S.iv,206Vi-n 1-2. …
Vi-n 3 —Kẻ vô văn phàm phu nói như sau: “Ở giữa biển lớn, có vực thẳm”. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu đối với việc không có, không xẩy ra, lại nói: “Ở giữa biển lớn, có vực thẳm”.
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, đồng nghĩa với các khổ thọ về thân là vực thẳm này.
Vi-n 5 Kẻ vô văn phàm phu, khi cảm giác khổ thọ về thân, thời sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là kẻ vô văn phàm phu không đứng lên trên vực thẳm, không đạt tới chỗ chân đứng.
Vi-n 6 Còn bậc Ða văn Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, khi cảm giác khổ thọ về thân, không sầu muộn, không than vãn, không khóc lóc, không đấm ngực, không đi đến bất tỉnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là bậc Ða văn Thánh đệ tử đã đứng lên trên vực thẳm, đã đạt tới chỗ chân đứng.
Vi-n 1 Ai không chịu đựng nổi,
Các khổ thọ khởi lên,
Thân đau, hại mạng sống,
Cảm xúc khiến run rẩy.
Ai than vãn, khóc lóc,
Suy nhược, thiếu kiên cường,
Không đứng trên vực sâu,
Không đạt chỗ chân đứng.
Vi-n 2 Ai có thể chịu đựng,
Các khổ thọ khởi lên,
Thân đau, hại mạng sống,
Cảm xúc không run rẩy,
Vị ấy vượt vực sâu,
Ðạt tới chỗ chân đứng.
“Assutavā, bhikkhave, puthujjano yaṁ vācaṁ bhāsati:
‘atthi mahāsamudde pātālo’ti.
Taṁ kho panetaṁ, bhikkhave, assutavā puthujjano asantaṁ avijjamānaṁ evaṁ vācaṁ bhāsati:
‘atthi mahāsamudde pātālo’ti.
Sārīrikānaṁ kho etaṁ, bhikkhave, dukkhānaṁ vedanānaṁ adhivacanaṁ yadidaṁ ‘pātālo’ti.
Assutavā, bhikkhave, puthujjano sārīrikāya dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno socati kilamati paridevati urattāḷiṁ kandati sammohaṁ āpajjati.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘assutavā puthujjano pātāle na paccuṭṭhāsi, gādhañca nājjhagā’.
Sutavā ca kho, bhikkhave, ariyasāvako sārīrikāya dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno neva socati, na kilamati, na paridevati, na urattāḷiṁ kandati, na sammohaṁ āpajjati.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘sutavā ariyasāvako pātāle paccuṭṭhāsi, gādhañca ajjhagā’ti.
Yo etā nādhivāseti,
uppannā vedanā dukhā;
Sārīrikā pāṇaharā,
yāhi phuṭṭho pavedhati.
Akkandati parodati,
dubbalo appathāmako;
Na so pātāle paccuṭṭhāsi,
atho gādhampi nājjhagā.
Yo cetā adhivāseti,
uppannā vedanā dukhā;
Sārīrikā pāṇaharā,
yāhi phuṭṭho na vedhati;
Sa ve pātāle paccuṭṭhāsi,
atho gādhampi ajjhagā”ti.
Catutthaṁ.
SC 1“Bhikkhus, when the uninstructed worldling makes the statement, ‘In the great ocean there is a bottomless abyss,’ he makes such a statement about something that is nonexistent and unreal. This, bhikkhus, is rather a designation for painful bodily feelings, that is, ‘bottomless abyss.’
SC 2“When the uninstructed worldling is contacted by a painful bodily feeling, he sorrows, grieves, and laments; he weeps and beats his breast and becomes distraught. This is called an uninstructed worldling who has not risen up in the bottomless abyss, one who has not gained a foothold.
SC 3“But, bhikkhus, when the instructed noble disciple is contacted by a painful bodily feeling, he does not sorrow, grieve, or lament; he does not weep and beat his breast and become distraught. This is called an instructed noble disciple who has risen up in the bottomless abyss, one who has gained a foothold.”
SC 4One who cannot endure
The arisen painful feelings,
Bodily feelings that sap one’s life,
Who trembles when they touch him,
A weakling of little strength
Who weeps out loud and wails:
He has not risen up in the bottomless abyss,
Nor has he even gained a foothold. sn.iv.207
SC 5But one who is able to endure them—
The arisen painful feelings,
Bodily feelings that sap one’s life—
Who trembles not when they touch him:
He has risen up in the bottomless abyss,
And he has also gained a foothold.
S.iv,206Vi-n 1-2. …
Vi-n 3 —Kẻ vô văn phàm phu nói như sau: “Ở giữa biển lớn, có vực thẳm”. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu đối với việc không có, không xẩy ra, lại nói: “Ở giữa biển lớn, có vực thẳm”.
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, đồng nghĩa với các khổ thọ về thân là vực thẳm này.
Vi-n 5 Kẻ vô văn phàm phu, khi cảm giác khổ thọ về thân, thời sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là kẻ vô văn phàm phu không đứng lên trên vực thẳm, không đạt tới chỗ chân đứng.
Vi-n 6 Còn bậc Ða văn Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, khi cảm giác khổ thọ về thân, không sầu muộn, không than vãn, không khóc lóc, không đấm ngực, không đi đến bất tỉnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là bậc Ða văn Thánh đệ tử đã đứng lên trên vực thẳm, đã đạt tới chỗ chân đứng.
Vi-n 1 Ai không chịu đựng nổi,
Các khổ thọ khởi lên,
Thân đau, hại mạng sống,
Cảm xúc khiến run rẩy.
Ai than vãn, khóc lóc,
Suy nhược, thiếu kiên cường,
Không đứng trên vực sâu,
Không đạt chỗ chân đứng.
Vi-n 2 Ai có thể chịu đựng,
Các khổ thọ khởi lên,
Thân đau, hại mạng sống,
Cảm xúc không run rẩy,
Vị ấy vượt vực sâu,
Ðạt tới chỗ chân đứng.
“Assutavā, bhikkhave, puthujjano yaṁ vācaṁ bhāsati:
‘atthi mahāsamudde pātālo’ti.
Taṁ kho panetaṁ, bhikkhave, assutavā puthujjano asantaṁ avijjamānaṁ evaṁ vācaṁ bhāsati:
‘atthi mahāsamudde pātālo’ti.
Sārīrikānaṁ kho etaṁ, bhikkhave, dukkhānaṁ vedanānaṁ adhivacanaṁ yadidaṁ ‘pātālo’ti.
Assutavā, bhikkhave, puthujjano sārīrikāya dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno socati kilamati paridevati urattāḷiṁ kandati sammohaṁ āpajjati.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘assutavā puthujjano pātāle na paccuṭṭhāsi, gādhañca nājjhagā’.
Sutavā ca kho, bhikkhave, ariyasāvako sārīrikāya dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno neva socati, na kilamati, na paridevati, na urattāḷiṁ kandati, na sammohaṁ āpajjati.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘sutavā ariyasāvako pātāle paccuṭṭhāsi, gādhañca ajjhagā’ti.
Yo etā nādhivāseti,
uppannā vedanā dukhā;
Sārīrikā pāṇaharā,
yāhi phuṭṭho pavedhati.
Akkandati parodati,
dubbalo appathāmako;
Na so pātāle paccuṭṭhāsi,
atho gādhampi nājjhagā.
Yo cetā adhivāseti,
uppannā vedanā dukhā;
Sārīrikā pāṇaharā,
yāhi phuṭṭho na vedhati;
Sa ve pātāle paccuṭṭhāsi,
atho gādhampi ajjhagā”ti.
Catutthaṁ.