có nói như sau: “Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết”.
Vi-n 8 Dầu được các Tỷ-kheo ấy nói như vậy, Tôn giả Yamaka vẫn kiên trì, kiên cố chấp nhận ác tà kiến ấy, nói rằng: “Như ta hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết”.
Vi-n 9 Vì rằng các Tỷ-kheo không thể làm cho Tôn giả Yamaka rời bỏ ác tà kiến ấy, các Tỷ-kheo ấy từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Tôn giả Sāriputta, sau khi đến, thưa với Tôn giả Sāriputta:
—Tỷ-kheo Yamaka, thưa Hiền giả Sāriputta, có khởi lên ác tà kiến như sau: “Như ta hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết”. Lành thay, nếu Tôn giả Sāriputta vì lòng lân mẫn đi đến Tỷ-kheo Yamaka.
Vi-n 10 Tôn giả Sāriputta im lặng nhận lời.
Vi-n 11 Rồi Tôn giả Sàsriputta, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Yamaka; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Yamaka những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 12 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Yamaka:
—Có thật chăng, Hiền giả Yamaka, Hiền giả có khởi lên ác tà kiến như sau: “Như ta đã hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp … không còn gì nữa sau khi chết”.
Vi-n 13 —Thưa Hiền giả, tôi hiểu như vậy lời Thế Tôn thuyết pháp: “Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết”.
Vi-n 14 —Hiền giả nghĩ thế nào, Hiền giả Yamaka, sắc là thường hay vô thường?
—Là vô thường, này Hiền giả.
Vi-n 15-18. —Thọ … tưởng … các hành … thức là thường hay vô thường?
—Là vô thường, này Hiền giả.
Vi-n 19-20. —Do vậy … thấy vậy … ” … không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.
Vi-n 21 Hiền giả nghĩ thế nào, Hiền giả Yamaka? Hiền giả có quán Như Lai là sắc không?
—Thưa không, này Hiền giả.
Vi-n 22-26. —Hiền giả có quán Như Lai là thọ … tưởng … hành … thức không?
—Thưa không, này Hiền giả.
Vi-n 27 —Hiền giả nghĩ thế nào, Hiền giả Yamaka? Hiền giả có quán Như Lai ở trong sắc không?
—Thưa không, này Hiền giả.
—Hiền giả có quán Như Lai ở ngoài sắc không?
—Thưa không, này Hiền giả.
Vi-n 28 —Hiền giả, có quán Như Lai ở trong thọ không? …
Vi-n 20 Hiền giả có quán Như Lai ở trong tưởng không? …
Vi-n 30 Hiền giả có quán Như Lai ở trong các hành không? …
Vi-n 31 Hiền giả có quán Như Lai ở trong thức không?
—Thưa không, này Hiền giả.
—Hiền giả có quán Như Lai là ngoài thức không?
—Thưa không, này Hiền giả.
Vi-n 32 —Hiền giả nghĩ thế nào, Hiền giả Yamaka? Hiền giả có quán Như Lai là sắc, thọ, tưởng, hành, thức không?
—Thưa không, này Hiền giả.
Vi-n 33 —Hiền giả nghĩ thế nào, Hiền giả Yamaka? Hiền giả có quán cái không sắc, không thọ, không tưởng, không hành, không thức là Như Lai không?
—Thưa không, này Hiền giả.
Vi-n 34 —Và ở đây, Hiền giả Yamaka, ngay trong đời sống hiện tại, cũng không thể tìm được một Như Lai thường chơn, thường trú, thời hợp lý chăng khi Hiền giả trả lời: “Như ta đã hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ tận diệt, không còn gì nữa sau khi chết”.
Vi-n 35 —Trước đây tôi vô trí nên có ác tà kiến ấy. Nay sau khi nghe Tôn giả Sāriputta thuyết pháp, ác tà kiến ấy được đoạn trừ, và pháp được tôi hoàn toàn chứng tri.
Vi-n 36 —Hiền giả Yamaka, nếu có người hỏi Hiền giả: “Hiền giả Yamaka, vị Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn tận, sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sẽ trở thành gì?”; được hỏi như vậy, Hiền giả Yamaka, Hiền giả trả lời như thế nào?
Vi-n 37 —Thưa Hiền giả, nếu có người hỏi tôi: “Này Hiền giả Yamaka, Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn tận, sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sẽ trở thành gì?”; được hỏi như vậy, này Hiền giả, tôi sẽ trả lời: “Sắc là vô thường, này Hiền giả, cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là đoạn diệt, là tiêu diệt. Thọ … Tưởng … Các hành … Thức là vô thường, này Hiền giả, cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là đoạn diệt, là tiêu diệt”. Ðược hỏi vậy, này Hiền giả, tôi sẽ trả lời như vậy.
Vi-n 38-39. Lành thay, lành thay, Hiền giả Yamaka! Hiền giả Yamaka, ta sẽ cho Hiền giả một ví dụ để ý nghĩa này được hiểu rõ thêm nữa. Ví như, này Hiền giả Yamaka, một người gia chủ hay con của người gia chủ, là nhà hào phú, tiền nhiều, của nhiều, lại được bảo vệ. Rồi có người đến, muốn điều bất lợi, muốn điều bất hạnh, muốn điều bất an, muốn đoạt mạng sống người kia. Người ấy suy nghĩ: “Người gia chủ hay con của người gia chủ này là nhà hào phú, tiền nhiều, của nhiều, lại được bảo vệ. Thật không dễ gì đoạt mạng sống nó bằng sức mạnh. Vậy ta hãy tìm cách xâm nhập rồi sẽ đoạt mạng sống”. Người ấy đi đến người gia chủ hay con của người gia chủ kia, và nói như sau: “Thưa Tôn giả, tôi xin được hầu hạ Tôn giả”. Người gia chủ hay con của người gia chủ kia chấp nhận cho người ấy hầu hạ. Người ấy hầu hạ, dậy trước ngủ sau, sự việc nhanh nhẹn, cử chỉ đẹp lòng, lời nói khả ái. Người gia chủ hay con của người gia chủ kia tin tưởng người ấy, xem người ấy như thân hữu, tin tưởng người ấy, xem như tâm hữu, và đặt lòng tín cẩn vào người ấy. Này Hiền giả, khi người ấy đã tin tưởng rằng: “Người gia chủ hay con của người gia chủ này đã tín cẩn ta”, khi bắt gặp người con của gia chủ ở một chỗ thanh vắng, liền lấy con dao sắc bén, đoạt mạng sống người con của gia chủ.
Vi-n 40 Hiền giả Yamaka, Hiền giả nghĩ thế nào? Khi người ấy đến với người gia chủ hay con của người gia chủ kia và nói: “Thưa Tôn giả, tôi muốn hầu hạ Tôn giả”; khi ấy người ấy có phải là kẻ giết người không? Và dầu cho người ấy là kẻ giết người, người gia chủ hay con của người gia chủ cũng không nghĩ rằng: “Ta có một kẻ giết người”.
Vi-n 41 Khi người ấy hầu hạ, dậy trước ngủ sau, sự việc nhanh nhẹn, cử chỉ đẹp lòng, lời nói khả ái, khi ấy dầu cho người ấy là kẻ giết người, người gia chủ hay con của người gia chủ cũng không nghĩ rằng: “Ta có một kẻ giết người”.
—Thưa vâng, này Hiền giả.
Vi-n 42-43.—Cũng vậy, này Hiền giả, kẻ vô văn phàm phu, không được thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc; quán thọ … quán tưởng … quán các hành … quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức.
Vi-n 44 “Sắc là vô thường”, người ấy không như thật biết rõ: “Sắc là vô thường”; “Thọ là vô thường”, người ấy không như thật biết rõ: “Thọ là vô thường”; tưởng là vô thường, người ấy không như thật biết rõ: “Tưởng là vô thường”; “Các hành là vô thường”, người ấy không như thật biết rõ: “Các hành là vô thường”; “Thức là vô thường”, người ấy không như thật biết rõ: “Thức là vô thường”.
Vi-n 45 “Sắc là khổ”, người ấy không như thật biết rõ: “Sắc là khổ”; “Thọ là khổ” … “Tưởng là khổ” … “Các hành là khổ” … “Thức là khổ”, người ấy không như thật biết rõ: “Thức là khổ”.
Vi-n 46 “Sắc là vô ngã”, người ấy không như thật biết rõ: “Sắc là vô ngã”; “Thọ là vô ngã” … “Tưởng là vô ngã” … “Các hành là vô ngã” … “Thức là vô ngã”, người ấy không như thật biết rõ: “Thức là vô ngã”.
Vi-n 47 “Sắc là hữu vi”, người ấy không như thật biết rõ: “Sắc là hữu vi”; “Thọ là hữu vi” … “Tưởng là hữu vi” … “Các hành là hữu vi”; “Thức là hữu vi”, người ấy không như thật biết rõ: “Thức là hữu vi”.
Vi-n 48 “Sắc là kẻ giết người”, người ấy không như thật biết rõ: “Sắc là kẻ giết người”; “Thọ là kẻ giết người” … “Tưởng là kẻ giết người” … “Các hành là kẻ giết người” … “Thức là kẻ giết người”, người ấy không như thật biết rõ: “Thức là kẻ giết người”.
Vi-n 49 Người ấy đến với sắc, chấp thủ, nhiếp trì: “Sắc là tự ngã của ta”. Người ấy đến với thọ … với tưởng … với các hành … người ấy đến với thức, chấp thủ và nhiếp trì: “Thức là tự ngã của ta”. Năm thủ uẩn này được người ấy đi đến chấp thủ, sẽ đưa đến bất hạnh, đau khổ lâu dài cho người ấy.
Vi-n 50 Này Hiền giả, bậc Ða văn Thánh đệ tử thấy rõ các bậc Thánh … tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc; không quán thọ … không quán tưởng … không quán các hành … không quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức.
Vi-n 51 “Sắc là vô thường”, vị ấy như thật biết rõ: “Sắc là vô thường”; “Thọ là vô thường” … “Tưởng là vô thường” … “Các hành là vô thường” … “Thức là vô thường”, vị ấy như thật biết rõ: “Thức là vô thường”.
Vi-n 52 “Sắc là khổ”, vị ấy như thật biết rõ: “Sắc là khổ” … “Thọ là khổ” … “Tưởng là khổ” … “Các hành là khổ” … “Thức là khổ”, vị ấy như thật biết rõ: “Thức là khổ”.
Vi-n 53 “Sắc là vô ngã”, vị ấy như thật biết rõ: “Sắc là vô ngã” … “Thọ là vô ngã” … “Tưởng là vô ngã” … “Các hành là vô ngã” … “Thức là vô ngã”, vị ấy như thật biết rõ: “Thức là vô ngã”.
Vi-n 54 “Sắc là hữu vi”, vị ấy như thật biết rõ: “Sắc là hữu vi” … “Thọ là hữu vi” … “Tưởng là hữu vi” … “Các hành là hữu vi” … “Thức là hữu vi”, vị ấy như thật biết rõ: “Thức là hữu vi”.
Vi-n 55 “Sắc là kẻ giết người”, vị ấy như thật biết rõ: “Sắc là kẻ giết người” … “Thọ là kẻ giết người” … “Tưởng là kẻ giết người” … “Các hành là kẻ giết người” … “Thức là kẻ giết người”, vị ấy như thật biết rõ: “Thức là kẻ giết người”.
Vi-n 56 Vị ấy không đến với sắc, không chấp thủ, không nhiếp trì: “Sắc là tự ngã của ta”. Không đến với thọ … với tưởng … với các hành … Không đến với thức, không chấp thủ, không nhiếp trì: “Thức là tự ngã của ta”. Ðối với năm thủ uẩn này, vị ấy không đi đến, không chấp thủ, sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc cho vị ấy trong một thời gian dài.
Vi-n 57 —Như vậy, này Hiền giả Sāriputta, các Tôn giả ấy có được người như Hiền giả làm đồng Phạm hạnh, có lòng lân mẫn như vậy, muốn họ được hạnh phúc như vậy, bậc giáo giới như vậy, bậc giảng dạy như vậy.
Vi-n 58 Và nay, sau khi được nghe Tôn giả Sāriputta thuyết pháp, tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā sāriputto sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena yamakassa nāma bhikkhuno evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ hoti:
“tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, yathā khīṇāsavo bhikkhu kāyassa bhedā ucchijjati vinassati, na hoti paraṁ maraṇā”ti.
Assosuṁ kho sambahulā bhikkhū yamakassa kira nāma bhikkhuno evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ hoti:
“tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, yathā khīṇāsavo bhikkhu kāyassa bhedā ucchijjati vinassati, na hoti paraṁ maraṇā”ti.
Atha kho te bhikkhū yenāyasmā yamako tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmatā yamakena saddhiṁ sammodiṁsu.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū āyasmantaṁ yamakaṁ etadavocuṁ:
“Saccaṁ kira te, āvuso yamaka, evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ:
‘tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, yathā khīṇāsavo bhikkhu kāyassa bhedā ucchijjati vinassati, na hoti paraṁ maraṇā’”ti?
“Evaṁ khvāhaṁ, āvuso, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi:
‘khīṇāsavo bhikkhu kāyassa bhedā ucchijjati vinassati, na hoti paraṁ maraṇā’”ti.
“Mā, āvuso yamaka, evaṁ avaca, mā bhagavantaṁ abbhācikkhi. Na hi sādhu bhagavato abbhācikkhanaṁ. Na hi bhagavā evaṁ vadeyya:
‘khīṇāsavo bhikkhu kāyassa bhedā ucchijjati vinassati, na hoti paraṁ maraṇā’”ti.
Evampi kho āyasmā yamako tehi bhikkhūhi vuccamāno tatheva taṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ thāmasā parāmāsā abhinivissa voharati:
“tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, yathā khīṇāsavo bhikkhu kāyassa bhedā ucchijjati vinassati, na hoti paraṁ maraṇā”ti.
Yato kho te bhikkhū nāsakkhiṁsu āyasmantaṁ yamakaṁ etasmā pāpakā diṭṭhigatā vivecetuṁ, atha kho te bhikkhū uṭṭhāyāsanā yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavocuṁ:
“yamakassa nāma, āvuso sāriputta, bhikkhuno evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ:
‘tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā khīṇāsavo bhikkhu kāyassa bhedā ucchijjati vinassati, na hoti paraṁ maraṇā’ti.
Sādhāyasmā sāriputto yena yamako bhikkhu tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā”ti.
Adhivāsesi kho āyasmā sāriputto tuṇhībhāvena.
Atha kho āyasmā sāriputto sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā yamako tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā yamakena saddhiṁ sammodi …pe… ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto āyasmantaṁ yamakaṁ etadavoca:
“Saccaṁ kira te, āvuso yamaka, evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ:
‘tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, yathā khīṇāsavo bhikkhu kāyassa bhedā ucchijjati vinassati, na hoti paraṁ maraṇā’”ti?
“Evaṁ khvāhaṁ, āvuso, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, yathā khīṇāsavo bhikkhu kāyassa bhedā ucchijjati vinassati, na hoti paraṁ maraṇā”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, āvuso yamaka,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, āvuso”.
“Vedanā niccā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, āvuso”.
“Tasmātiha …pe…
evaṁ passaṁ …pe…
nāparaṁ itthattāyāti pajānāti.
Taṁ kiṁ maññasi, āvuso yamaka,
rūpaṁ tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, āvuso” …
“vedanaṁ tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, āvuso” …
“saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Taṁ kiṁ maññasi, āvuso yamaka,
rūpasmiṁ tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Aññatra rūpā tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Vedanāya …
aññatra vedanāya …pe…
saññāya …
aññatra saññāya …
saṅkhāresu …
aññatra saṅkhārehi …
viññāṇasmiṁ tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Aññatra viññāṇā tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Taṁ kiṁ maññasi, āvuso yamaka,
rūpaṁ … vedanaṁ … saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Taṁ kiṁ maññasi, āvuso yamaka,
ayaṁ so arūpī … avedano … asaññī … asaṅkhāro … aviññāṇo tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Ettha ca te, āvuso yamaka, diṭṭheva dhamme saccato thetato tathāgate anupalabbhiyamāne, kallaṁ nu te taṁ veyyākaraṇaṁ:
‘tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, yathā khīṇāsavo bhikkhu kāyassa bhedā ucchijjati vinassati, na hoti paraṁ maraṇā’”ti?
“Ahu kho me taṁ, āvuso sāriputta, pubbe aviddasuno pāpakaṁ diṭṭhigataṁ;
idañca panāyasmato sāriputtassa dhammadesanaṁ sutvā tañceva pāpakaṁ diṭṭhigataṁ pahīnaṁ, dhammo ca me abhisamito”ti.
“Sace taṁ, āvuso yamaka, evaṁ puccheyyuṁ:
‘yo so, āvuso yamaka, bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā kiṁ hotī’ti?
Evaṁ puṭṭho tvaṁ, āvuso yamaka, kinti byākareyyāsī”ti?
“Sace maṁ, āvuso, evaṁ puccheyyuṁ:
‘yo so, āvuso yamaka, bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā kiṁ hotī’ti?
Evaṁ puṭṭhohaṁ, āvuso, evaṁ byākareyyaṁ:
‘rūpaṁ kho, āvuso, aniccaṁ.
Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ;
yaṁ dukkhaṁ taṁ niruddhaṁ tadatthaṅgataṁ.
Vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ aniccaṁ.
Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ;
yaṁ dukkhaṁ taṁ niruddhaṁ tadatthaṅgatan’ti.
Evaṁ puṭṭhohaṁ, āvuso, evaṁ byākareyyan”ti.
“Sādhu sādhu, āvuso yamaka.
Tena hāvuso yamaka, upamaṁ te karissāmi etasseva atthassa bhiyyoso mattāya ñāṇāya.
Seyyathāpi, āvuso yamaka, gahapati vā gahapatiputto vā aḍḍho mahaddhano mahābhogo;
so ca ārakkhasampanno.
Tassa kocideva puriso uppajjeyya anatthakāmo ahitakāmo ayogakkhemakāmo jīvitā voropetukāmo.
Tassa evamassa:
‘ayaṁ kho gahapati vā gahapatiputto vā aḍḍho mahaddhano mahābhogo;
so ca ārakkhasampanno;
nāyaṁ sukaro pasayha jīvitā voropetuṁ.
Yannūnāhaṁ anupakhajja jīvitā voropeyyan’ti.
So taṁ gahapatiṁ vā gahapatiputtaṁ vā upasaṅkamitvā evaṁ vadeyya:
‘upaṭṭhaheyyaṁ taṁ, bhante’ti.
Tamenaṁ so gahapati vā gahapatiputto vā upaṭṭhāpeyya.
So upaṭṭhaheyya pubbuṭṭhāyī pacchānipātī kiṅkārapaṭissāvī manāpacārī piyavādī.
Tassa so gahapati vā gahapatiputto vā mittatopi naṁ saddaheyya;
suhajjatopi naṁ saddaheyya;
tasmiñca vissāsaṁ āpajjeyya.
Yadā kho, āvuso, tassa purisassa evamassa:
‘saṁvissattho kho myāyaṁ gahapati vā gahapatiputto vā’ti, atha naṁ rahogataṁ viditvā tiṇhena satthena jīvitā voropeyya.
Taṁ kiṁ maññasi, āvuso yamaka,
yadā hi so puriso amuṁ gahapatiṁ vā gahapatiputtaṁ vā upasaṅkamitvā evaṁ āha:
‘upaṭṭhaheyyaṁ taṁ, bhante’ti, tadāpi so vadhakova.
Vadhakañca pana santaṁ na aññāsi:
‘vadhako me’ti.
Yadāpi so upaṭṭhahati pubbuṭṭhāyī pacchānipātī kiṅkārapaṭissāvī manāpacārī piyavādī, tadāpi so vadhakova.
Vadhakañca pana santaṁ na aññāsi:
‘vadhako me’ti.
Yadāpi naṁ rahogataṁ viditvā tiṇhena satthena jīvitā voropeti, tadāpi so vadhakova.
Vadhakañca pana santaṁ na aññāsi:
‘vadhako me’”ti.
“Evamāvuso”ti.
“Evameva kho, āvuso, assutavā puthujjano ariyānaṁ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto, sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto
rūpaṁ attato samanupassati, rūpavantaṁ vā attānaṁ; attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ.
Vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ attato samanupassati, viññāṇavantaṁ vā attānaṁ; attani vā viññāṇaṁ, viññāṇasmiṁ vā attānaṁ.
So aniccaṁ rūpaṁ ‘aniccaṁ rūpan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Aniccaṁ vedanaṁ ‘aniccā vedanā’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Aniccaṁ saññaṁ ‘aniccā saññā’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Anicce saṅkhāre ‘aniccā saṅkhārā’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Aniccaṁ viññāṇaṁ ‘aniccaṁ viññāṇan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Dukkhaṁ rūpaṁ ‘dukkhaṁ rūpan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Dukkhaṁ vedanaṁ …
dukkhaṁ saññaṁ …
dukkhe saṅkhāre …
dukkhaṁ viññāṇaṁ ‘dukkhaṁ viññāṇan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Anattaṁ rūpaṁ ‘anattā rūpan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Anattaṁ vedanaṁ …
anattaṁ saññaṁ …
anatte saṅkhāre …
anattaṁ viññāṇaṁ ‘anattaṁ viññāṇan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Saṅkhataṁ rūpaṁ ‘saṅkhataṁ rūpan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Saṅkhataṁ vedanaṁ …
saṅkhataṁ saññaṁ …
saṅkhate saṅkhāre …
saṅkhataṁ viññāṇaṁ ‘saṅkhataṁ viññāṇan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Vadhakaṁ rūpaṁ ‘vadhakaṁ rūpan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Vadhakaṁ vedanaṁ ‘vadhakā vedanā’ti …
vadhakaṁ saññaṁ ‘vadhakā saññā’ti …
vadhake saṅkhāre ‘vadhakā saṅkhārā’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Vadhakaṁ viññāṇaṁ ‘vadhakaṁ viññāṇan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
So rūpaṁ upeti upādiyati adhiṭṭhāti ‘attā me’ti.
Vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ upeti upādiyati adhiṭṭhāti ‘attā me’ti.
Tassime pañcupādānakkhandhā upetā upādinnā dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya saṁvattanti.
Sutavā ca kho, āvuso, ariyasāvako ariyānaṁ dassāvī …pe… sappurisadhamme suvinīto
na rūpaṁ attato samanupassati, na rūpavantaṁ attānaṁ; na attani rūpaṁ, na rūpasmiṁ attānaṁ.
Na vedanaṁ …
na saññaṁ …
na saṅkhāre …
na viññāṇaṁ attato samanupassati, na viññāṇavantaṁ attānaṁ;
na attani viññāṇaṁ, na viññāṇasmiṁ attānaṁ.
So aniccaṁ rūpaṁ ‘aniccaṁ rūpan’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Aniccaṁ vedanaṁ …
aniccaṁ saññaṁ …
anicce saṅkhāre …
aniccaṁ viññāṇaṁ ‘aniccaṁ viññāṇan’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Dukkhaṁ rūpaṁ ‘dukkhaṁ rūpan’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Dukkhaṁ vedanaṁ …
dukkhaṁ saññaṁ …
dukkhe saṅkhāre …
dukkhaṁ viññāṇaṁ ‘dukkhaṁ viññāṇan’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Anattaṁ rūpaṁ ‘anattā rūpan’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Anattaṁ vedanaṁ …
anattaṁ saññaṁ …
anatte saṅkhāre …
anattaṁ viññāṇaṁ ‘anattā viññāṇan’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Saṅkhataṁ rūpaṁ ‘saṅkhataṁ rūpan’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Saṅkhataṁ vedanaṁ …
saṅkhataṁ saññaṁ …
saṅkhate saṅkhāre …
saṅkhataṁ viññāṇaṁ ‘saṅkhataṁ viññāṇan’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Vadhakaṁ rūpaṁ ‘vadhakaṁ rūpan’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Vadhakaṁ vedanaṁ …
vadhakaṁ saññaṁ …
vadhake saṅkhāre ‘vadhakā saṅkhārā’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Vadhakaṁ viññāṇaṁ ‘vadhakaṁ viññāṇan’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
So rūpaṁ na upeti, na upādiyati, nādhiṭṭhāti: ‘attā me’ti.
Vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ na upeti, na upādiyati, nādhiṭṭhāti: ‘attā me’ti.
Tassime pañcupādānakkhandhā anupetā anupādinnā dīgharattaṁ hitāya sukhāya saṁvattantī”ti.
“Evametaṁ, āvuso sāriputta, hoti yesaṁ āyasmantānaṁ tādisā sabrahmacārino anukampakā atthakāmā ovādakā anusāsakā.
Idañca pana me āyasmato sāriputtassa dhammadesanaṁ sutvā anupādāya āsavehi cittaṁ vimuttan”ti.
Tatiyaṁ.
SC 1On one occasion the Venerable Sāriputta was dwelling at Savatthi in Jeta’s Grove, Anathapiṇḍika’s Park. Now on that occasion the following pernicious view had arisen in a bhikkhu named Yamaka: “As I understand the Dhamma taught by the Blessed One, a bhikkhu whose taints are destroyed is annihilated and perishes with the breakup of the body and does not exist after death.”
SC 2A number of bhikkhus heard that such a pernicious view had arisen in the bhikkhu Yamaka. Then they approached the Venerable Yamaka and exchanged greetings with him, after which they sat down to one side and said to him: “Is it true, friend Yamaka, that such a pernicious view as this has arisen in you: sn.iii.110 ‘As I understand the Dhamma taught by the Blessed One, a bhikkhu whose taints are destroyed is annihilated and perishes with the breakup of the body and does not exist after death’?”
SC 3“Exactly so, friends. As I understand the Dhamma taught by the Blessed One, a bhikkhu whose taints are destroyed is annihilated and perishes with the breakup of the body and does not exist after death.”
SC 4“Friend Yamaka, do not speak thus. Do not misrepresent the Blessed One. It is not good to misrepresent the Blessed One. The Blessed One would not speak thus: ‘A bhikkhu whose taints are destroyed is annihilated and perishes with the breakup of the body and does not exist after death.’”
SC 5Yet, although he was admonished by the bhikkhus in this way, the Venerable Yamaka still obstinately grasped that pernicious view, adhered to it, and declared: “As I understand the Dhamma taught by the Blessed One, a bhikkhu whose taints are destroyed is annihilated and perishes with the breakup of the body and does not exist after death.”
SC 6Since those bhikkhus were unable to detach the Venerable Yamaka from that pernicious view, they rose from their seats, approached the Venerable Sāriputta, and told him all that had occurred, adding: “It would be good if the Venerable Sāriputta would approach the bhikkhu Yamaka out of compassion for him.” The Venerable Sāriputta consented by silence.
SC 7Then, in the evening, the Venerable Sāriputta emerged from seclusion. He approached the Venerable Yamaka and exchanged greetings with him, after which he sat down to one side and said to him: “Is it true, friend Yamaka, that such a pernicious view as this has arisen in you: ‘As I understand the Dhamma taught by the Blessed One, sn.iii.111 a bhikkhu whose taints are destroyed is annihilated and perishes with the breakup of the body and does not exist after death’?”
“Exactly so, friend.”
SC 8“What do you think, friend Yamaka, is form permanent or impermanent?”—“Impermanent, friend.”…—“Therefore … Seeing thus … He understands: ‘… there is no more for this state of being.’
SC 9“What do you think, friend Yamaka, do you regard form as the Tathagata?”—“No, friend.”—“Do you regard feeling … perception … volitional formations … consciousness as the Tathagata?”—“No, friend.”
SC 10“What do you think, friend Yamaka, do you regard the Tathagata as in form?”—“No, friend.”—“Do you regard the Tathagata as apart from form?”—“No, friend.”—“Do you regard the Tathagata as in feeling? As apart from feeling? As in perception? As apart from perception? As in volitional formations? As apart from volitional formations? As in consciousness? As apart from consciousness?”—“No, friend.”
SC 11“What do you think, friend Yamaka, do you regard form, feeling, perception, volitional formations, and consciousness taken together as the Tathagata?”—“No, friend.” sn.iii.112
SC 12“What do you think, friend Yamaka, do you regard the Tathagata as one who is without form, without feeling, without perception, without volitional formations, without consciousness?”—“No, friend.”
SC 13“But, friend, when the Tathagata is not apprehended by you as real and actual here in this very life, is it fitting for you to declare: ‘As I understand the Dhamma taught by the Blessed One, a bhikkhu whose taints are destroyed is annihilated and perishes with the breakup of the body and does not exist after death’?”
SC 14“Formerly, friend Sāriputta, when I was ignorant, I did hold that pernicious view, but now that I have heard this Dhamma teaching of the Venerable Sāriputta I have abandoned that pernicious view and have made the breakthrough to the Dhamma.”
SC 15“If, friend Yamaka, they were to ask you: ‘Friend Yamaka, when a bhikkhu is an arahant, one whose taints are destroyed, what happens to him with the breakup of the body, after death?’—being asked thus, what would you answer?”
SC 16“If they were to ask me this, friend, I would answer thus: ‘Friends, form is impermanent; what is impermanent is suffering; what is suffering has ceased and passed away. Feeling … Perception … Volitional formations … Consciousness is impermanent; what is impermanent is suffering; what is suffering has ceased and passed away.’ Being asked thus, friend, I would answer in such a way.”
SC 17“Good, good, friend Yamaka! Now, friend Yamaka, I will make up a simile for you in order to convey this same meaning even more clearly. Suppose, friend Yamaka, there was a householder or a householder’s son, a rich man, with much wealth and property, protected by a bodyguard. Then some man would appear who wanted to ruin him, to harm him, to endanger him, to take his life. sn.iii.113 It would occur to that man: ‘This householder or householder’s son is a rich man, with much wealth and property, protected by a bodyguard. It won’t be easy to take his life by force. Let me get close to him and then take his life.’
SC 18“Then he would approach that householder or householder’s son and say to him: ‘I would serve you, sir.’ Then the householder or householder’s son would appoint him as a servant. The man would serve him, rising up before him, retiring after him, doing whatever he wants, agreeable in his conduct, endearing in his speech. The householder or householder’s son would consider him a friend, a bosom friend, and he would place trust in him. But when the man becomes aware that the householder or householder’s son has placed trust in him, then, finding him alone, he would take his life with a sharp knife.
SC 19“What do you think, friend Yamaka, when that man had approached that householder or householder’s son and said to him: ‘I would serve you, sir,’ wasn’t he a murderer even then, though the other did not recognize him as ‘my murderer’? And when the man was serving him, rising up before him, retiring after him, doing whatever he wants, agreeable in his conduct, endearing in his speech, wasn’t he a murderer then too, though the other did not recognize him as ‘my murderer’? And when the man came upon him while he was alone and took his life with a sharp knife, wasn’t he a murderer then too, though the other did not recognize him as ‘my murderer’?”
“Yes, friend.”
SC 20“So too, friend Yamaka, the uninstructed worldling, who is not a seer of the noble ones and is unskilled and undisciplined in their Dhamma, who is not a seer of superior persons and is unskilled and undisciplined in their Dhamma, regards form as self, or self as possessing form, or form as in self, or self as in form.
SC 21“He regards feeling as self … perception as self … volitional formations as self … consciousness as self, sn.iii.114 or self as possessing consciousness, or consciousness as in self, or self as in consciousness.
SC 22“He does not understand as it really is impermanent form as ‘impermanent form’ … impermanent feeling as ‘impermanent feeling’ … impermanent perception as ‘impermanent perception’ … impermanent volitional formations as ‘impermanent volitional formations’ … impermanent consciousness as ‘impermanent consciousness.’
SC 23“He does not understand as it really is painful form as ‘painful form’ … painful feeling as ‘painful feeling’ … painful perception as ‘painful perception’ … painful volitional formations as ‘painful volitional formations’ … painful consciousness as ‘painful consciousness.’
SC 24“He does not understand as it really is selfless form as ‘selfless form’ … selfless feeling as ‘selfless feeling’ … selfless perception as ‘selfless perception’ … selfless volitional formations as ‘selfless volitional formations’ … selfless consciousness as ‘selfless consciousness.’
SC 25“He does not understand as it really is conditioned form as ‘conditioned form’ … conditioned feeling as ‘conditioned feeling’ … conditioned perception as ‘conditioned perception’ … conditioned volitional formations as ‘conditioned volitional formations’ … conditioned consciousness as ‘conditioned consciousness.’
SC 26“He does not understand as it really is murderous form as ‘murderous form’ … murderous feeling as ‘murderous feeling’ … murderous perception as ‘murderous perception’ … murderous volitional formations as ‘murderous volitional formations’ … murderous consciousness as ‘murderous consciousness.’
SC 27“He becomes engaged with form, clings to it, and takes a stand upon it as ‘my self.’ He becomes engaged with feeling … with perception … with volitional formations … with consciousness, clings to it, and takes a stand upon it as ‘my self.’ These same five aggregates of clinging, to which he becomes engaged and to which he clings, lead to his harm and suffering for a long time.
SC 28“But, friend, the instructed noble disciple, who is a seer of the noble ones … does not regard form as self, or self as possessing form, or form as in self, or self as in form.
SC 29“He does not regard feeling as self … perception as self … volitional formations as self … consciousness as self, or self as possessing consciousness, or consciousness as in self, or self as in consciousness. sn.iii.115
SC 30“He understands as it really is impermanent form as ‘impermanent form’ … impermanent consciousness as ‘impermanent consciousness.’
SC 31“He understands as it really is painful form as ‘painful form’ … painful consciousness as ‘painful consciousness.’
SC 32“He understands as it really is selfless form as ‘selfless form’ … selfless consciousness as ‘selfless consciousness.’
SC 33“He understands as it really is conditioned form as ‘conditioned form’ … conditioned consciousness as ‘conditioned consciousness. ’
SC 34“He understands as it really is murderous form as ‘murderous form’ … murderous consciousness as ‘murderous consciousness.’
SC 35“He does not become engaged with form, cling to it, and take a stand upon it as ‘my self.’ He does not become engaged with feeling … with perception … with volitional formations … with consciousness, cling to it, and take a stand upon it as ‘my self.’ These same five aggregates of clinging, to which he does not become engaged and to which he does not cling, lead to his welfare and happiness for a long time.”
SC 36“So it is, friend Sāriputta, for those venerable ones who have such compassionate and benevolent brothers in the holy life to admonish and instruct them. And now that I have heard this Dhamma teaching of the Venerable Sāriputta, my mind is liberated from the taints by nonclinging.” sn.iii.116
SC 37This is what the Venerable Sāriputta said. Elated, the Venerable Yamaka delighted in the Venerable Sāriputta’s statement.
Vi-n 1 Một thời Tôn giả Sāriputta trú tại Sāvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anāthapiṇḍika.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tỷ kheo Yamaka khởi lên ác tà kiến sau đây: “Như ta hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết”.
Vi-n 3 Nhiều Tỷ-kheo nghe Tỷ-kheo Yamaka khởi lên ác tà kiến sau đây: “Như ta hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết”.
Vi-n 4 Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến Tôn giả Yamaka; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Yamaka những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
Vi-n 5 Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy nói với Tôn giả Yamaka:
—Có thật chăng, này Hiền giả Yamaka, Hiền giả khởi lên ác tà kiến như sau: “Như ta hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết”.
Vi-n 6 —Này chư Hiền, tôi đã hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp như vầy: “Như ta hiểu lời Thế Tôn … sau khi chết”.
Vi-n 7 —Chớ có nói vậy, Hiền giả Yamaka! Chớ có xuyên tạc Thế Tôn! Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt lành. Thế Tôn không có nói như sau: “Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết”.
Vi-n 8 Dầu được các Tỷ-kheo ấy nói như vậy, Tôn giả Yamaka vẫn kiên trì, kiên cố chấp nhận ác tà kiến ấy, nói rằng: “Như ta hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết”.
Vi-n 9 Vì rằng các Tỷ-kheo không thể làm cho Tôn giả Yamaka rời bỏ ác tà kiến ấy, các Tỷ-kheo ấy từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Tôn giả Sāriputta, sau khi đến, thưa với Tôn giả Sāriputta:
—Tỷ-kheo Yamaka, thưa Hiền giả Sāriputta, có khởi lên ác tà kiến như sau: “Như ta hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết”. Lành thay, nếu Tôn giả Sāriputta vì lòng lân mẫn đi đến Tỷ-kheo Yamaka.
Vi-n 10 Tôn giả Sāriputta im lặng nhận lời.
Vi-n 11 Rồi Tôn giả Sàsriputta, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Yamaka; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Yamaka những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 12 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Yamaka:
—Có thật chăng, Hiền giả Yamaka, Hiền giả có khởi lên ác tà kiến như sau: “Như ta đã hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp … không còn gì nữa sau khi chết”.
Vi-n 13 —Thưa Hiền giả, tôi hiểu như vậy lời Thế Tôn thuyết pháp: “Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết”.
Vi-n 14 —Hiền giả nghĩ thế nào, Hiền giả Yamaka, sắc là thường hay vô thường?
—Là vô thường, này Hiền giả.
Vi-n 15-18. —Thọ … tưởng … các hành … thức là thường hay vô thường?
—Là vô thường, này Hiền giả.
Vi-n 19-20. —Do vậy … thấy vậy … ” … không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.
Vi-n 21 Hiền giả nghĩ thế nào, Hiền giả Yamaka? Hiền giả có quán Như Lai là sắc không?
—Thưa không, này Hiền giả.
Vi-n 22-26. —Hiền giả có quán Như Lai là thọ … tưởng … hành … thức không?
—Thưa không, này Hiền giả.
Vi-n 27 —Hiền giả nghĩ thế nào, Hiền giả Yamaka? Hiền giả có quán Như Lai ở trong sắc không?
—Thưa không, này Hiền giả.
—Hiền giả có quán Như Lai ở ngoài sắc không?
—Thưa không, này Hiền giả.
Vi-n 28 —Hiền giả, có quán Như Lai ở trong thọ không? …
Vi-n 20 Hiền giả có quán Như Lai ở trong tưởng không? …
Vi-n 30 Hiền giả có quán Như Lai ở trong các hành không? …
Vi-n 31 Hiền giả có quán Như Lai ở trong thức không?
—Thưa không, này Hiền giả.
—Hiền giả có quán Như Lai là ngoài thức không?
—Thưa không, này Hiền giả.
Vi-n 32 —Hiền giả nghĩ thế nào, Hiền giả Yamaka? Hiền giả có quán Như Lai là sắc, thọ, tưởng, hành, thức không?
—Thưa không, này Hiền giả.
Vi-n 33 —Hiền giả nghĩ thế nào, Hiền giả Yamaka? Hiền giả có quán cái không sắc, không thọ, không tưởng, không hành, không thức là Như Lai không?
—Thưa không, này Hiền giả.
Vi-n 34 —Và ở đây, Hiền giả Yamaka, ngay trong đời sống hiện tại, cũng không thể tìm được một Như Lai thường chơn, thường trú, thời hợp lý chăng khi Hiền giả trả lời: “Như ta đã hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ tận diệt, không còn gì nữa sau khi chết”.
Vi-n 35 —Trước đây tôi vô trí nên có ác tà kiến ấy. Nay sau khi nghe Tôn giả Sāriputta thuyết pháp, ác tà kiến ấy được đoạn trừ, và pháp được tôi hoàn toàn chứng tri.
Vi-n 36 —Hiền giả Yamaka, nếu có người hỏi Hiền giả: “Hiền giả Yamaka, vị Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn tận, sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sẽ trở thành gì?”; được hỏi như vậy, Hiền giả Yamaka, Hiền giả trả lời như thế nào?
Vi-n 37 —Thưa Hiền giả, nếu có người hỏi tôi: “Này Hiền giả Yamaka, Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn tận, sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sẽ trở thành gì?”; được hỏi như vậy, này Hiền giả, tôi sẽ trả lời: “Sắc là vô thường, này Hiền giả, cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là đoạn diệt, là tiêu diệt. Thọ … Tưởng … Các hành … Thức là vô thường, này Hiền giả, cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là đoạn diệt, là tiêu diệt”. Ðược hỏi vậy, này Hiền giả, tôi sẽ trả lời như vậy.
Vi-n 38-39. Lành thay, lành thay, Hiền giả Yamaka! Hiền giả Yamaka, ta sẽ cho Hiền giả một ví dụ để ý nghĩa này được hiểu rõ thêm nữa. Ví như, này Hiền giả Yamaka, một người gia chủ hay con của người gia chủ, là nhà hào phú, tiền nhiều, của nhiều, lại được bảo vệ. Rồi có người đến, muốn điều bất lợi, muốn điều bất hạnh, muốn điều bất an, muốn đoạt mạng sống người kia. Người ấy suy nghĩ: “Người gia chủ hay con của người gia chủ này là nhà hào phú, tiền nhiều, của nhiều, lại được bảo vệ. Thật không dễ gì đoạt mạng sống nó bằng sức mạnh. Vậy ta hãy tìm cách xâm nhập rồi sẽ đoạt mạng sống”. Người ấy đi đến người gia chủ hay con của người gia chủ kia, và nói như sau: “Thưa Tôn giả, tôi xin được hầu hạ Tôn giả”. Người gia chủ hay con của người gia chủ kia chấp nhận cho người ấy hầu hạ. Người ấy hầu hạ, dậy trước ngủ sau, sự việc nhanh nhẹn, cử chỉ đẹp lòng, lời nói khả ái. Người gia chủ hay con của người gia chủ kia tin tưởng người ấy, xem người ấy như thân hữu, tin tưởng người ấy, xem như tâm hữu, và đặt lòng tín cẩn vào người ấy. Này Hiền giả, khi người ấy đã tin tưởng rằng: “Người gia chủ hay con của người gia chủ này đã tín cẩn ta”, khi bắt gặp người con của gia chủ ở một chỗ thanh vắng, liền lấy con dao sắc bén, đoạt mạng sống người con của gia chủ.
Vi-n 40 Hiền giả Yamaka, Hiền giả nghĩ thế nào? Khi người ấy đến với người gia chủ hay con của người gia chủ kia và nói: “Thưa Tôn giả, tôi muốn hầu hạ Tôn giả”; khi ấy người ấy có phải là kẻ giết người không? Và dầu cho người ấy là kẻ giết người, người gia chủ hay con của người gia chủ cũng không nghĩ rằng: “Ta có một kẻ giết người”.
Vi-n 41 Khi người ấy hầu hạ, dậy trước ngủ sau, sự việc nhanh nhẹn, cử chỉ đẹp lòng, lời nói khả ái, khi ấy dầu cho người ấy là kẻ giết người, người gia chủ hay con của người gia chủ cũng không nghĩ rằng: “Ta có một kẻ giết người”.
—Thưa vâng, này Hiền giả.
Vi-n 42-43.—Cũng vậy, này Hiền giả, kẻ vô văn phàm phu, không được thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc; quán thọ … quán tưởng … quán các hành … quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức.
Vi-n 44 “Sắc là vô thường”, người ấy không như thật biết rõ: “Sắc là vô thường”; “Thọ là vô thường”, người ấy không như thật biết rõ: “Thọ là vô thường”; tưởng là vô thường, người ấy không như thật biết rõ: “Tưởng là vô thường”; “Các hành là vô thường”, người ấy không như thật biết rõ: “Các hành là vô thường”; “Thức là vô thường”, người ấy không như thật biết rõ: “Thức là vô thường”.
Vi-n 45 “Sắc là khổ”, người ấy không như thật biết rõ: “Sắc là khổ”; “Thọ là khổ” … “Tưởng là khổ” … “Các hành là khổ” … “Thức là khổ”, người ấy không như thật biết rõ: “Thức là khổ”.
Vi-n 46 “Sắc là vô ngã”, người ấy không như thật biết rõ: “Sắc là vô ngã”; “Thọ là vô ngã” … “Tưởng là vô ngã” … “Các hành là vô ngã” … “Thức là vô ngã”, người ấy không như thật biết rõ: “Thức là vô ngã”.
Vi-n 47 “Sắc là hữu vi”, người ấy không như thật biết rõ: “Sắc là hữu vi”; “Thọ là hữu vi” … “Tưởng là hữu vi” … “Các hành là hữu vi”; “Thức là hữu vi”, người ấy không như thật biết rõ: “Thức là hữu vi”.
Vi-n 48 “Sắc là kẻ giết người”, người ấy không như thật biết rõ: “Sắc là kẻ giết người”; “Thọ là kẻ giết người” … “Tưởng là kẻ giết người” … “Các hành là kẻ giết người” … “Thức là kẻ giết người”, người ấy không như thật biết rõ: “Thức là kẻ giết người”.
Vi-n 49 Người ấy đến với sắc, chấp thủ, nhiếp trì: “Sắc là tự ngã của ta”. Người ấy đến với thọ … với tưởng … với các hành … người ấy đến với thức, chấp thủ và nhiếp trì: “Thức là tự ngã của ta”. Năm thủ uẩn này được người ấy đi đến chấp thủ, sẽ đưa đến bất hạnh, đau khổ lâu dài cho người ấy.
Vi-n 50 Này Hiền giả, bậc Ða văn Thánh đệ tử thấy rõ các bậc Thánh … tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc; không quán thọ … không quán tưởng … không quán các hành … không quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức.
Vi-n 51 “Sắc là vô thường”, vị ấy như thật biết rõ: “Sắc là vô thường”; “Thọ là vô thường” … “Tưởng là vô thường” … “Các hành là vô thường” … “Thức là vô thường”, vị ấy như thật biết rõ: “Thức là vô thường”.
Vi-n 52 “Sắc là khổ”, vị ấy như thật biết rõ: “Sắc là khổ” … “Thọ là khổ” … “Tưởng là khổ” … “Các hành là khổ” … “Thức là khổ”, vị ấy như thật biết rõ: “Thức là khổ”.
Vi-n 53 “Sắc là vô ngã”, vị ấy như thật biết rõ: “Sắc là vô ngã” … “Thọ là vô ngã” … “Tưởng là vô ngã” … “Các hành là vô ngã” … “Thức là vô ngã”, vị ấy như thật biết rõ: “Thức là vô ngã”.
Vi-n 54 “Sắc là hữu vi”, vị ấy như thật biết rõ: “Sắc là hữu vi” … “Thọ là hữu vi” … “Tưởng là hữu vi” … “Các hành là hữu vi” … “Thức là hữu vi”, vị ấy như thật biết rõ: “Thức là hữu vi”.
Vi-n 55 “Sắc là kẻ giết người”, vị ấy như thật biết rõ: “Sắc là kẻ giết người” … “Thọ là kẻ giết người” … “Tưởng là kẻ giết người” … “Các hành là kẻ giết người” … “Thức là kẻ giết người”, vị ấy như thật biết rõ: “Thức là kẻ giết người”.
Vi-n 56 Vị ấy không đến với sắc, không chấp thủ, không nhiếp trì: “Sắc là tự ngã của ta”. Không đến với thọ … với tưởng … với các hành … Không đến với thức, không chấp thủ, không nhiếp trì: “Thức là tự ngã của ta”. Ðối với năm thủ uẩn này, vị ấy không đi đến, không chấp thủ, sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc cho vị ấy trong một thời gian dài.
Vi-n 57 —Như vậy, này Hiền giả Sāriputta, các Tôn giả ấy có được người như Hiền giả làm đồng Phạm hạnh, có lòng lân mẫn như vậy, muốn họ được hạnh phúc như vậy, bậc giáo giới như vậy, bậc giảng dạy như vậy.
Vi-n 58 Và nay, sau khi được nghe Tôn giả Sāriputta thuyết pháp, tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā sāriputto sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena yamakassa nāma bhikkhuno evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ hoti:
“tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, yathā khīṇāsavo bhikkhu kāyassa bhedā ucchijjati vinassati, na hoti paraṁ maraṇā”ti.
Assosuṁ kho sambahulā bhikkhū yamakassa kira nāma bhikkhuno evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ hoti:
“tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, yathā khīṇāsavo bhikkhu kāyassa bhedā ucchijjati vinassati, na hoti paraṁ maraṇā”ti.
Atha kho te bhikkhū yenāyasmā yamako tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmatā yamakena saddhiṁ sammodiṁsu.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū āyasmantaṁ yamakaṁ etadavocuṁ:
“Saccaṁ kira te, āvuso yamaka, evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ:
‘tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, yathā khīṇāsavo bhikkhu kāyassa bhedā ucchijjati vinassati, na hoti paraṁ maraṇā’”ti?
“Evaṁ khvāhaṁ, āvuso, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi:
‘khīṇāsavo bhikkhu kāyassa bhedā ucchijjati vinassati, na hoti paraṁ maraṇā’”ti.
“Mā, āvuso yamaka, evaṁ avaca, mā bhagavantaṁ abbhācikkhi. Na hi sādhu bhagavato abbhācikkhanaṁ. Na hi bhagavā evaṁ vadeyya:
‘khīṇāsavo bhikkhu kāyassa bhedā ucchijjati vinassati, na hoti paraṁ maraṇā’”ti.
Evampi kho āyasmā yamako tehi bhikkhūhi vuccamāno tatheva taṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ thāmasā parāmāsā abhinivissa voharati:
“tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, yathā khīṇāsavo bhikkhu kāyassa bhedā ucchijjati vinassati, na hoti paraṁ maraṇā”ti.
Yato kho te bhikkhū nāsakkhiṁsu āyasmantaṁ yamakaṁ etasmā pāpakā diṭṭhigatā vivecetuṁ, atha kho te bhikkhū uṭṭhāyāsanā yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavocuṁ:
“yamakassa nāma, āvuso sāriputta, bhikkhuno evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ:
‘tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā khīṇāsavo bhikkhu kāyassa bhedā ucchijjati vinassati, na hoti paraṁ maraṇā’ti.
Sādhāyasmā sāriputto yena yamako bhikkhu tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā”ti.
Adhivāsesi kho āyasmā sāriputto tuṇhībhāvena.
Atha kho āyasmā sāriputto sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā yamako tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā yamakena saddhiṁ sammodi …pe… ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto āyasmantaṁ yamakaṁ etadavoca:
“Saccaṁ kira te, āvuso yamaka, evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ:
‘tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, yathā khīṇāsavo bhikkhu kāyassa bhedā ucchijjati vinassati, na hoti paraṁ maraṇā’”ti?
“Evaṁ khvāhaṁ, āvuso, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, yathā khīṇāsavo bhikkhu kāyassa bhedā ucchijjati vinassati, na hoti paraṁ maraṇā”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, āvuso yamaka,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, āvuso”.
“Vedanā niccā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, āvuso”.
“Tasmātiha …pe…
evaṁ passaṁ …pe…
nāparaṁ itthattāyāti pajānāti.
Taṁ kiṁ maññasi, āvuso yamaka,
rūpaṁ tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, āvuso” …
“vedanaṁ tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, āvuso” …
“saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Taṁ kiṁ maññasi, āvuso yamaka,
rūpasmiṁ tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Aññatra rūpā tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Vedanāya …
aññatra vedanāya …pe…
saññāya …
aññatra saññāya …
saṅkhāresu …
aññatra saṅkhārehi …
viññāṇasmiṁ tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Aññatra viññāṇā tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Taṁ kiṁ maññasi, āvuso yamaka,
rūpaṁ … vedanaṁ … saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Taṁ kiṁ maññasi, āvuso yamaka,
ayaṁ so arūpī … avedano … asaññī … asaṅkhāro … aviññāṇo tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Ettha ca te, āvuso yamaka, diṭṭheva dhamme saccato thetato tathāgate anupalabbhiyamāne, kallaṁ nu te taṁ veyyākaraṇaṁ:
‘tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, yathā khīṇāsavo bhikkhu kāyassa bhedā ucchijjati vinassati, na hoti paraṁ maraṇā’”ti?
“Ahu kho me taṁ, āvuso sāriputta, pubbe aviddasuno pāpakaṁ diṭṭhigataṁ;
idañca panāyasmato sāriputtassa dhammadesanaṁ sutvā tañceva pāpakaṁ diṭṭhigataṁ pahīnaṁ, dhammo ca me abhisamito”ti.
“Sace taṁ, āvuso yamaka, evaṁ puccheyyuṁ:
‘yo so, āvuso yamaka, bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā kiṁ hotī’ti?
Evaṁ puṭṭho tvaṁ, āvuso yamaka, kinti byākareyyāsī”ti?
“Sace maṁ, āvuso, evaṁ puccheyyuṁ:
‘yo so, āvuso yamaka, bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā kiṁ hotī’ti?
Evaṁ puṭṭhohaṁ, āvuso, evaṁ byākareyyaṁ:
‘rūpaṁ kho, āvuso, aniccaṁ.
Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ;
yaṁ dukkhaṁ taṁ niruddhaṁ tadatthaṅgataṁ.
Vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ aniccaṁ.
Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ;
yaṁ dukkhaṁ taṁ niruddhaṁ tadatthaṅgatan’ti.
Evaṁ puṭṭhohaṁ, āvuso, evaṁ byākareyyan”ti.
“Sādhu sādhu, āvuso yamaka.
Tena hāvuso yamaka, upamaṁ te karissāmi etasseva atthassa bhiyyoso mattāya ñāṇāya.
Seyyathāpi, āvuso yamaka, gahapati vā gahapatiputto vā aḍḍho mahaddhano mahābhogo;
so ca ārakkhasampanno.
Tassa kocideva puriso uppajjeyya anatthakāmo ahitakāmo ayogakkhemakāmo jīvitā voropetukāmo.
Tassa evamassa:
‘ayaṁ kho gahapati vā gahapatiputto vā aḍḍho mahaddhano mahābhogo;
so ca ārakkhasampanno;
nāyaṁ sukaro pasayha jīvitā voropetuṁ.
Yannūnāhaṁ anupakhajja jīvitā voropeyyan’ti.
So taṁ gahapatiṁ vā gahapatiputtaṁ vā upasaṅkamitvā evaṁ vadeyya:
‘upaṭṭhaheyyaṁ taṁ, bhante’ti.
Tamenaṁ so gahapati vā gahapatiputto vā upaṭṭhāpeyya.
So upaṭṭhaheyya pubbuṭṭhāyī pacchānipātī kiṅkārapaṭissāvī manāpacārī piyavādī.
Tassa so gahapati vā gahapatiputto vā mittatopi naṁ saddaheyya;
suhajjatopi naṁ saddaheyya;
tasmiñca vissāsaṁ āpajjeyya.
Yadā kho, āvuso, tassa purisassa evamassa:
‘saṁvissattho kho myāyaṁ gahapati vā gahapatiputto vā’ti, atha naṁ rahogataṁ viditvā tiṇhena satthena jīvitā voropeyya.
Taṁ kiṁ maññasi, āvuso yamaka,
yadā hi so puriso amuṁ gahapatiṁ vā gahapatiputtaṁ vā upasaṅkamitvā evaṁ āha:
‘upaṭṭhaheyyaṁ taṁ, bhante’ti, tadāpi so vadhakova.
Vadhakañca pana santaṁ na aññāsi:
‘vadhako me’ti.
Yadāpi so upaṭṭhahati pubbuṭṭhāyī pacchānipātī kiṅkārapaṭissāvī manāpacārī piyavādī, tadāpi so vadhakova.
Vadhakañca pana santaṁ na aññāsi:
‘vadhako me’ti.
Yadāpi naṁ rahogataṁ viditvā tiṇhena satthena jīvitā voropeti, tadāpi so vadhakova.
Vadhakañca pana santaṁ na aññāsi:
‘vadhako me’”ti.
“Evamāvuso”ti.
“Evameva kho, āvuso, assutavā puthujjano ariyānaṁ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto, sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto
rūpaṁ attato samanupassati, rūpavantaṁ vā attānaṁ; attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ.
Vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ attato samanupassati, viññāṇavantaṁ vā attānaṁ; attani vā viññāṇaṁ, viññāṇasmiṁ vā attānaṁ.
So aniccaṁ rūpaṁ ‘aniccaṁ rūpan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Aniccaṁ vedanaṁ ‘aniccā vedanā’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Aniccaṁ saññaṁ ‘aniccā saññā’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Anicce saṅkhāre ‘aniccā saṅkhārā’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Aniccaṁ viññāṇaṁ ‘aniccaṁ viññāṇan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Dukkhaṁ rūpaṁ ‘dukkhaṁ rūpan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Dukkhaṁ vedanaṁ …
dukkhaṁ saññaṁ …
dukkhe saṅkhāre …
dukkhaṁ viññāṇaṁ ‘dukkhaṁ viññāṇan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Anattaṁ rūpaṁ ‘anattā rūpan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Anattaṁ vedanaṁ …
anattaṁ saññaṁ …
anatte saṅkhāre …
anattaṁ viññāṇaṁ ‘anattaṁ viññāṇan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Saṅkhataṁ rūpaṁ ‘saṅkhataṁ rūpan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Saṅkhataṁ vedanaṁ …
saṅkhataṁ saññaṁ …
saṅkhate saṅkhāre …
saṅkhataṁ viññāṇaṁ ‘saṅkhataṁ viññāṇan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Vadhakaṁ rūpaṁ ‘vadhakaṁ rūpan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Vadhakaṁ vedanaṁ ‘vadhakā vedanā’ti …
vadhakaṁ saññaṁ ‘vadhakā saññā’ti …
vadhake saṅkhāre ‘vadhakā saṅkhārā’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Vadhakaṁ viññāṇaṁ ‘vadhakaṁ viññāṇan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
So rūpaṁ upeti upādiyati adhiṭṭhāti ‘attā me’ti.
Vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ upeti upādiyati adhiṭṭhāti ‘attā me’ti.
Tassime pañcupādānakkhandhā upetā upādinnā dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya saṁvattanti.
Sutavā ca kho, āvuso, ariyasāvako ariyānaṁ dassāvī …pe… sappurisadhamme suvinīto
na rūpaṁ attato samanupassati, na rūpavantaṁ attānaṁ; na attani rūpaṁ, na rūpasmiṁ attānaṁ.
Na vedanaṁ …
na saññaṁ …
na saṅkhāre …
na viññāṇaṁ attato samanupassati, na viññāṇavantaṁ attānaṁ;
na attani viññāṇaṁ, na viññāṇasmiṁ attānaṁ.
So aniccaṁ rūpaṁ ‘aniccaṁ rūpan’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Aniccaṁ vedanaṁ …
aniccaṁ saññaṁ …
anicce saṅkhāre …
aniccaṁ viññāṇaṁ ‘aniccaṁ viññāṇan’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Dukkhaṁ rūpaṁ ‘dukkhaṁ rūpan’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Dukkhaṁ vedanaṁ …
dukkhaṁ saññaṁ …
dukkhe saṅkhāre …
dukkhaṁ viññāṇaṁ ‘dukkhaṁ viññāṇan’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Anattaṁ rūpaṁ ‘anattā rūpan’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Anattaṁ vedanaṁ …
anattaṁ saññaṁ …
anatte saṅkhāre …
anattaṁ viññāṇaṁ ‘anattā viññāṇan’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Saṅkhataṁ rūpaṁ ‘saṅkhataṁ rūpan’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Saṅkhataṁ vedanaṁ …
saṅkhataṁ saññaṁ …
saṅkhate saṅkhāre …
saṅkhataṁ viññāṇaṁ ‘saṅkhataṁ viññāṇan’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Vadhakaṁ rūpaṁ ‘vadhakaṁ rūpan’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Vadhakaṁ vedanaṁ …
vadhakaṁ saññaṁ …
vadhake saṅkhāre ‘vadhakā saṅkhārā’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Vadhakaṁ viññāṇaṁ ‘vadhakaṁ viññāṇan’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
So rūpaṁ na upeti, na upādiyati, nādhiṭṭhāti: ‘attā me’ti.
Vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ na upeti, na upādiyati, nādhiṭṭhāti: ‘attā me’ti.
Tassime pañcupādānakkhandhā anupetā anupādinnā dīgharattaṁ hitāya sukhāya saṁvattantī”ti.
“Evametaṁ, āvuso sāriputta, hoti yesaṁ āyasmantānaṁ tādisā sabrahmacārino anukampakā atthakāmā ovādakā anusāsakā.
Idañca pana me āyasmato sāriputtassa dhammadesanaṁ sutvā anupādāya āsavehi cittaṁ vimuttan”ti.
Tatiyaṁ.