Vi-n 1-2. Tại Sāvatthi …
Vi-n 3 —Có tám pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa từ bờ bên này đến bờ bên kia (apàràpa ramgamanàya). Thế nào là tám? Tức là chánh tri kiến … chánh định. Tám pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa từ bờ bên này đến bờ bên kia.
Vi-n 4 Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ thuyết như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Vi-n 1~1 Ít thay là những người,
Ðạt đến bờ bên kia.
Phần lớn quần chúng khác,
Chạy qua lại bờ này.
Vi-n 2~2 Những ai theo thuyết giảng,
Chánh pháp khéo tuyên thuyết,
Họ đến bờ bên kia,
Khéo vượt cảnh giới Ma.
Vi-n 3~3 Ðoạn tận các hắc pháp,
Bậc trí tu bạch pháp,
Bỏ nhà, sống không nhà,
Trong độc cư, khó lạc.
Vi-n 4~4 Ở đây, muốn hưởng lạc,
Hãy bỏ mọi dục vọng,
Bậc trí tự thanh lọc,
Tự tâm khỏi phiền não.
Vi-n 5~5 Những ai khéo tu tập,
Chánh tâm trong giác chi,
Từ bỏ các chấp trước,
Hoan hỷ không chấp thủ,
Lậu hoặc tận, chói sáng,
Ðạt tịch tịnh ở đời.
Sāvatthinidānaṁ.
“Aṭṭhime, bhikkhave, dhammā bhāvitā bahulīkatā apārā pāraṁ gamanāya saṁvattanti.
Katame aṭṭha?
Seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
Ime kho, bhikkhave, aṭṭha dhammā bhāvitā bahulīkatā apārā pāraṁ gamanāya saṁvattantī”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Appakā te manussesu,
ye janā pāragāmino;
Athāyaṁ itarā pajā,
tīramevānudhāvati.
Ye ca kho sammadakkhāte,
dhamme dhammānuvattino;
Te janā pāramessanti,
maccudheyyaṁ suduttaraṁ.
Kaṇhaṁ dhammaṁ vippahāya,
sukkaṁ bhāvetha paṇḍito;
Okā anokamāgamma,
viveke yattha dūramaṁ.
Tatrābhiratimiccheyya,
hitvā kāme akiñcano;
Pariyodapeyya attānaṁ,
cittaklesehi paṇḍito.
Yesaṁ sambodhiyaṅgesu,
sammā cittaṁ subhāvitaṁ;
Ādānapaṭinissagge,
anupādāya ye ratā;
Khīṇāsavā jutimanto,
te loke parinibbutā”ti.
Catutthaṁ.
SC 1At Savatthī. “Bhikkhus, these eight things, when developed and cultivated, lead to going beyond from the near shore to the far shore. What eight? Right view … right concentration. These eight things, when developed and cultivated, lead to going beyond from the near shore to the far shore.”
SC 2This is what the Blessed One said. Having said this, the Fortunate One, the Teacher, further said this:
SC 3“Few are those among humankind
Who go beyond to the far shore.
The rest of the people merely run
Up and down along the bank.
SC 4“When the Dhamma is rightly expounded
Those who practise in accord with the Dhamma
Are the people who will go beyond
The realm of Death so hard to cross.
SC 5“Having left behind the dark qualities,
The wise man should develop the bright ones.
Having come from home into homelessness,
Where it is hard to take delight—
SC 6“There in seclusion he should seek delight,
Having left behind sensual pleasures.
Owning nothing, the wise man
Should cleanse himself of mental defilements.
SC 7“Those whose minds are well developed
In the factors of enlightenment,
Who through nonclinging find delight
In the relinquishment of grasping:
Those luminous ones with taints destroyed
Are fully quenched in the world.” sn.v.25
Vi-n 1-2. Tại Sāvatthi …
Vi-n 3 —Có tám pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa từ bờ bên này đến bờ bên kia (apàràpa ramgamanàya). Thế nào là tám? Tức là chánh tri kiến … chánh định. Tám pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa từ bờ bên này đến bờ bên kia.
Vi-n 4 Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ thuyết như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Vi-n 1~1 Ít thay là những người,
Ðạt đến bờ bên kia.
Phần lớn quần chúng khác,
Chạy qua lại bờ này.
Vi-n 2~2 Những ai theo thuyết giảng,
Chánh pháp khéo tuyên thuyết,
Họ đến bờ bên kia,
Khéo vượt cảnh giới Ma.
Vi-n 3~3 Ðoạn tận các hắc pháp,
Bậc trí tu bạch pháp,
Bỏ nhà, sống không nhà,
Trong độc cư, khó lạc.
Vi-n 4~4 Ở đây, muốn hưởng lạc,
Hãy bỏ mọi dục vọng,
Bậc trí tự thanh lọc,
Tự tâm khỏi phiền não.
Vi-n 5~5 Những ai khéo tu tập,
Chánh tâm trong giác chi,
Từ bỏ các chấp trước,
Hoan hỷ không chấp thủ,
Lậu hoặc tận, chói sáng,
Ðạt tịch tịnh ở đời.
Sāvatthinidānaṁ.
“Aṭṭhime, bhikkhave, dhammā bhāvitā bahulīkatā apārā pāraṁ gamanāya saṁvattanti.
Katame aṭṭha?
Seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
Ime kho, bhikkhave, aṭṭha dhammā bhāvitā bahulīkatā apārā pāraṁ gamanāya saṁvattantī”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Appakā te manussesu,
ye janā pāragāmino;
Athāyaṁ itarā pajā,
tīramevānudhāvati.
Ye ca kho sammadakkhāte,
dhamme dhammānuvattino;
Te janā pāramessanti,
maccudheyyaṁ suduttaraṁ.
Kaṇhaṁ dhammaṁ vippahāya,
sukkaṁ bhāvetha paṇḍito;
Okā anokamāgamma,
viveke yattha dūramaṁ.
Tatrābhiratimiccheyya,
hitvā kāme akiñcano;
Pariyodapeyya attānaṁ,
cittaklesehi paṇḍito.
Yesaṁ sambodhiyaṅgesu,
sammā cittaṁ subhāvitaṁ;
Ādānapaṭinissagge,
anupādāya ye ratā;
Khīṇāsavā jutimanto,
te loke parinibbutā”ti.
Catutthaṁ.