Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Vesālī, Ðại Lâm, tại Trùng Các giảng đường.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ Tôn giả Anuràdha ở một cái chòi trong rừng, không xa Thế Tôn bao nhiêu.
Vi-n 3 Rồi nhiều ngoại đạo du sĩ đi đến Tôn giả Anuràdha; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Anuràdha những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 4 Ngồi xuống một bên, các ngoại đạo du sĩ ấy nói với Tôn giả Anuràdha:
—Này Hiền giả Anuràdha, bậc Như Lai ấy là Tối thượng nhân, Tối thắng nhân, đã đạt được Tối thắng quả, bậc Như Lai ấy, được xem là đã tuyên bố theo bốn trường hợp: “Như Lai tồn tại sau khi chết; Như lai không tồn tại sau khi chết; Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 5 Ðược nói vậy, Tôn giả Anuràdha nói với các ngoại đạo du sĩ ấy:
—Này Chư Hiền, bậc Như Lai, Tối thượng nhân, Tối thắng nhân, bậc đã đạt được Tối thắng quả, bậc Như Lai ấy được xem là đã tuyên bố ra ngoài bốn trường hợp như sau: “Như Lai tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại sau khi chết; Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 6 Ðược nghe nói vậy, các ngoại đạo du sĩ nói với Tôn giả Anuràdha như sau:
—Hoặc là vị Tỷ-kheo này mới tu học, xuất gia không bao lâu. Hay vị này là vị Trưởng lão, nhưng ngu dốt không có học tập.
Vi-n 7 Rồi các ngoại đạo du sĩ ấy sau khi chỉ trích Tôn giả Anuràdha là mới tu học, là ngu si, liền từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Vi-n 8 Rồi Tôn giả Anuràdha, sau khi các ngoại đạo du sĩ ấy ra đi không bao lâu, liền suy nghĩ như sau: “Nếu ngoại đạo du sĩ ấy hỏi ta thêm câu hỏi nữa, ta phải trả lời như thế nào để khi ta nói với các ngoại đạo du sĩ ấy, ta nói lên quan điểm của Thế Tôn, ta không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật, ta có thể trả lời tùy pháp, thuận với Chánh pháp; và ai là người đồng pháp, nói lên lời thuận với quan điểm của Ngài, sẽ không tìm được lý do để quở trách”.
Vi-n 9 Rồi Tôn giả Anuràdha đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 10 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Anuràdha bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con ở trong một cái chòi trong rừng không xa Thế Tôn bao nhiêu. Rồi bạch Thế Tôn, nhiều ngoại đạo du sĩ đi đến con; sau khi đến … nói với con như sau: “Này Hiền giả Anuràdha, bậc Như Lai ấy là Tối thượng nhân, Tối thắng nhân, đã đạt được Tối thắng quả, bậc Như Lai ấy được xem là đã tuyên bố theo bốn trường hợp: ‘Như Lai tồn tại sau khi chết … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết’”.
Vi-n 11 Ðược nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với các ngoại đạo du sĩ ấy như sau: “Này chư Hiền.. không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 12 Ðược nghe nói vậy, các ngoại đạo du sĩ nói với con: “Hoặc là Tỷ-kheo này mới học … nhưng ngu dốt, không có học tập”.
Vi-n 13 Rồi các ngoại đạo du sĩ ấy sau khi chỉ trích con là mới tu học … liền từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Vi-n 14 Rồi bạch Thế Tôn, sau khi các ngoại đạo du sĩ ấy ra đi không bao lâu, con liền suy nghĩ như sau: “Nếu các ngoại đạo du sĩ ấy hỏi ta thêm câu hỏi nữa, ta phải trả lời như thế nào để khi ta nói với các ngoại đạo du sĩ ấy, ta nói lên quan điểm của Thế Tôn. Ta không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật, ta có thể trả lời với tùy pháp, thuận với Chánh pháp; và ai là người đồng pháp, nói lên lời thuận với quan điểm của Ngài, sẽ không tìm được lý do để quở trách”.
Vi-n 15 Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, sắc là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Thọ … tưởng … các hành … thức là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 16-17. —Do vậy … thấy vậy … ” … không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.
Vi-n 18 Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán: “Sắc là Như Lai không?”
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
“—Thọ … tưởng … các hành … thức là Như Lai không?”
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 19 Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán: “Như Lai ở trong sắc không?”
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Ông có quán: “Như Lai ở ngoài sắc không”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Ông có quán: “Như lai ở trong thọ … ở ngoài thọ … ở trong tưởng … ở ngoài tưởng … ở trong các hành … ở ngoài các hành … ở trong thức không”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Ông có quán: “Như Lai ở ngoài thức không”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán: “Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là Như Lai không”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 20 —Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán: “Cái phi sắc, phi thọ, phi tưởng, phi hành, phi thức là Như Lai không”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 21 —Và ở đây, này Anuràdha, ngay trong hiện tại không tìm được một Như Lai thường còn, thường trú, thời có hợp lý chăng khi Ông trả lời: “Này chư Hiền, vị Như Lai nào là bậc Tối thượng nhân, Tối thắng nhân, đã đạt được quả Tối thắng, bậc Như Lai ấy được xem là đã tuyên bố ra ngoài bốn trường hợp như sau: ‘Như Lai tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại sau khi chết; Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết’ ”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 22 —Lành thay, lành thay, này Anuràdha! Trước kia và nay, này Anuràdha, Ta chỉ tuyên bố khổ và đoạn diệt khổ.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Tena kho pana samayena āyasmā anurādho bhagavato avidūre araññakuṭikāyaṁ viharati.
Atha kho sambahulā aññatitthiyā paribbājakā yenāyasmā anurādho tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmatā anurādhena saddhiṁ sammodiṁsu.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te aññatitthiyā paribbājakā āyasmantaṁ anurādhaṁ etadavocuṁ:
“yo so, āvuso anurādha, tathāgato uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto, taṁ tathāgato imesu catūsu ṭhānesu paññāpayamāno paññāpeti:
‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā”ti?
Evaṁ vutte, āyasmā anurādho te aññatitthiye paribbājake etadavoca:
“yo so āvuso tathāgato uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto taṁ tathāgato aññatra imehi catūhi ṭhānehi paññāpayamāno paññāpeti:
‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā”ti.
Evaṁ vutte, aññatitthiyā paribbājakā āyasmantaṁ anurādhaṁ etadavocuṁ:
“so cāyaṁ bhikkhu navo bhavissati acirapabbajito, thero vā pana bālo abyatto”ti.
Atha kho aññatitthiyā paribbājakā āyasmantaṁ anurādhaṁ navavādena ca bālavādena ca apasādetvā uṭṭhāyāsanā pakkamiṁsu.
Atha kho āyasmato anurādhassa acirapakkantesu tesu aññatitthiyesu paribbājakesu etadahosi:
“sace kho maṁ te aññatitthiyā paribbājakā uttariṁ pañhaṁ puccheyyuṁ.
Kathaṁ byākaramāno nu khvāhaṁ tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ vuttavādī ceva bhagavato assaṁ, na ca bhagavantaṁ abhūtena abbhācikkheyyaṁ, dhammassa cānudhammaṁ byākareyyaṁ, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṁ ṭhānaṁ āgaccheyyā”ti?
Atha kho āyasmā anurādho yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā …pe… ekamantaṁ nisinno kho āyasmā anurādho bhagavantaṁ etadavoca:
“idhāhaṁ, bhante, bhagavato avidūre araññakuṭikāyaṁ viharāmi.
Atha kho, bhante, sambahulā aññatitthiyā paribbājakā yenāhaṁ tenupasaṅkamiṁsu …pe… maṁ etadavocuṁ:
‘yo so, āvuso anurādha, tathāgato uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto taṁ tathāgato imesu catūsu ṭhānesu paññāpayamāno paññāpeti—
hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā, na hoti …
hoti ca na ca hoti, neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā’”ti?
Evaṁ vuttāhaṁ, bhante, te aññatitthiye paribbājake etadavocaṁ:
“yo so, āvuso, tathāgato uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto, taṁ tathāgato aññatra imehi catūhi ṭhānehi paññāpayamāno paññāpeti:
‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā …pe…
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vāti.
Evaṁ vutte, bhante, te aññatitthiyā paribbājakā maṁ etadavocuṁ:
‘so cāyaṁ bhikkhu na vo bhavissati acirapabbajito thero vā pana bālo abyatto’ti.
Atha kho maṁ, bhante, te aññatitthiyā paribbājakā navavādena ca bālavādena ca apasādetvā uṭṭhāyāsanā pakkamiṁsu.
Tassa mayhaṁ, bhante, acirapakkantesu tesu aññatitthiyesu paribbājakesu etadahosi:
‘sace kho maṁ te aññatitthiyā paribbājakā uttariṁ pañhaṁ puccheyyuṁ.
Kathaṁ byākaramāno nu khvāhaṁ tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ vuttavādī ceva bhagavato assaṁ, na ca bhagavantaṁ abhūtena abbhācikkheyyaṁ, dhammassa cānudhammaṁ byākareyyaṁ, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṁ ṭhānaṁ āgaccheyyā’”ti?
“Taṁ kiṁ maññasi, anurādha,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante” …pe…
tasmātiha …pe…
evaṁ passaṁ …pe…
nāparaṁ itthattāyāti pajānāti”.
“Taṁ kiṁ maññasi, anurādha,
rūpaṁ tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññasi, anurādha,
rūpasmiṁ tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Aññatra rūpā tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Vedanāya …pe…
aññatra vedanāya …pe…
saññāya …
aññatra saññāya …
saṅkhāresu …
aññatra saṅkhārehi …
viññāṇasmiṁ …
aññatra viññāṇā tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññasi, anurādha,
rūpaṁ … vedanā … saññā … saṅkhārā … viññāṇaṁ tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññasi, anurādha,
ayaṁ so arūpī … avedano … asaññī … asaṅkhāro … aviññāṇo tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Ettha ca te, anurādha, diṭṭheva dhamme saccato thetato tathāgate anupalabbhiyamāne kallaṁ nu te taṁ veyyākaraṇaṁ:
‘yo so, āvuso, tathāgato uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto taṁ tathāgato aññatra imehi catūhi ṭhānehi paññāpayamāno paññāpeti—
hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā … na hoti … hoti ca na ca hoti … neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu sādhu, anurādha.
Pubbe cāhaṁ, anurādha, etarahi ca dukkhañceva paññapemi, dukkhassa ca nirodhan”ti.
Catutthaṁ.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling at Vesali in the Great Wood in the Hall with the Peaked Roof. Now on that occasion the Venerable Anuradha was dwelling in a forest hut not far from the Blessed One. Then a number of wanderers of other sects approached the Venerable Anuradha and exchanged greetings with him. When they had concluded their greetings and cordial talk, they sat down to one side and said to him:
SC 2“Friend Anuradha, when a Tathagata is describing a Tathagata—the highest type of person, the supreme person, the attainer of the supreme attainment —he describes him in terms of these four cases: ‘The Tathagata exists after death,’ or ‘The Tathagata does not exist after death,’ or ‘The Tathagata both exists and does not exist after death,’ or ‘The Tathagata neither exists nor does not exist after death.’”
SC 3When this was said, the Venerable Anuradha said to those wanderers: ‘Friends, when a Tathagata is describing a Tathagata—the highest type of person, the supreme person, the attainer of the supreme attainment—he describes him apart from these four cases: ‘The Tathagata exists after death,’ or ‘The Tathagata does not exist after death,’ or ‘The Tathagata both exists and does not exist after death,’ or ‘The Tathagata neither exists nor does not exist after death.’”
SC 4When this was said, those wanderers said to the Venerable Anuradha: ‘This bhikkhu must be newly ordained, not long gone forth; or, if he is an elder, he must be an incompetent fool.”
SC 5Then those wanderers of other sects, having denigrated the Venerable Anuradha with the terms “newly ordained” and “fool,” rose from their seats and departed. sn.iii.117
SC 6Then, not long after those wanderers had left, it occurred to the Venerable Anuradha: “If those wanderers of other sects should question me further, how should I answer if I am to state what has been said by the Blessed One and not misrepresent him with what is contrary to fact? And how should I explain in accordance with the Dhamma, so that no reasonable consequence of my assertion would give ground for criticism?”
SC 7Then the Venerable Anuradha approached the Blessed One, paid homage to him, sat down to one side, and reported to the Blessed One everything that had happened, sn.iii.118 asking: “If those wanderers of other sects should question me further, how should I answer … so that no reasonable consequence of my assertion would give ground for criticism?”
SC 8“What do you think, Anuradha, is form permanent or impermanent?”—“Impermanent, venerable sir.”…—“Therefore … Seeing thus … He understands: ‘… there is no more for this state of being.’
SC 9“What do you think, Anuradha, do you regard form as the Tathagata?”—“No, venerable sir.”—“Do you regard feeling … perception … volitional formations … consciousness as the Tathagata?”—“No, venerable sir.”
SC 10“What do you think, Anuradha, do you regard the Tathagata as in form?”—“No, venerable sir.”—“Do you regard the Tathagata as apart from form?”—“No, venerable sir.”—“Do you regard the Tathagata as in feeling? As apart from feeling? As in perception? As apart from perception? As in volitional formations? As apart from volitional formations? As in consciousness? As apart from consciousness?”—“No, venerable sir.”
SC 11“What do you think, Anuradha, do you regard form, feeling, perception, volitional formations, and consciousness taken together as the Tathagata?”—“No, venerable sir.”
SC 12“What do you think, Anuradha, do you regard the Tathagata as one who is without form, without feeling, without perception, without volitional formations, without consciousness?”—“No, venerable sir.”
SC 13“But, Anuradha, when the Tathagata is not apprehended by you as real and actual here in this very life, is it fitting for you to declare: ‘Friends, when a Tathagata is describing a Tathagata—the highest type of person, the supreme person, the attainer of the supreme attainment—he describes him apart from these four cases: sn.iii.119 ‘The Tathagata exists after death,’ or … ‘The Tathagata neither exists nor does not exist after death’?”
“No, venerable sir.”
SC 14“Good, good, Anuradha! Formerly, Anuradha, and also now, I make known just suffering and the cessation of suffering.”
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Vesālī, Ðại Lâm, tại Trùng Các giảng đường.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ Tôn giả Anuràdha ở một cái chòi trong rừng, không xa Thế Tôn bao nhiêu.
Vi-n 3 Rồi nhiều ngoại đạo du sĩ đi đến Tôn giả Anuràdha; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Anuràdha những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 4 Ngồi xuống một bên, các ngoại đạo du sĩ ấy nói với Tôn giả Anuràdha:
—Này Hiền giả Anuràdha, bậc Như Lai ấy là Tối thượng nhân, Tối thắng nhân, đã đạt được Tối thắng quả, bậc Như Lai ấy, được xem là đã tuyên bố theo bốn trường hợp: “Như Lai tồn tại sau khi chết; Như lai không tồn tại sau khi chết; Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 5 Ðược nói vậy, Tôn giả Anuràdha nói với các ngoại đạo du sĩ ấy:
—Này Chư Hiền, bậc Như Lai, Tối thượng nhân, Tối thắng nhân, bậc đã đạt được Tối thắng quả, bậc Như Lai ấy được xem là đã tuyên bố ra ngoài bốn trường hợp như sau: “Như Lai tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại sau khi chết; Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 6 Ðược nghe nói vậy, các ngoại đạo du sĩ nói với Tôn giả Anuràdha như sau:
—Hoặc là vị Tỷ-kheo này mới tu học, xuất gia không bao lâu. Hay vị này là vị Trưởng lão, nhưng ngu dốt không có học tập.
Vi-n 7 Rồi các ngoại đạo du sĩ ấy sau khi chỉ trích Tôn giả Anuràdha là mới tu học, là ngu si, liền từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Vi-n 8 Rồi Tôn giả Anuràdha, sau khi các ngoại đạo du sĩ ấy ra đi không bao lâu, liền suy nghĩ như sau: “Nếu ngoại đạo du sĩ ấy hỏi ta thêm câu hỏi nữa, ta phải trả lời như thế nào để khi ta nói với các ngoại đạo du sĩ ấy, ta nói lên quan điểm của Thế Tôn, ta không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật, ta có thể trả lời tùy pháp, thuận với Chánh pháp; và ai là người đồng pháp, nói lên lời thuận với quan điểm của Ngài, sẽ không tìm được lý do để quở trách”.
Vi-n 9 Rồi Tôn giả Anuràdha đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 10 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Anuràdha bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con ở trong một cái chòi trong rừng không xa Thế Tôn bao nhiêu. Rồi bạch Thế Tôn, nhiều ngoại đạo du sĩ đi đến con; sau khi đến … nói với con như sau: “Này Hiền giả Anuràdha, bậc Như Lai ấy là Tối thượng nhân, Tối thắng nhân, đã đạt được Tối thắng quả, bậc Như Lai ấy được xem là đã tuyên bố theo bốn trường hợp: ‘Như Lai tồn tại sau khi chết … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết’”.
Vi-n 11 Ðược nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với các ngoại đạo du sĩ ấy như sau: “Này chư Hiền.. không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 12 Ðược nghe nói vậy, các ngoại đạo du sĩ nói với con: “Hoặc là Tỷ-kheo này mới học … nhưng ngu dốt, không có học tập”.
Vi-n 13 Rồi các ngoại đạo du sĩ ấy sau khi chỉ trích con là mới tu học … liền từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Vi-n 14 Rồi bạch Thế Tôn, sau khi các ngoại đạo du sĩ ấy ra đi không bao lâu, con liền suy nghĩ như sau: “Nếu các ngoại đạo du sĩ ấy hỏi ta thêm câu hỏi nữa, ta phải trả lời như thế nào để khi ta nói với các ngoại đạo du sĩ ấy, ta nói lên quan điểm của Thế Tôn. Ta không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật, ta có thể trả lời với tùy pháp, thuận với Chánh pháp; và ai là người đồng pháp, nói lên lời thuận với quan điểm của Ngài, sẽ không tìm được lý do để quở trách”.
Vi-n 15 Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, sắc là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Thọ … tưởng … các hành … thức là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 16-17. —Do vậy … thấy vậy … ” … không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.
Vi-n 18 Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán: “Sắc là Như Lai không?”
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
“—Thọ … tưởng … các hành … thức là Như Lai không?”
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 19 Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán: “Như Lai ở trong sắc không?”
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Ông có quán: “Như Lai ở ngoài sắc không”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Ông có quán: “Như lai ở trong thọ … ở ngoài thọ … ở trong tưởng … ở ngoài tưởng … ở trong các hành … ở ngoài các hành … ở trong thức không”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Ông có quán: “Như Lai ở ngoài thức không”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán: “Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là Như Lai không”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 20 —Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán: “Cái phi sắc, phi thọ, phi tưởng, phi hành, phi thức là Như Lai không”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 21 —Và ở đây, này Anuràdha, ngay trong hiện tại không tìm được một Như Lai thường còn, thường trú, thời có hợp lý chăng khi Ông trả lời: “Này chư Hiền, vị Như Lai nào là bậc Tối thượng nhân, Tối thắng nhân, đã đạt được quả Tối thắng, bậc Như Lai ấy được xem là đã tuyên bố ra ngoài bốn trường hợp như sau: ‘Như Lai tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại sau khi chết; Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết’ ”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 22 —Lành thay, lành thay, này Anuràdha! Trước kia và nay, này Anuràdha, Ta chỉ tuyên bố khổ và đoạn diệt khổ.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Tena kho pana samayena āyasmā anurādho bhagavato avidūre araññakuṭikāyaṁ viharati.
Atha kho sambahulā aññatitthiyā paribbājakā yenāyasmā anurādho tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmatā anurādhena saddhiṁ sammodiṁsu.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te aññatitthiyā paribbājakā āyasmantaṁ anurādhaṁ etadavocuṁ:
“yo so, āvuso anurādha, tathāgato uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto, taṁ tathāgato imesu catūsu ṭhānesu paññāpayamāno paññāpeti:
‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā”ti?
Evaṁ vutte, āyasmā anurādho te aññatitthiye paribbājake etadavoca:
“yo so āvuso tathāgato uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto taṁ tathāgato aññatra imehi catūhi ṭhānehi paññāpayamāno paññāpeti:
‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā”ti.
Evaṁ vutte, aññatitthiyā paribbājakā āyasmantaṁ anurādhaṁ etadavocuṁ:
“so cāyaṁ bhikkhu navo bhavissati acirapabbajito, thero vā pana bālo abyatto”ti.
Atha kho aññatitthiyā paribbājakā āyasmantaṁ anurādhaṁ navavādena ca bālavādena ca apasādetvā uṭṭhāyāsanā pakkamiṁsu.
Atha kho āyasmato anurādhassa acirapakkantesu tesu aññatitthiyesu paribbājakesu etadahosi:
“sace kho maṁ te aññatitthiyā paribbājakā uttariṁ pañhaṁ puccheyyuṁ.
Kathaṁ byākaramāno nu khvāhaṁ tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ vuttavādī ceva bhagavato assaṁ, na ca bhagavantaṁ abhūtena abbhācikkheyyaṁ, dhammassa cānudhammaṁ byākareyyaṁ, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṁ ṭhānaṁ āgaccheyyā”ti?
Atha kho āyasmā anurādho yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā …pe… ekamantaṁ nisinno kho āyasmā anurādho bhagavantaṁ etadavoca:
“idhāhaṁ, bhante, bhagavato avidūre araññakuṭikāyaṁ viharāmi.
Atha kho, bhante, sambahulā aññatitthiyā paribbājakā yenāhaṁ tenupasaṅkamiṁsu …pe… maṁ etadavocuṁ:
‘yo so, āvuso anurādha, tathāgato uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto taṁ tathāgato imesu catūsu ṭhānesu paññāpayamāno paññāpeti—
hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā, na hoti …
hoti ca na ca hoti, neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā’”ti?
Evaṁ vuttāhaṁ, bhante, te aññatitthiye paribbājake etadavocaṁ:
“yo so, āvuso, tathāgato uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto, taṁ tathāgato aññatra imehi catūhi ṭhānehi paññāpayamāno paññāpeti:
‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā …pe…
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vāti.
Evaṁ vutte, bhante, te aññatitthiyā paribbājakā maṁ etadavocuṁ:
‘so cāyaṁ bhikkhu na vo bhavissati acirapabbajito thero vā pana bālo abyatto’ti.
Atha kho maṁ, bhante, te aññatitthiyā paribbājakā navavādena ca bālavādena ca apasādetvā uṭṭhāyāsanā pakkamiṁsu.
Tassa mayhaṁ, bhante, acirapakkantesu tesu aññatitthiyesu paribbājakesu etadahosi:
‘sace kho maṁ te aññatitthiyā paribbājakā uttariṁ pañhaṁ puccheyyuṁ.
Kathaṁ byākaramāno nu khvāhaṁ tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ vuttavādī ceva bhagavato assaṁ, na ca bhagavantaṁ abhūtena abbhācikkheyyaṁ, dhammassa cānudhammaṁ byākareyyaṁ, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṁ ṭhānaṁ āgaccheyyā’”ti?
“Taṁ kiṁ maññasi, anurādha,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante” …pe…
tasmātiha …pe…
evaṁ passaṁ …pe…
nāparaṁ itthattāyāti pajānāti”.
“Taṁ kiṁ maññasi, anurādha,
rūpaṁ tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññasi, anurādha,
rūpasmiṁ tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Aññatra rūpā tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Vedanāya …pe…
aññatra vedanāya …pe…
saññāya …
aññatra saññāya …
saṅkhāresu …
aññatra saṅkhārehi …
viññāṇasmiṁ …
aññatra viññāṇā tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññasi, anurādha,
rūpaṁ … vedanā … saññā … saṅkhārā … viññāṇaṁ tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññasi, anurādha,
ayaṁ so arūpī … avedano … asaññī … asaṅkhāro … aviññāṇo tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Ettha ca te, anurādha, diṭṭheva dhamme saccato thetato tathāgate anupalabbhiyamāne kallaṁ nu te taṁ veyyākaraṇaṁ:
‘yo so, āvuso, tathāgato uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto taṁ tathāgato aññatra imehi catūhi ṭhānehi paññāpayamāno paññāpeti—
hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā … na hoti … hoti ca na ca hoti … neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu sādhu, anurādha.
Pubbe cāhaṁ, anurādha, etarahi ca dukkhañceva paññapemi, dukkhassa ca nirodhan”ti.
Catutthaṁ.