Vi-n 1 …
Vi-n 2 Rồi một Tỷ-kheo đi đến một Tỷ-kheo khác, sau khi đến, nói với Tỷ-kheo ấy:
—Cho đến như thế nào, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?
—Này Hiền giả, Tỷ-kheo khi nào như thật rõ biết sự tập khởi và sự đoạn diệt của sáu xúc xứ; cho đến như vậy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh.
Vi-n 3 Tỷ-kheo ấy không thỏa mãn với câu trả lời câu hỏi của Tỷ-kheo kia, liền đi đến một Tỷ-kheo khác và nói:
—Này Hiền giả, cho đến như thế nào, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?
—Này Hiền giả, khi nào Tỷ-kheo như thật rõ biết sự tập khởi và sự đoạn diệt của năm thủ uẩn; khi ấy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh.
Vi-n 4 Tỷ-kheo ấy không thỏa mãn với câu trả lời của Tỷ-kheo kia, liền đi đến một Tỷ-kheo khác nữa và nói:
—Này Hiền giả, cho đến như thế nào, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?
—Này Hiền giả, khi nào Tỷ-kheo như thật tuệ tri sự tập khởi và sự chấm dứt của bốn đại chủng; khi ấy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh.
Vi-n 5 Rồi Tỷ-kheo ấy không thỏa mãn …
—Này Hiền giả, khi nào Tỷ-kheo như thật rõ biết rằng, phàm pháp gì được khởi lên, tất cả pháp ấy đều phải đoạn diệt; khi ấy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh.
Vi-n 6 Rồi Tỷ-kheo ấy không thỏa mãn với câu trả lời câu hỏi của Tỷ-kheo kia, liền đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con đi đến một Tỷ-kheo và nói với Tỷ-kheo ấy: “Cho đến như thế nào, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?” Khi được nói vậy, Tỷ-kheo ấy nói với con: “Khi nào như thật tuệ tri sự tập khởi và sự chấm dứt của sáu xúc xứ; khi ấy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh”. Bạch Thế Tôn, con không thỏa mãn câu trả lời của Tỷ-kheo kia nên đi đến một Tỷ-kheo khác; sau khi đến, con nói với Tỷ-kheo ấy: “Cho đến như thế nào, này Hiền giả, sự thấy của một Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?” Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo ấy nói với con: “Khi nào, này Hiền giả, Tỷ-kheo như thật tuệ tri sự tập khởi và sự chấm dứt của năm thủ uẩn … như thật tuệ tri sự tập khởi và sự chấm dứt của bốn đại chủng … như thật tuệ tri rằng, phàm có pháp gì được tập khởi, tất cả pháp ấy bị đoạn diệt, cho đến như vậy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh”. Bạch Thế Tôn, con không thỏa mãn câu trả lời câu hỏi của Tỷ-kheo kia nên con đi đến Thế Tôn và bạch Thế Tôn: “Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?”
Vi-n 7 —Ví như, này Tỷ-kheo, một người chưa từng thấy cây kimsuka, người ấy đi đến một người khác đã thấy cây kimsuka và nói: “Này Bạn, cây kimsuka là thế nào?”. Người ấy đáp như sau: “Này Bạn, cây kimsuma màu đen, như một khúc cây bị cháy”. Như vậy, này Tỷ-kheo, trong thời gian ấy, cây kimsuka đối với người ấy là giống như người kia đã thấy. Rồi, này Tỷ-kheo, người ấy không thỏa mãn với câu trả lời của người kia, liền đi đến một người khác đã thấy cây kimsuka, sau khi đến, hỏi người ấy: “Này Bạn, cây kimsuka là thế nào?” Người kia trả lời: “Này Bạn, cây kimsuka màu đỏ, giống như một đống thịt”. Và này Tỷ-kheo, như vậy trong thời gian ấy, cây kimsuka đối với người ấy là giống như người kia đã thấy. Rồi, này Tỷ-kheo, người ấy không thỏa mãn với câu trả lời của người kia, đi đến một người khác đã thấy cây kimsuka, sau khi đến nói với người ấy: “Này Bạn, cây kimsuka là thế nào?” Người kia trả lời: “Này Bạn, cây kimsuka bị lột vỏ, vỏ bị nứt nẻ ra như cây keo (sirìso)”. Này Tỷ-kheo, trong thời gian ấy, cây kimsuka đối với người ấy là giống như người kia đã thấy. Rồi, này Tỷ-kheo, người ấy không thỏa mãn với câu trả lời của người kia, liền đi đến một người khác đã thấy cây kimsuka, sau khi đến, nói với người ấy: “Này Bạn, cây kimsuka là thế nào?” Người kia nói như sau: “Này Bạn, cây kimsuka có lá rậm rạp, bóng của nó dày và rậm, như cây bàng”. Như vậy, này Tỷ-kheo, trong thời gian ấy, cây kimsuka đối với người ấy là giống như người kia đã thấy. Cũng vậy, này Tỷ-kheo, tùy theo sự thấy của Chân nhân ấy khéo thanh tịnh, tùy thuộc theo đấy, họ đã trả lời.
Vi-n 8 Ví như, này Tỷ-kheo, có ngôi thành của vua ở biên giới được xây dựng với pháo đài kiên cố, với tường và tháp canh kiên cố và có đến sáu cửa thành. Tại đấy có người giữ cửa thành, là bậc thông minh, có kinh nghiệm và có trí, ngăn chận những người không quen biết, cho vào những người quen biết. Từ phương Ðông, hai người sứ giả cấp tốc đi đến, và nói với người giữ cửa thành: “Này Bạn, vị chủ thành trì này ở đâu?” Người giữa cửa thành ấy nói: “Thưa các Tôn giả, vị ấy đang ngồi giữa ngã tư đường”. Hai người sứ giả ấy cấp tốc tuyên bố lời như thật ngữ cho vị chủ ngôi thành, rồi tiếp tục đi theo con đường họ đến. Từ phương Tây, lại hai người sứ giả cấp tốc đi đến … từ phương Bắc, lại hai người sứ giả cấp tốc đi đến, và nói với người giữ cửa thành: “Này Bạn, vị chủ thành trì này ở đâu?” Người giữ cửa thành ấy nói: “Thưa các Tôn giả, vị ấy đang ngồi giữa ngã tư đường”. Rồi hai người sứ giả ấy cấp tốc tuyên bố lời như thật ngữ cho vị chủ ngôi thành, rồi tiếp tục theo con đường họ đến.
Vi-n 9 Này Tỷ-kheo, Ta nói ví dụ để giải thích ý nghĩa, và đây là ý nghĩa: Ngôi thành, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với thân do bốn đại chủng tạo thành này, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, tiêu mòn, tiêu hao, hủy hoại, hủy diệt. Sáu cửa, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ. Người giữ cửa, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với niệm. Hai vị sứ giả cấp tốc, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với chỉ và quán. Người chủ ngôi thành là đồng nghĩa với thức. Ở giữa tại ngã tư đường là đồng nghĩa với bốn đại chủng: địa giới, thủy giới, hỏa giới và phong giới. Lời như thật ngữ, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Niết-bàn. Theo con đường họ đến là đồng nghĩa với con đường Thánh đạo Tám ngành. Như chánh tri kiến … chánh định.
Atha kho aññataro bhikkhu yenaññataro bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ etadavoca:
“kittāvatā nu kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī”ti?
“Yato kho, āvuso, bhikkhu channaṁ phassāyatanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca yathābhūtaṁ pajānāti, ettāvatā kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī”ti.
Atha kho so bhikkhu asantuṭṭho tassa bhikkhussa pañhaveyyākaraṇena, yenaññataro bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ etadavoca:
“kittāvatā nu kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī”ti?
“Yato kho, āvuso, bhikkhu pañcannaṁ upādānakkhandhānaṁ samudayañca atthaṅgamañca yathābhūtaṁ pajānāti, ettāvatā kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī”ti.
Atha kho so bhikkhu asantuṭṭho tassa bhikkhussa pañhaveyyākaraṇena, yenaññataro bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ etadavoca:
“kittāvatā nu kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī”ti?
“Yato kho, āvuso, bhikkhu catunnaṁ mahābhūtānaṁ samudayañca atthaṅgamañca yathābhūtaṁ pajānāti, ettāvatā kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī”ti.
Atha kho so bhikkhu asantuṭṭho tassa bhikkhussa pañhaveyyākaraṇena, yenaññataro bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ etadavoca:
“kittāvatā nu kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī”ti?
“Yato kho, āvuso, bhikkhu yaṁ kiñci samudayadhammaṁ, sabbaṁ taṁ nirodhadhammanti yathābhūtaṁ pajānāti, ettāvatā kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī”ti.
Atha kho so bhikkhu asantuṭṭho tassa bhikkhussa pañhaveyyākaraṇena, yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca: “idhāhaṁ, bhante, yenaññataro bhikkhu tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ etadavocaṁ:
‘kittāvatā nu kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī’ti?
Evaṁ vutte, bhante, so bhikkhu maṁ etadavoca:
‘yato kho, āvuso, bhikkhu channaṁ phassāyatanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca yathābhūtaṁ pajānāti, ettāvatā kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī’ti.
Atha khvāhaṁ, bhante, asantuṭṭho tassa bhikkhussa pañhaveyyākaraṇena, yenaññataro bhikkhu tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ etadavocaṁ:
‘kittāvatā nu kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī’ti?
Evaṁ vutte, bhante, so bhikkhu maṁ etadavoca:
‘yato kho, āvuso, bhikkhu pañcannaṁ upādānakkhandhānaṁ …pe…
catunnaṁ mahābhūtānaṁ samudayañca atthaṅgamañca yathābhūtaṁ pajānāti …pe…
yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhammanti yathābhūtaṁ pajānāti, ettāvatā kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī’ti.
Atha khvāhaṁ, bhante, asantuṭṭho tassa bhikkhussa pañhaveyyākaraṇena yena bhagavā tenupasaṅkamiṁ (…).
Kittāvatā nu kho, bhante, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī”ti?
“Seyyathāpi, bhikkhu, purisassa kiṁsuko adiṭṭhapubbo assa.
So yenaññataro puriso kiṁsukassa dassāvī tenupasaṅkameyya. Upasaṅkamitvā taṁ purisaṁ evaṁ vadeyya:
‘kīdiso, bho purisa, kiṁsuko’ti?
So evaṁ vadeyya:
‘kāḷako kho, ambho purisa, kiṁsuko—seyyathāpi jhāmakhāṇū’ti.
Tena kho pana, bhikkhu, samayena tādisovassa kiṁsuko yathāpi tassa purisassa dassanaṁ.
Atha kho so, bhikkhu, puriso asantuṭṭho tassa purisassa pañhaveyyākaraṇena, yenaññataro puriso kiṁsukassa dassāvī tenupasaṅkameyya; upasaṅkamitvā taṁ purisaṁ evaṁ vadeyya:
‘kīdiso, bho purisa, kiṁsuko’ti?
So evaṁ vadeyya:
‘lohitako kho, ambho purisa, kiṁsuko—seyyathāpi maṁsapesī’ti.
Tena kho pana, bhikkhu, samayena tādisovassa kiṁsuko yathāpi tassa purisassa dassanaṁ.
Atha kho so bhikkhu puriso asantuṭṭho tassa purisassa pañhaveyyākaraṇena, yenaññataro puriso kiṁsukassa dassāvī tenupasaṅkameyya; upasaṅkamitvā taṁ purisaṁ evaṁ vadeyya:
‘kīdiso, bho purisa, kiṁsuko’ti?
So evaṁ vadeyya:
‘ocīrakajāto kho, ambho purisa, kiṁsuko ādinnasipāṭiko—seyyathāpi sirīso’ti.
Tena kho pana, bhikkhu, samayena tādisovassa kiṁsuko, yathāpi tassa purisassa dassanaṁ.
Atha kho so bhikkhu puriso asantuṭṭho tassa purisassa pañhaveyyākaraṇena, yenaññataro puriso kiṁsukassa dassāvī tenupasaṅkameyya; upasaṅkamitvā taṁ purisaṁ evaṁ vadeyya:
‘kīdiso, bho purisa, kiṁsuko’ti?
So evaṁ vadeyya:
‘bahalapattapalāso sandacchāyo kho, ambho purisa, kiṁsuko—seyyathāpi nigrodho’ti.
Tena kho pana, bhikkhu, samayena tādisovassa kiṁsuko, yathāpi tassa purisassa dassanaṁ.
Evameva kho, bhikkhu, yathā yathā adhimuttānaṁ tesaṁ sappurisānaṁ dassanaṁ suvisuddhaṁ hoti tathā tathā kho tehi sappurisehi byākataṁ.
Seyyathāpi, bhikkhu, rañño paccantimaṁ nagaraṁ daḷhuddhāpaṁ daḷhapākāratoraṇaṁ chadvāraṁ.
Tatrassa dovāriko paṇḍito byatto medhāvī, aññātānaṁ nivāretā, ñātānaṁ pavesetā.
Puratthimāya disāya āgantvā sīghaṁ dūtayugaṁ taṁ dovārikaṁ evaṁ vadeyya:
‘kahaṁ, bho purisa, imassa nagarassa nagarassāmī’ti?
So evaṁ vadeyya:
‘eso, bhante, majjhe siṅghāṭake nisinno’ti.
Atha kho taṁ sīghaṁ dūtayugaṁ nagarassāmikassa yathābhūtaṁ vacanaṁ niyyātetvā yathāgatamaggaṁ paṭipajjeyya.
Pacchimāya disāya āgantvā sīghaṁ dūtayugaṁ …pe…
uttarāya disāya …
dakkhiṇāya disāya āgantvā sīghaṁ dūtayugaṁ taṁ dovārikaṁ evaṁ vadeyya:
‘kahaṁ, bho purisa, imassa nagarassāmī’ti?
So evaṁ vadeyya:
‘eso, bhante, majjhe siṅghāṭake nisinno’ti.
Atha kho taṁ sīghaṁ dūtayugaṁ nagarassāmikassa yathābhūtaṁ vacanaṁ niyyātetvā yathāgatamaggaṁ paṭipajjeyya.
Upamā kho myāyaṁ, bhikkhu, katā atthassa viññāpanāya.
Ayañcettha attho:
‘nagaran’ti kho, bhikkhu, imassetaṁ cātumahābhūtikassa kāyassa adhivacanaṁ mātāpettikasambhavassa odanakummāsūpacayassa aniccucchādanaparimaddanabhedanaviddhaṁsanadhammassa.
‘Cha dvārā’ti kho, bhikkhu, channetaṁ ajjhattikānaṁ āyatanānaṁ adhivacanaṁ.
‘Dovāriko’ti kho, bhikkhu, satiyā etaṁ adhivacanaṁ.
‘Sīghaṁ dūtayugan’ti kho, bhikkhu, samathavipassanānetaṁ adhivacanaṁ.
‘Nagarassāmī’ti kho, bhikkhu, viññāṇassetaṁ adhivacanaṁ.
‘Majjhe siṅghāṭako’ti kho, bhikkhu, catunnetaṁ mahābhūtānaṁ adhivacanaṁ—
pathavīdhātuyā, āpodhātuyā, tejodhātuyā, vāyodhātuyā.
‘Yathābhūtaṁ vacanan’ti kho, bhikkhu, nibbānassetaṁ adhivacanaṁ.
‘Yathāgatamaggo’ti kho, bhikkhu, ariyassetaṁ aṭṭhaṅgikassa maggassa adhivacanaṁ, seyyathidaṁ—
sammādiṭṭhiyā …pe… sammāsamādhissā”ti.
Aṭṭhamaṁ.
SC 1One bhikkhu approached another and asked him: “In what way, friend, is a bhikkhu’s vision well purified?”
SC 2“When, friend, a bhikkhu understands as they really are the origin and the passing away of the six bases for contact, sn.iv.192 in this way his vision is well purified.”
SC 3Then the first bhikkhu, dissatisfied with the other’s answer, approached another bhikkhu and asked him: “In what way, friend, is a bhikkhu’s vision well purified?”
SC 4“When, friend, a bhikkhu understands as they really are the origin and the passing away of the five aggregates subject to clinging, in this way his vision is well purified.”
SC 5Again, the first bhikkhu, dissatisfied with the other’s answer, approached still another bhikkhu and asked him: “In what way, friend, is a bhikkhu’s vision well purified?”
SC 6“When, friend, a bhikkhu understands as they really are the origin and the passing away of the four great elements, in this way his vision is well purified.”
SC 7Again, the first bhikkhu, dissatisfied with the other’s answer, approached still another bhikkhu and asked him: “In what way, friend, is a bhikkhu’s vision well purified?”
SC 8“When, friend, a bhikkhu understands as it really is: ‘Whatever is subject to origination is all subject to cessation,’ in this way his vision is well purified.”
SC 9Then the first bhikkhu, dissatisfied with the other’s answer, approached the Blessed One, reported everything that had happened, sn.iv.193 and asked: “In what way, venerable sir, is a bhikkhu’s vision well purified?”
SC 10“Bhikkhu, suppose there was a man who had never before seen a Kiṁ tree. He might approach a man who had seen a Kiṁ tree and ask him: ‘Sir, what is a Kiṁ tree like?’ The other might answer: ‘Good man, a Kiṁ tree is blackish, like a charred stump.’ On that occasion a kiṁsuka tree might have been exactly as that man had seen it.
SC 11“Then that man, dissatisfied with the other’s answer, might approach another man who had seen a kiṁsuka tree and ask him: ‘Sir, what is a kiṁsuka tree like?’ The other might answer: ‘Good man, a kiṁsuka tree is reddish, like a piece of meat.’ On that occasion a kiṁsuka tree might have been exactly as that man had seen it.
SC 12“Then that man, dissatisfied with the other’s answer, might approach still another man who had seen a kiṁsuka tree and ask him: ’Sir, what is a kiṁsuka tree like?’ The other might answer: ‘Good man, a kiṁsuka tree has strips of bark hanging down and burst pods, like an acacia tree.’ On that occasion a kiṁsuka tree might have been exactly as that man had seen it.
SC 13“Then that man, dissatisfied with the other’s answer, sn.iv.194 might approach still another man who had seen a kiṁsuka tree and ask him: ‘Sir, what is a kiṁsuka tree like?’ The other might answer: ‘Good man, a kiṁsuka tree has plenty of leaves and foliage and gives abundant shade, like a banyan tree.’ On that occasion a kiṁsuka tree might have been exactly as that man had seen it.
SC 14“So too, bhikkhu, those superior men answered as they were disposed in just the way their own vision had been well purified. “Suppose, bhikkhu, a king had a frontier city with strong ramparts, walls, and arches, and with six gates. The gatekeeper posted there would be wise, competent, and intelligent; one who keeps out strangers and admits acquaintances. A swift pair of messengers would come from the east and ask the gatekeeper: ‘Where, good man, is the lord of this city?’ He would reply: ‘He is sitting in the central square.’ Then the swift pair of messengers would deliver a message of reality to the lord of the city and leave by the route by which they had arrived. Similarly, messengers would come from the west, from the north, from the south, deliver their message, and leave by the route by which they had arrived.
SC 15“I have made up this simile, bhikkhu, in order to convey a meaning. This is the meaning here: ‘The city’: this is a designation for this body consisting of the four great elements, originating from mother and father, built up out of boiled rice and gruel, subject to impermanence, to being worn and rubbed away, to breaking apart and dispersal. ‘The six gates’: this is a designation for the six internal sense bases. ‘The gatekeeper’: this is a designation for mindfulness. sn.iv.195 ‘The swift pair of messengers’: this is a designation for serenity and insight. ‘The lord of the city’: this is designation for consciousness. ‘The central square’: this is a designation for the four great elements—the earth element, the water element, the heat element, the air element. ‘A message of reality’: this is a designation for Nibbāna. ‘The route by which they had arrived’: this is a designation for the Noble Eightfold Path; that is, right view … right concentration.”
Vi-n 1 …
Vi-n 2 Rồi một Tỷ-kheo đi đến một Tỷ-kheo khác, sau khi đến, nói với Tỷ-kheo ấy:
—Cho đến như thế nào, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?
—Này Hiền giả, Tỷ-kheo khi nào như thật rõ biết sự tập khởi và sự đoạn diệt của sáu xúc xứ; cho đến như vậy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh.
Vi-n 3 Tỷ-kheo ấy không thỏa mãn với câu trả lời câu hỏi của Tỷ-kheo kia, liền đi đến một Tỷ-kheo khác và nói:
—Này Hiền giả, cho đến như thế nào, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?
—Này Hiền giả, khi nào Tỷ-kheo như thật rõ biết sự tập khởi và sự đoạn diệt của năm thủ uẩn; khi ấy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh.
Vi-n 4 Tỷ-kheo ấy không thỏa mãn với câu trả lời của Tỷ-kheo kia, liền đi đến một Tỷ-kheo khác nữa và nói:
—Này Hiền giả, cho đến như thế nào, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?
—Này Hiền giả, khi nào Tỷ-kheo như thật tuệ tri sự tập khởi và sự chấm dứt của bốn đại chủng; khi ấy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh.
Vi-n 5 Rồi Tỷ-kheo ấy không thỏa mãn …
—Này Hiền giả, khi nào Tỷ-kheo như thật rõ biết rằng, phàm pháp gì được khởi lên, tất cả pháp ấy đều phải đoạn diệt; khi ấy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh.
Vi-n 6 Rồi Tỷ-kheo ấy không thỏa mãn với câu trả lời câu hỏi của Tỷ-kheo kia, liền đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con đi đến một Tỷ-kheo và nói với Tỷ-kheo ấy: “Cho đến như thế nào, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?” Khi được nói vậy, Tỷ-kheo ấy nói với con: “Khi nào như thật tuệ tri sự tập khởi và sự chấm dứt của sáu xúc xứ; khi ấy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh”. Bạch Thế Tôn, con không thỏa mãn câu trả lời của Tỷ-kheo kia nên đi đến một Tỷ-kheo khác; sau khi đến, con nói với Tỷ-kheo ấy: “Cho đến như thế nào, này Hiền giả, sự thấy của một Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?” Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo ấy nói với con: “Khi nào, này Hiền giả, Tỷ-kheo như thật tuệ tri sự tập khởi và sự chấm dứt của năm thủ uẩn … như thật tuệ tri sự tập khởi và sự chấm dứt của bốn đại chủng … như thật tuệ tri rằng, phàm có pháp gì được tập khởi, tất cả pháp ấy bị đoạn diệt, cho đến như vậy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh”. Bạch Thế Tôn, con không thỏa mãn câu trả lời câu hỏi của Tỷ-kheo kia nên con đi đến Thế Tôn và bạch Thế Tôn: “Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?”
Vi-n 7 —Ví như, này Tỷ-kheo, một người chưa từng thấy cây kimsuka, người ấy đi đến một người khác đã thấy cây kimsuka và nói: “Này Bạn, cây kimsuka là thế nào?”. Người ấy đáp như sau: “Này Bạn, cây kimsuma màu đen, như một khúc cây bị cháy”. Như vậy, này Tỷ-kheo, trong thời gian ấy, cây kimsuka đối với người ấy là giống như người kia đã thấy. Rồi, này Tỷ-kheo, người ấy không thỏa mãn với câu trả lời của người kia, liền đi đến một người khác đã thấy cây kimsuka, sau khi đến, hỏi người ấy: “Này Bạn, cây kimsuka là thế nào?” Người kia trả lời: “Này Bạn, cây kimsuka màu đỏ, giống như một đống thịt”. Và này Tỷ-kheo, như vậy trong thời gian ấy, cây kimsuka đối với người ấy là giống như người kia đã thấy. Rồi, này Tỷ-kheo, người ấy không thỏa mãn với câu trả lời của người kia, đi đến một người khác đã thấy cây kimsuka, sau khi đến nói với người ấy: “Này Bạn, cây kimsuka là thế nào?” Người kia trả lời: “Này Bạn, cây kimsuka bị lột vỏ, vỏ bị nứt nẻ ra như cây keo (sirìso)”. Này Tỷ-kheo, trong thời gian ấy, cây kimsuka đối với người ấy là giống như người kia đã thấy. Rồi, này Tỷ-kheo, người ấy không thỏa mãn với câu trả lời của người kia, liền đi đến một người khác đã thấy cây kimsuka, sau khi đến, nói với người ấy: “Này Bạn, cây kimsuka là thế nào?” Người kia nói như sau: “Này Bạn, cây kimsuka có lá rậm rạp, bóng của nó dày và rậm, như cây bàng”. Như vậy, này Tỷ-kheo, trong thời gian ấy, cây kimsuka đối với người ấy là giống như người kia đã thấy. Cũng vậy, này Tỷ-kheo, tùy theo sự thấy của Chân nhân ấy khéo thanh tịnh, tùy thuộc theo đấy, họ đã trả lời.
Vi-n 8 Ví như, này Tỷ-kheo, có ngôi thành của vua ở biên giới được xây dựng với pháo đài kiên cố, với tường và tháp canh kiên cố và có đến sáu cửa thành. Tại đấy có người giữ cửa thành, là bậc thông minh, có kinh nghiệm và có trí, ngăn chận những người không quen biết, cho vào những người quen biết. Từ phương Ðông, hai người sứ giả cấp tốc đi đến, và nói với người giữ cửa thành: “Này Bạn, vị chủ thành trì này ở đâu?” Người giữa cửa thành ấy nói: “Thưa các Tôn giả, vị ấy đang ngồi giữa ngã tư đường”. Hai người sứ giả ấy cấp tốc tuyên bố lời như thật ngữ cho vị chủ ngôi thành, rồi tiếp tục đi theo con đường họ đến. Từ phương Tây, lại hai người sứ giả cấp tốc đi đến … từ phương Bắc, lại hai người sứ giả cấp tốc đi đến, và nói với người giữ cửa thành: “Này Bạn, vị chủ thành trì này ở đâu?” Người giữ cửa thành ấy nói: “Thưa các Tôn giả, vị ấy đang ngồi giữa ngã tư đường”. Rồi hai người sứ giả ấy cấp tốc tuyên bố lời như thật ngữ cho vị chủ ngôi thành, rồi tiếp tục theo con đường họ đến.
Vi-n 9 Này Tỷ-kheo, Ta nói ví dụ để giải thích ý nghĩa, và đây là ý nghĩa: Ngôi thành, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với thân do bốn đại chủng tạo thành này, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, tiêu mòn, tiêu hao, hủy hoại, hủy diệt. Sáu cửa, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ. Người giữ cửa, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với niệm. Hai vị sứ giả cấp tốc, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với chỉ và quán. Người chủ ngôi thành là đồng nghĩa với thức. Ở giữa tại ngã tư đường là đồng nghĩa với bốn đại chủng: địa giới, thủy giới, hỏa giới và phong giới. Lời như thật ngữ, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Niết-bàn. Theo con đường họ đến là đồng nghĩa với con đường Thánh đạo Tám ngành. Như chánh tri kiến … chánh định.
Atha kho aññataro bhikkhu yenaññataro bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ etadavoca:
“kittāvatā nu kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī”ti?
“Yato kho, āvuso, bhikkhu channaṁ phassāyatanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca yathābhūtaṁ pajānāti, ettāvatā kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī”ti.
Atha kho so bhikkhu asantuṭṭho tassa bhikkhussa pañhaveyyākaraṇena, yenaññataro bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ etadavoca:
“kittāvatā nu kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī”ti?
“Yato kho, āvuso, bhikkhu pañcannaṁ upādānakkhandhānaṁ samudayañca atthaṅgamañca yathābhūtaṁ pajānāti, ettāvatā kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī”ti.
Atha kho so bhikkhu asantuṭṭho tassa bhikkhussa pañhaveyyākaraṇena, yenaññataro bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ etadavoca:
“kittāvatā nu kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī”ti?
“Yato kho, āvuso, bhikkhu catunnaṁ mahābhūtānaṁ samudayañca atthaṅgamañca yathābhūtaṁ pajānāti, ettāvatā kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī”ti.
Atha kho so bhikkhu asantuṭṭho tassa bhikkhussa pañhaveyyākaraṇena, yenaññataro bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ etadavoca:
“kittāvatā nu kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī”ti?
“Yato kho, āvuso, bhikkhu yaṁ kiñci samudayadhammaṁ, sabbaṁ taṁ nirodhadhammanti yathābhūtaṁ pajānāti, ettāvatā kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī”ti.
Atha kho so bhikkhu asantuṭṭho tassa bhikkhussa pañhaveyyākaraṇena, yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca: “idhāhaṁ, bhante, yenaññataro bhikkhu tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ etadavocaṁ:
‘kittāvatā nu kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī’ti?
Evaṁ vutte, bhante, so bhikkhu maṁ etadavoca:
‘yato kho, āvuso, bhikkhu channaṁ phassāyatanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca yathābhūtaṁ pajānāti, ettāvatā kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī’ti.
Atha khvāhaṁ, bhante, asantuṭṭho tassa bhikkhussa pañhaveyyākaraṇena, yenaññataro bhikkhu tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ etadavocaṁ:
‘kittāvatā nu kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī’ti?
Evaṁ vutte, bhante, so bhikkhu maṁ etadavoca:
‘yato kho, āvuso, bhikkhu pañcannaṁ upādānakkhandhānaṁ …pe…
catunnaṁ mahābhūtānaṁ samudayañca atthaṅgamañca yathābhūtaṁ pajānāti …pe…
yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhammanti yathābhūtaṁ pajānāti, ettāvatā kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī’ti.
Atha khvāhaṁ, bhante, asantuṭṭho tassa bhikkhussa pañhaveyyākaraṇena yena bhagavā tenupasaṅkamiṁ (…).
Kittāvatā nu kho, bhante, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī”ti?
“Seyyathāpi, bhikkhu, purisassa kiṁsuko adiṭṭhapubbo assa.
So yenaññataro puriso kiṁsukassa dassāvī tenupasaṅkameyya. Upasaṅkamitvā taṁ purisaṁ evaṁ vadeyya:
‘kīdiso, bho purisa, kiṁsuko’ti?
So evaṁ vadeyya:
‘kāḷako kho, ambho purisa, kiṁsuko—seyyathāpi jhāmakhāṇū’ti.
Tena kho pana, bhikkhu, samayena tādisovassa kiṁsuko yathāpi tassa purisassa dassanaṁ.
Atha kho so, bhikkhu, puriso asantuṭṭho tassa purisassa pañhaveyyākaraṇena, yenaññataro puriso kiṁsukassa dassāvī tenupasaṅkameyya; upasaṅkamitvā taṁ purisaṁ evaṁ vadeyya:
‘kīdiso, bho purisa, kiṁsuko’ti?
So evaṁ vadeyya:
‘lohitako kho, ambho purisa, kiṁsuko—seyyathāpi maṁsapesī’ti.
Tena kho pana, bhikkhu, samayena tādisovassa kiṁsuko yathāpi tassa purisassa dassanaṁ.
Atha kho so bhikkhu puriso asantuṭṭho tassa purisassa pañhaveyyākaraṇena, yenaññataro puriso kiṁsukassa dassāvī tenupasaṅkameyya; upasaṅkamitvā taṁ purisaṁ evaṁ vadeyya:
‘kīdiso, bho purisa, kiṁsuko’ti?
So evaṁ vadeyya:
‘ocīrakajāto kho, ambho purisa, kiṁsuko ādinnasipāṭiko—seyyathāpi sirīso’ti.
Tena kho pana, bhikkhu, samayena tādisovassa kiṁsuko, yathāpi tassa purisassa dassanaṁ.
Atha kho so bhikkhu puriso asantuṭṭho tassa purisassa pañhaveyyākaraṇena, yenaññataro puriso kiṁsukassa dassāvī tenupasaṅkameyya; upasaṅkamitvā taṁ purisaṁ evaṁ vadeyya:
‘kīdiso, bho purisa, kiṁsuko’ti?
So evaṁ vadeyya:
‘bahalapattapalāso sandacchāyo kho, ambho purisa, kiṁsuko—seyyathāpi nigrodho’ti.
Tena kho pana, bhikkhu, samayena tādisovassa kiṁsuko, yathāpi tassa purisassa dassanaṁ.
Evameva kho, bhikkhu, yathā yathā adhimuttānaṁ tesaṁ sappurisānaṁ dassanaṁ suvisuddhaṁ hoti tathā tathā kho tehi sappurisehi byākataṁ.
Seyyathāpi, bhikkhu, rañño paccantimaṁ nagaraṁ daḷhuddhāpaṁ daḷhapākāratoraṇaṁ chadvāraṁ.
Tatrassa dovāriko paṇḍito byatto medhāvī, aññātānaṁ nivāretā, ñātānaṁ pavesetā.
Puratthimāya disāya āgantvā sīghaṁ dūtayugaṁ taṁ dovārikaṁ evaṁ vadeyya:
‘kahaṁ, bho purisa, imassa nagarassa nagarassāmī’ti?
So evaṁ vadeyya:
‘eso, bhante, majjhe siṅghāṭake nisinno’ti.
Atha kho taṁ sīghaṁ dūtayugaṁ nagarassāmikassa yathābhūtaṁ vacanaṁ niyyātetvā yathāgatamaggaṁ paṭipajjeyya.
Pacchimāya disāya āgantvā sīghaṁ dūtayugaṁ …pe…
uttarāya disāya …
dakkhiṇāya disāya āgantvā sīghaṁ dūtayugaṁ taṁ dovārikaṁ evaṁ vadeyya:
‘kahaṁ, bho purisa, imassa nagarassāmī’ti?
So evaṁ vadeyya:
‘eso, bhante, majjhe siṅghāṭake nisinno’ti.
Atha kho taṁ sīghaṁ dūtayugaṁ nagarassāmikassa yathābhūtaṁ vacanaṁ niyyātetvā yathāgatamaggaṁ paṭipajjeyya.
Upamā kho myāyaṁ, bhikkhu, katā atthassa viññāpanāya.
Ayañcettha attho:
‘nagaran’ti kho, bhikkhu, imassetaṁ cātumahābhūtikassa kāyassa adhivacanaṁ mātāpettikasambhavassa odanakummāsūpacayassa aniccucchādanaparimaddanabhedanaviddhaṁsanadhammassa.
‘Cha dvārā’ti kho, bhikkhu, channetaṁ ajjhattikānaṁ āyatanānaṁ adhivacanaṁ.
‘Dovāriko’ti kho, bhikkhu, satiyā etaṁ adhivacanaṁ.
‘Sīghaṁ dūtayugan’ti kho, bhikkhu, samathavipassanānetaṁ adhivacanaṁ.
‘Nagarassāmī’ti kho, bhikkhu, viññāṇassetaṁ adhivacanaṁ.
‘Majjhe siṅghāṭako’ti kho, bhikkhu, catunnetaṁ mahābhūtānaṁ adhivacanaṁ—
pathavīdhātuyā, āpodhātuyā, tejodhātuyā, vāyodhātuyā.
‘Yathābhūtaṁ vacanan’ti kho, bhikkhu, nibbānassetaṁ adhivacanaṁ.
‘Yathāgatamaggo’ti kho, bhikkhu, ariyassetaṁ aṭṭhaṅgikassa maggassa adhivacanaṁ, seyyathidaṁ—
sammādiṭṭhiyā …pe… sammāsamādhissā”ti.
Aṭṭhamaṁ.