Vi-n 1 Một thời Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Upasena trú ở Rājagaha (Vương Xá), rừng Sītavana (Hàn Lâm), tại hang Ðầu Con Rắn (Sappapon-dikapabbàra).
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, một con rắn độc rơi trên thân Tôn giả Upasena.
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Upasena gọi các Tỷ-kheo:
—Chư Hiền, hãy đến và nhắc cái giường cùng với cái thân này của tôi đưa ra ngoài, trước khi thân này ở đây phân tán như một nắm rơm.
Vi-n 4 Ðược nói vậy, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Upasena:
—Nhưng chúng tôi không thấy thân Tôn giả Upasena đổi khác hay các căn bị biến hoại.
Vi-n 5 Nhưng Tôn giả Upasena nói như sau:
—Này chư Hiền, hãy đến và nhắc cái giường cùng với cái thân này của tôi đưa ra ngoài, trước khi thân này ở đây bị phân tán như một nắm rơm …
Vi-n 6 Này Hiền giả Sāriputta, đối với ai nghĩ rằng: “Tôi là con mắt”, hay: “Con mắt là của tôi” … “Tôi là cái lưỡi”, hay: “Cái lưỡi là của tôi” … “Tôi là ý”, hay: “Ý là của tôi”, thời đối với các người ấy, này Hiền giả Sāriputta, thân có thể bị đổi khác, hay các căn bị biến hoại. Và này Hiền giả Sāriputta, tôi không nghĩ như sau: “Tôi là con mắt”, hay: “Con mắt là của tôi” … “Tôi là cái lưỡi”, hay: “Cái lưỡi là của tôi” … hay: “Tôi là ý”, hay: “Ý là của tôi”, thời này Hiền giả Sāriputta, làm sao thân ấy của tôi lại có thể đổi khác, hay các căn có thể biến hoại.
Vi-n 7 Vì rằng trong một thời gian dài, Tôn giả Upasena đã khéo nhổ tận gốc ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên, cho nên Tôn giả Upasena không có những tư tưởng như: “Tôi là con mắt”, hay: “Con mắt là của tôi” … hay: “Tôi là cái lưỡi”, hay: “Lưỡi là của tôi” … hay: “Tôi là ý”, hay: “Ý là của tôi”.
Vi-n 8 Rồi các Tỷ-kheo ấy nhắc cái giường cùng với Tôn giả Upasena ra ngoài.
Vi-n 9 Rồi thân của Tôn giả Upasena, ngay tại chỗ ấy phân tán như một nắm rơm.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā ca sāriputto āyasmā ca upaseno rājagahe viharanti sītavane sappasoṇḍikapabbhāre.
Tena kho pana samayena āyasmato upasenassa kāye āsīviso patito hoti.
Atha kho āyasmā upaseno bhikkhū āmantesi:
“etha me, āvuso, imaṁ kāyaṁ mañcakaṁ āropetvā bahiddhā nīharatha.
Purāyaṁ kāyo idheva vikirati;
seyyathāpi bhusamuṭṭhī”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā sāriputto āyasmantaṁ upasenaṁ etadavoca:
“na kho pana mayaṁ passāma āyasmato upasenassa kāyassa vā aññathattaṁ indriyānaṁ vā vipariṇāmaṁ.
Atha ca panāyasmā upaseno evamāha:
‘etha me, āvuso, imaṁ kāyaṁ mañcakaṁ āropetvā bahiddhā nīharatha.
Purāyaṁ kāyo idheva vikirati;
seyyathāpi bhusamuṭṭhī’”ti.
“Yassa nūna, āvuso sāriputta, evamassa:
‘ahaṁ cakkhūti vā mama cakkhūti vā …pe…
ahaṁ jivhāti vā mama jivhāti vā …
ahaṁ manoti vā mama mano’ti vā.
Tassa, āvuso sāriputta, siyā kāyassa vā aññathattaṁ indriyānaṁ vā vipariṇāmo.
Mayhañca kho, āvuso sāriputta, na evaṁ hoti:
‘ahaṁ cakkhūti vā mama cakkhūti vā …pe…
ahaṁ jivhāti vā mama jivhāti vā …pe…
ahaṁ manoti vā mama manoti vā’.
Tassa mayhañca kho, āvuso sāriputta, kiṁ kāyassa vā aññathattaṁ bhavissati, indriyānaṁ vā vipariṇāmo”ti.
Tathā hi panāyasmato upasenassa dīgharattaṁ ahaṅkāramamaṅkāramānānusayo susamūhato.
Tasmā āyasmato upasenassa na evaṁ hoti:
“‘ahaṁ cakkhūti vā mama cakkhūti vā …pe…
ahaṁ jivhāti vā mama jivhāti vā …pe…
ahaṁ manoti vā mama mano’ti vā”ti.
Atha kho te bhikkhū āyasmato upasenassa kāyaṁ mañcakaṁ āropetvā bahiddhā nīhariṁsu.
Atha kho āyasmato upasenassa kāyo tattheva vikiri;
seyyathāpi bhusamuṭṭhīti.
Sattamaṁ.
SC 1On one occasion the Venerable Sāriputta and the Venerable Upasena were dwelling at Rajagaha in the Cool Grove, in the
SC 2Snake’s Hood Grotto. Now on that occasion a viper had fallen on the Venerable Upasena’s body. Then the Venerable Upasena addressed the bhikkhus thus: “Come, friends, lift this body of mine on to the bed and carry it outside before it is scattered right here like a handful of chaff.”
SC 3When this was said, the Venerable Sāriputta said to the Venerable Upasena: “We do not see any alteration in the Venerable Upasena’s body nor any change in his faculties; yet the Venerable Upasena says: ‘Come, friends, lift this body of mine on to the bed and carry it outside before it is scattered right here like a handful of chaff.’”
SC 4“Friend Sāriputta, for one who thinks, ‘I am the eye’ or ‘The eye is mine’; ‘I am the ear’ or ‘The ear is mine’ … ‘I am the mind’ or ‘The mind is mine,’ there might be alteration of the body or a change of the faculties. But, friend Sāriputta, sn.iv.41 it does not occur to me, ‘I am the eye’ or ‘The eye is mine’; ‘I am the ear’ or ‘The ear is mine’ … ‘I am the mind’ or ‘The mind is mine,’ so why should there be any alteration in my body or any change in my faculties?”
SC 5“It must be because I-making, mine-making, and the underlying tendency to conceit have been thoroughly uprooted in the Venerable Upasena for a long time that it does not occur to him, ‘I am the eye’ or ‘The eye is mine’; ‘I am the ear’ or ‘The ear is mine’ … ‘I am the mind’ or ‘The mind is mine.’”
SC 6Then those bhikkhus lifted the Venerable Upasena’s body on to the bed and carried it outside. Then the Venerable Upasena’s body was scattered right there just like a handful of chaff.
Vi-n 1 Một thời Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Upasena trú ở Rājagaha (Vương Xá), rừng Sītavana (Hàn Lâm), tại hang Ðầu Con Rắn (Sappapon-dikapabbàra).
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, một con rắn độc rơi trên thân Tôn giả Upasena.
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Upasena gọi các Tỷ-kheo:
—Chư Hiền, hãy đến và nhắc cái giường cùng với cái thân này của tôi đưa ra ngoài, trước khi thân này ở đây phân tán như một nắm rơm.
Vi-n 4 Ðược nói vậy, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Upasena:
—Nhưng chúng tôi không thấy thân Tôn giả Upasena đổi khác hay các căn bị biến hoại.
Vi-n 5 Nhưng Tôn giả Upasena nói như sau:
—Này chư Hiền, hãy đến và nhắc cái giường cùng với cái thân này của tôi đưa ra ngoài, trước khi thân này ở đây bị phân tán như một nắm rơm …
Vi-n 6 Này Hiền giả Sāriputta, đối với ai nghĩ rằng: “Tôi là con mắt”, hay: “Con mắt là của tôi” … “Tôi là cái lưỡi”, hay: “Cái lưỡi là của tôi” … “Tôi là ý”, hay: “Ý là của tôi”, thời đối với các người ấy, này Hiền giả Sāriputta, thân có thể bị đổi khác, hay các căn bị biến hoại. Và này Hiền giả Sāriputta, tôi không nghĩ như sau: “Tôi là con mắt”, hay: “Con mắt là của tôi” … “Tôi là cái lưỡi”, hay: “Cái lưỡi là của tôi” … hay: “Tôi là ý”, hay: “Ý là của tôi”, thời này Hiền giả Sāriputta, làm sao thân ấy của tôi lại có thể đổi khác, hay các căn có thể biến hoại.
Vi-n 7 Vì rằng trong một thời gian dài, Tôn giả Upasena đã khéo nhổ tận gốc ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên, cho nên Tôn giả Upasena không có những tư tưởng như: “Tôi là con mắt”, hay: “Con mắt là của tôi” … hay: “Tôi là cái lưỡi”, hay: “Lưỡi là của tôi” … hay: “Tôi là ý”, hay: “Ý là của tôi”.
Vi-n 8 Rồi các Tỷ-kheo ấy nhắc cái giường cùng với Tôn giả Upasena ra ngoài.
Vi-n 9 Rồi thân của Tôn giả Upasena, ngay tại chỗ ấy phân tán như một nắm rơm.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā ca sāriputto āyasmā ca upaseno rājagahe viharanti sītavane sappasoṇḍikapabbhāre.
Tena kho pana samayena āyasmato upasenassa kāye āsīviso patito hoti.
Atha kho āyasmā upaseno bhikkhū āmantesi:
“etha me, āvuso, imaṁ kāyaṁ mañcakaṁ āropetvā bahiddhā nīharatha.
Purāyaṁ kāyo idheva vikirati;
seyyathāpi bhusamuṭṭhī”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā sāriputto āyasmantaṁ upasenaṁ etadavoca:
“na kho pana mayaṁ passāma āyasmato upasenassa kāyassa vā aññathattaṁ indriyānaṁ vā vipariṇāmaṁ.
Atha ca panāyasmā upaseno evamāha:
‘etha me, āvuso, imaṁ kāyaṁ mañcakaṁ āropetvā bahiddhā nīharatha.
Purāyaṁ kāyo idheva vikirati;
seyyathāpi bhusamuṭṭhī’”ti.
“Yassa nūna, āvuso sāriputta, evamassa:
‘ahaṁ cakkhūti vā mama cakkhūti vā …pe…
ahaṁ jivhāti vā mama jivhāti vā …
ahaṁ manoti vā mama mano’ti vā.
Tassa, āvuso sāriputta, siyā kāyassa vā aññathattaṁ indriyānaṁ vā vipariṇāmo.
Mayhañca kho, āvuso sāriputta, na evaṁ hoti:
‘ahaṁ cakkhūti vā mama cakkhūti vā …pe…
ahaṁ jivhāti vā mama jivhāti vā …pe…
ahaṁ manoti vā mama manoti vā’.
Tassa mayhañca kho, āvuso sāriputta, kiṁ kāyassa vā aññathattaṁ bhavissati, indriyānaṁ vā vipariṇāmo”ti.
Tathā hi panāyasmato upasenassa dīgharattaṁ ahaṅkāramamaṅkāramānānusayo susamūhato.
Tasmā āyasmato upasenassa na evaṁ hoti:
“‘ahaṁ cakkhūti vā mama cakkhūti vā …pe…
ahaṁ jivhāti vā mama jivhāti vā …pe…
ahaṁ manoti vā mama mano’ti vā”ti.
Atha kho te bhikkhū āyasmato upasenassa kāyaṁ mañcakaṁ āropetvā bahiddhā nīhariṁsu.
Atha kho āyasmato upasenassa kāyo tattheva vikiri;
seyyathāpi bhusamuṭṭhīti.
Sattamaṁ.