Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha, Veluvana, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tôn giả Godhika trú ở sườn núi Isigili, tại Kàlasilà.
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Godhika sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, chứng được nhứt thời tâm giải thoát. Rồi Tôn giả Godhika lại thối thất nhất thời tâm giải thoát ấy.
Vi-n 4 Lần thứ hai, Tôn giả Godhika sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần và chứng được nhất thời tâm giải thoát. Và lần thứ hai, Tôn giả Godhika lại thối thất nhất thời tâm giải thoát ấy.
Vi-n 5 Lần thứ ba, Tôn giả Godhika sống … tâm giải thoát ấy.
Vi-n 6 Lần thứ tư, Tôn giả Godhika sống … tâm giải thoát ấy.
Vi-n 7 Lần thứ năm, Tôn giả Godhika sống … tâm giải thoát ấy.
Vi-n 8 Lần thứ sáu, Tôn giả Godhika sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, chứng được nhất thời tâm giải thoát. Lần thứ sáu, Tôn giả Godhika cũng thối thất nhất thời tâm giải thoát ấy.
Vi-n 9 Lần thứ bảy, Tôn giả Godhika sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, chứng được nhứt thời tâm giải thoát.
Vi-n 10 Rồi Tôn giả Godhika suy nghĩ: “Cho đến lần thứ sáu, ta bị thối thất nhất thời tâm giải thoát. Vậy nay ta hãy đem lại con dao”.
Vi-n 11 Rồi Ác ma biết được tâm tư của Tôn giả Godhika, liền đi đến Thế Tôn; sau khi đến nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Ôi, bậc Ðại Anh hùng!
Ôi, bậc Ðại Trí tuệ!
Ngài chói sáng hào quang,
Thần lực và danh xưng.
Ngài vượt qua tất cả,
Mọi sân hận hãi hùng.
Con chân thành đảnh lễ,
Dưới chân bậc Pháp nhãn.
Ôi, bậc Ðại Anh hùng!
Bậc Chinh phục tử thần!
Ðệ tử Ngài muốn chết,
Ðang suy nghĩ đến chết.
Ôi, bậc Chói Hào quang!
Hãy ngăn chặn vị ấy.
Làm sao, bạch Thế Tôn,
Vị đệ tử của Ngài,
Hoan hỷ trong giáo lý,
Lại không chứng hữu học,
Còn muốn đoạt mạng sống?
Ôi, danh vọng thế gian!
Vi-n 12 Lúc bấy giờ, Tôn giả Godhika đã đem lại và sử dụng con dao.
Vi-n 13 Rồi Thế Tôn được biết: “Ðây là Ác ma”, liền nói lên bài kệ với Ác ma:
Như vậy là sở hành,
Của bậc Ðại Anh hùng,
Không còn nuôi ước vọng
Tạo thêm dòng sinh mạng,
Ðoạn tận ái, ái căn,
Godhika nhập diệt.
Vi-n 14 Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, chúng ta hãy đi đến sườn núi Isigili, Kàlasilà, tại chỗ thiện nam tử Godhika đã đem lại và sử dụng con dao.
Vi-n 15 —Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 16 Rồi Thế Tôn cùng với một số đông Tỷ-kheo đi đến sườn núi Isigili, Kàlasilà, và Thế Tôn thấy từ đằng xa, Tôn giả Godhika đang nằm trên giường, với hai vai mở rộng (bị thương hay co quắp lại).
Vi-n 17 Lúc bấy giờ một làn khói đen tối đi về phía Ðông, đi về phía Tây, đi về phía Bắc, đi về phía Nam, đi về phía Trên, đi về phía Dưới.
Vi-n 18 Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy làn khói đen tối ấy đi về phía Ðông, đi về phía Tây, đi về phía Bắc, đi về phía Nam, đi về phía Trên, đi về phía Dưới không?
—Bạch Thế Tôn, chúng con có thấy như vậy.
Vi-n 19 —Này các Tỷ-kheo, đó là Ác ma đang đi theo dõi thức của thiện nam tử Godhika: “Thức của thiện nam tử Godhika được an trú ở đâu?”. Và này các Tỷ-kheo, thiện nam tử Godhika đã nhập diệt, với thức không an trú ở đâu cả.
Vi-n 20 Rồi Ác ma tay cầm đờn thất huyền cầm màu vàng, đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên bài kệ:
Trên, dưới và bề ngang,
Bốn phương, các phương giữa,
Ta tìm, nhưng không gặp,
Godhika đi đâu.
Vi-n 21 (Thế Tôn):
Vị Anh hùng kiên chí,
Thường Thiền lạc, Thiền tư,
Ngày đêm đầy nhiệt tình,
Nhưng sự sống, không tham,
Chiến thắng quân thần chết,
Tái sanh không đi đến,
Chinh phục ái, ái căn,
Godhika nhập diệt.
Vi-n 22
Còn kẻ bị sầu muộn,
Từ nách rơi huyền cầm,
Dạ-xoa bị thất vọng,
Liền biến mất tại chỗ.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Tena kho pana samayena āyasmā godhiko isigilipasse viharati kāḷasilāyaṁ.
Atha kho āyasmā godhiko appamatto ātāpī pahitatto viharanto sāmayikaṁ cetovimuttiṁ phusi.
Atha kho āyasmā godhiko tamhā sāmayikāya cetovimuttiyā parihāyi.
Dutiyampi kho āyasmā godhiko appamatto ātāpī pahitatto viharanto sāmayikaṁ cetovimuttiṁ phusi.
Dutiyampi kho āyasmā godhiko tamhā sāmayikāya cetovimuttiyā parihāyi.
Tatiyampi kho āyasmā godhiko appamatto ātāpī pahitatto viharanto sāmayikaṁ cetovimuttiṁ phusi.
Tatiyampi kho āyasmā godhiko tamhā …pe… parihāyi.
Catutthampi kho āyasmā godhiko appamatto …pe… vimuttiṁ phusi.
Catutthampi kho āyasmā godhiko tamhā …pe… parihāyi.
Pañcamampi kho āyasmā godhiko …pe… cetovimuttiṁ phusi.
Pañcamampi kho āyasmā …pe… vimuttiyā parihāyi.
Chaṭṭhampi kho āyasmā godhiko appamatto ātāpī pahitatto viharanto sāmayikaṁ cetovimuttiṁ phusi.
Chaṭṭhampi kho āyasmā godhiko tamhā sāmayikāya cetovimuttiyā parihāyi.
Sattamampi kho āyasmā godhiko appamatto ātāpī pahitatto viharanto sāmayikaṁ cetovimuttiṁ phusi.
Atha kho āyasmato godhikassa etadahosi:
“yāva chaṭṭhaṁ khvāhaṁ sāmayikāya cetovimuttiyā parihīno.
Yannūnāhaṁ satthaṁ āhareyyan”ti.
Atha kho māro pāpimā āyasmato godhikassa cetasā cetoparivitakkamaññāya yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ gāthāhi ajjhabhāsi:
“Mahāvīra mahāpañña,
iddhiyā yasasā jala;
Sabbaverabhayātīta,
pāde vandāmi cakkhuma.
Sāvako te mahāvīra,
maraṇaṁ maraṇābhibhū;
Ākaṅkhati cetayati,
taṁ nisedha jutindhara.
Kathañhi bhagavā tuyhaṁ,
Sāvako sāsane rato;
Appattamānaso sekkho,
Kālaṁ kayirā janesutā”ti.
Tena kho pana samayena āyasmatā godhikena satthaṁ āharitaṁ hoti.
Atha kho bhagavā “māro ayaṁ pāpimā” iti viditvā māraṁ pāpimantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
“Evañhi dhīrā kubbanti,
nāvakaṅkhanti jīvitaṁ;
Samūlaṁ taṇhamabbuyha,
godhiko parinibbuto”ti.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“āyāma, bhikkhave, yena isigilipassaṁ kāḷasilā tenupasaṅkamissāma yattha godhikena kulaputtena satthaṁ āharitan”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Atha kho bhagavā sambahulehi bhikkhūhi saddhiṁ yena isigilipassaṁ kāḷasilā tenupasaṅkami.
Addasā kho bhagavā āyasmantaṁ godhikaṁ dūratova mañcake vivattakkhandhaṁ semānaṁ.
Tena kho pana samayena dhūmāyitattaṁ timirāyitattaṁ gacchateva purimaṁ disaṁ, gacchati pacchimaṁ disaṁ, gacchati uttaraṁ disaṁ, gacchati dakkhiṇaṁ disaṁ, gacchati uddhaṁ, gacchati adho, gacchati anudisaṁ.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“passatha no tumhe, bhikkhave, etaṁ dhūmāyitattaṁ timirāyitattaṁ gacchateva purimaṁ disaṁ, gacchati pacchimaṁ disaṁ, gacchati uttaraṁ disaṁ, gacchati dakkhiṇaṁ disaṁ, gacchati uddhaṁ, gacchati adho, gacchati anudisan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Eso kho, bhikkhave, māro pāpimā godhikassa kulaputtassa viññāṇaṁ samanvesati:
‘kattha godhikassa kulaputtassa viññāṇaṁ patiṭṭhitan’ti?
Appatiṭṭhitena ca, bhikkhave, viññāṇena godhiko kulaputto parinibbuto”ti.
Atha kho māro pāpimā beluvapaṇḍuvīṇaṁ ādāya yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
“Uddhaṁ adho ca tiriyaṁ,
disā anudisā svahaṁ;
Anvesaṁ nādhigacchāmi,
godhiko so kuhiṁ gato”ti.
“Yo dhīro dhitisampanno,
jhāyī jhānarato sadā;
Ahorattaṁ anuyuñjaṁ,
jīvitaṁ anikāmayaṁ.
Jetvāna maccuno senaṁ,
anāgantvā punabbhavaṁ;
Samūlaṁ taṇhamabbuyha,
godhiko parinibbuto”ti.
Tassa sokaparetassa,
vīṇā kacchā abhassatha;
Tato so dummano yakkho,
tatthevantaradhāyathāti.
SC 1Thus have I heard. On one occasion the Blessed One was dwelling at Rajagaha in the Bamboo Grove, the Squirrel Sanctuary.
SC 2Now on that occasion the Venerable Godhika was dwelling on the Black Rock on the Isigili Slope. Then, while the Venerable Godhika was dwelling diligent, ardent, and resolute, he reached temporary liberation of mind, but he fell away from that temporary liberation of mind. A second time, while the Venerable Godhika was dwelling diligent, ardent, and resolute, he reached temporary liberation of mind, but he fell away from that temporary liberation of mind. A third time…A fourth time … sn.i.121 A fifth time…A sixth time, while the Venerable Godhika was dwelling diligent, ardent, and resolute, he reached temporary liberation of mind, but he fell away from that temporary liberation of mind. A seventh time, while the Venerable Godhika was dwelling diligent, ardent, and resolute, he reached temporary liberation of mind.
SC 3Then it occurred to the Venerable Godhika: “Six times already I have fallen away from temporary liberation of mind. Let me use the knife.”
SC 4Then Mara the Evil One, having known with his own mind the reflection in the Venerable Godhika’s mind, approached the Blessed One and addressed him with these verses:
SC 5 “O great hero, great in wisdom,
Blazing forth with power and glory!
I worship your feet, One with Vision,
Who has overcome all enmity and fear.
SC 6 “O great hero who has vanquished death,
Your disciple is longing for death.
He intends to take his own life:
Restrain him from this, O luminous one!
SC 7 “How, O Blessed One, can your disciple—
One delighting in the Teaching,
A trainee seeking his mind’s ideal—
Take his own life, O widely famed?”
SC 8Now on that occasion the Venerable Godhika had just used the knife. Then the Blessed One, having understood, “This is Mara the Evil One,” addressed him in verse:
SC 9 “Such indeed is how the steadfast act:
They are not attached to life.
Having drawn out craving with its root,
Godhika has attained final Nibbāna.”
SC 10Then the Blessed One addressed the bhikkhus thus: “Come, bhikkhus, let us go to the Black Rock on the Isigili Slope, where the clansman Godhika has used the knife.”
SC 11“Yes, venerable sir,” those bhikkhus replied. Then the Blessed One, together with a number of bhikkhus, went to the Black Rock on the Isigili Slope. The Blessed One saw in the distance the Venerable Godhika lying on the bed with his shoulder turned. sn.i.122
SC 12Now on that occasion a cloud of smoke, a swirl of darkness, was moving to the east, then to the west, to the north, to the south, upwards, downwards, and to the intermediate quarters. The Blessed One then addressed the bhikkhus thus: “Do you see, bhikkhus, that cloud of smoke, that swirl of darkness, moving to the east, then to the west, to the north, to the south, upwards, downwards, and to the intermediate quarters?”
“Yes, venerable sir.”
SC 13“That, bhikkhus, is Mara the Evil One searching for the consciousness of the clansman Godhika, wondering: ‘Where now has the consciousness of the clansman Godhika been established?’ However, bhikkhus, with consciousness unestablished, the clansman Godhika has attained final Nibbāna.”
SC 14Then Mara the Evil One, taking a lute of yellow vilva-wood, approached the Blessed One and addressed him in verse:
SC 15 “Above, below, and across,
In the four quarters and in between,
I have been searching but do not find
Where Godhika has gone.”
The Blessed One:
SC 16 “That steadfast man was resolute,
A meditator always rejoicing in meditation,
Applying himself day and night
Without attachment even to life.
SC 17 “Having conquered the army of Death,
Not returning to renewed existence,
Having drawn out craving with its root,
Godhika has attained final Nibbāna.”
SC 18 So much was he stricken with sorrow
That his lute dropped from his armpit.
Thereupon that disappointed spirit
Disappeared right on the spot.
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha, Veluvana, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tôn giả Godhika trú ở sườn núi Isigili, tại Kàlasilà.
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Godhika sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, chứng được nhứt thời tâm giải thoát. Rồi Tôn giả Godhika lại thối thất nhất thời tâm giải thoát ấy.
Vi-n 4 Lần thứ hai, Tôn giả Godhika sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần và chứng được nhất thời tâm giải thoát. Và lần thứ hai, Tôn giả Godhika lại thối thất nhất thời tâm giải thoát ấy.
Vi-n 5 Lần thứ ba, Tôn giả Godhika sống … tâm giải thoát ấy.
Vi-n 6 Lần thứ tư, Tôn giả Godhika sống … tâm giải thoát ấy.
Vi-n 7 Lần thứ năm, Tôn giả Godhika sống … tâm giải thoát ấy.
Vi-n 8 Lần thứ sáu, Tôn giả Godhika sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, chứng được nhất thời tâm giải thoát. Lần thứ sáu, Tôn giả Godhika cũng thối thất nhất thời tâm giải thoát ấy.
Vi-n 9 Lần thứ bảy, Tôn giả Godhika sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, chứng được nhứt thời tâm giải thoát.
Vi-n 10 Rồi Tôn giả Godhika suy nghĩ: “Cho đến lần thứ sáu, ta bị thối thất nhất thời tâm giải thoát. Vậy nay ta hãy đem lại con dao”.
Vi-n 11 Rồi Ác ma biết được tâm tư của Tôn giả Godhika, liền đi đến Thế Tôn; sau khi đến nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Ôi, bậc Ðại Anh hùng!
Ôi, bậc Ðại Trí tuệ!
Ngài chói sáng hào quang,
Thần lực và danh xưng.
Ngài vượt qua tất cả,
Mọi sân hận hãi hùng.
Con chân thành đảnh lễ,
Dưới chân bậc Pháp nhãn.
Ôi, bậc Ðại Anh hùng!
Bậc Chinh phục tử thần!
Ðệ tử Ngài muốn chết,
Ðang suy nghĩ đến chết.
Ôi, bậc Chói Hào quang!
Hãy ngăn chặn vị ấy.
Làm sao, bạch Thế Tôn,
Vị đệ tử của Ngài,
Hoan hỷ trong giáo lý,
Lại không chứng hữu học,
Còn muốn đoạt mạng sống?
Ôi, danh vọng thế gian!
Vi-n 12 Lúc bấy giờ, Tôn giả Godhika đã đem lại và sử dụng con dao.
Vi-n 13 Rồi Thế Tôn được biết: “Ðây là Ác ma”, liền nói lên bài kệ với Ác ma:
Như vậy là sở hành,
Của bậc Ðại Anh hùng,
Không còn nuôi ước vọng
Tạo thêm dòng sinh mạng,
Ðoạn tận ái, ái căn,
Godhika nhập diệt.
Vi-n 14 Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, chúng ta hãy đi đến sườn núi Isigili, Kàlasilà, tại chỗ thiện nam tử Godhika đã đem lại và sử dụng con dao.
Vi-n 15 —Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 16 Rồi Thế Tôn cùng với một số đông Tỷ-kheo đi đến sườn núi Isigili, Kàlasilà, và Thế Tôn thấy từ đằng xa, Tôn giả Godhika đang nằm trên giường, với hai vai mở rộng (bị thương hay co quắp lại).
Vi-n 17 Lúc bấy giờ một làn khói đen tối đi về phía Ðông, đi về phía Tây, đi về phía Bắc, đi về phía Nam, đi về phía Trên, đi về phía Dưới.
Vi-n 18 Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy làn khói đen tối ấy đi về phía Ðông, đi về phía Tây, đi về phía Bắc, đi về phía Nam, đi về phía Trên, đi về phía Dưới không?
—Bạch Thế Tôn, chúng con có thấy như vậy.
Vi-n 19 —Này các Tỷ-kheo, đó là Ác ma đang đi theo dõi thức của thiện nam tử Godhika: “Thức của thiện nam tử Godhika được an trú ở đâu?”. Và này các Tỷ-kheo, thiện nam tử Godhika đã nhập diệt, với thức không an trú ở đâu cả.
Vi-n 20 Rồi Ác ma tay cầm đờn thất huyền cầm màu vàng, đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên bài kệ:
Trên, dưới và bề ngang,
Bốn phương, các phương giữa,
Ta tìm, nhưng không gặp,
Godhika đi đâu.
Vi-n 21 (Thế Tôn):
Vị Anh hùng kiên chí,
Thường Thiền lạc, Thiền tư,
Ngày đêm đầy nhiệt tình,
Nhưng sự sống, không tham,
Chiến thắng quân thần chết,
Tái sanh không đi đến,
Chinh phục ái, ái căn,
Godhika nhập diệt.
Vi-n 22
Còn kẻ bị sầu muộn,
Từ nách rơi huyền cầm,
Dạ-xoa bị thất vọng,
Liền biến mất tại chỗ.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Tena kho pana samayena āyasmā godhiko isigilipasse viharati kāḷasilāyaṁ.
Atha kho āyasmā godhiko appamatto ātāpī pahitatto viharanto sāmayikaṁ cetovimuttiṁ phusi.
Atha kho āyasmā godhiko tamhā sāmayikāya cetovimuttiyā parihāyi.
Dutiyampi kho āyasmā godhiko appamatto ātāpī pahitatto viharanto sāmayikaṁ cetovimuttiṁ phusi.
Dutiyampi kho āyasmā godhiko tamhā sāmayikāya cetovimuttiyā parihāyi.
Tatiyampi kho āyasmā godhiko appamatto ātāpī pahitatto viharanto sāmayikaṁ cetovimuttiṁ phusi.
Tatiyampi kho āyasmā godhiko tamhā …pe… parihāyi.
Catutthampi kho āyasmā godhiko appamatto …pe… vimuttiṁ phusi.
Catutthampi kho āyasmā godhiko tamhā …pe… parihāyi.
Pañcamampi kho āyasmā godhiko …pe… cetovimuttiṁ phusi.
Pañcamampi kho āyasmā …pe… vimuttiyā parihāyi.
Chaṭṭhampi kho āyasmā godhiko appamatto ātāpī pahitatto viharanto sāmayikaṁ cetovimuttiṁ phusi.
Chaṭṭhampi kho āyasmā godhiko tamhā sāmayikāya cetovimuttiyā parihāyi.
Sattamampi kho āyasmā godhiko appamatto ātāpī pahitatto viharanto sāmayikaṁ cetovimuttiṁ phusi.
Atha kho āyasmato godhikassa etadahosi:
“yāva chaṭṭhaṁ khvāhaṁ sāmayikāya cetovimuttiyā parihīno.
Yannūnāhaṁ satthaṁ āhareyyan”ti.
Atha kho māro pāpimā āyasmato godhikassa cetasā cetoparivitakkamaññāya yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ gāthāhi ajjhabhāsi:
“Mahāvīra mahāpañña,
iddhiyā yasasā jala;
Sabbaverabhayātīta,
pāde vandāmi cakkhuma.
Sāvako te mahāvīra,
maraṇaṁ maraṇābhibhū;
Ākaṅkhati cetayati,
taṁ nisedha jutindhara.
Kathañhi bhagavā tuyhaṁ,
Sāvako sāsane rato;
Appattamānaso sekkho,
Kālaṁ kayirā janesutā”ti.
Tena kho pana samayena āyasmatā godhikena satthaṁ āharitaṁ hoti.
Atha kho bhagavā “māro ayaṁ pāpimā” iti viditvā māraṁ pāpimantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
“Evañhi dhīrā kubbanti,
nāvakaṅkhanti jīvitaṁ;
Samūlaṁ taṇhamabbuyha,
godhiko parinibbuto”ti.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“āyāma, bhikkhave, yena isigilipassaṁ kāḷasilā tenupasaṅkamissāma yattha godhikena kulaputtena satthaṁ āharitan”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Atha kho bhagavā sambahulehi bhikkhūhi saddhiṁ yena isigilipassaṁ kāḷasilā tenupasaṅkami.
Addasā kho bhagavā āyasmantaṁ godhikaṁ dūratova mañcake vivattakkhandhaṁ semānaṁ.
Tena kho pana samayena dhūmāyitattaṁ timirāyitattaṁ gacchateva purimaṁ disaṁ, gacchati pacchimaṁ disaṁ, gacchati uttaraṁ disaṁ, gacchati dakkhiṇaṁ disaṁ, gacchati uddhaṁ, gacchati adho, gacchati anudisaṁ.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“passatha no tumhe, bhikkhave, etaṁ dhūmāyitattaṁ timirāyitattaṁ gacchateva purimaṁ disaṁ, gacchati pacchimaṁ disaṁ, gacchati uttaraṁ disaṁ, gacchati dakkhiṇaṁ disaṁ, gacchati uddhaṁ, gacchati adho, gacchati anudisan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Eso kho, bhikkhave, māro pāpimā godhikassa kulaputtassa viññāṇaṁ samanvesati:
‘kattha godhikassa kulaputtassa viññāṇaṁ patiṭṭhitan’ti?
Appatiṭṭhitena ca, bhikkhave, viññāṇena godhiko kulaputto parinibbuto”ti.
Atha kho māro pāpimā beluvapaṇḍuvīṇaṁ ādāya yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
“Uddhaṁ adho ca tiriyaṁ,
disā anudisā svahaṁ;
Anvesaṁ nādhigacchāmi,
godhiko so kuhiṁ gato”ti.
“Yo dhīro dhitisampanno,
jhāyī jhānarato sadā;
Ahorattaṁ anuyuñjaṁ,
jīvitaṁ anikāmayaṁ.
Jetvāna maccuno senaṁ,
anāgantvā punabbhavaṁ;
Samūlaṁ taṇhamabbuyha,
godhiko parinibbuto”ti.
Tassa sokaparetassa,
vīṇā kacchā abhassatha;
Tato so dummano yakkho,
tatthevantaradhāyathāti.