Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
Vi-n 2 Rồi thôn trưởng Canda bạch Thế Tôn:
—Do nhân gì, bạch Thế Tôn, do duyên gì ở đây, có người được gọi tên là tàn bạo? Do nhân gì, do duyên gì ở đây, có người được gọi là hiền lành (sùrato)?
Vi-n 4 —Ở đây, này Thôn trưởng, có người tham dục (ràyo) chưa được đoạn tận. Do tham dục (ràga) chưa được đoạn tận, người ấy bị người khác làm cho phẫn nộ. Do bị người khác làm phẫn nộ nên phẫn nộ hiện hành. Người ấy do vậy được gọi là tàn bạo. Sân chưa được đoạn tận. Do sân chưa được đoạn tận, người ấy bị người khác làm cho phẫn nộ. Do bị người khác làm cho phẫn nộ nên phẫn nộ hiện hành. Người ấy do vậy được gọi là tàn bạo. Si chưa được đoạn tận. Do si chưa được đoạn tận, người ấy bị người khác làm cho phẫn nộ. Do bị người khác làm cho phẫn nộ nên phẫn nộ hiện hành. Người ấy do vậy được gọi là tàn bạo.
Này Thôn trưởng, đây là nhân, đây là duyên, ở đây, có người được gọi tên là tàn bạo.
Vi-n 5 Nhưng ở đây, này Thôn trưởng, có người tham dục được đoạn tận. Do tham dục được đoạn tận nên người ấy không bị người khác làm cho phẫn nộ. Do không bị người khác làm cho phẫn nộ nên phẫn nộ không hiện hành. Người ấy do vậy được gọi là hiền lành. Sân được đoạn tận. Do sân đã được đoạn tận nên người ấy không bị người khác làm cho phẫn nộ. Do không bị người khác làm cho phẫn nộ nên phẫn nộ không hiện hành. Người ấy do vậy được gọi là hiền lành. Si đã được đoạn tận. Do si đã đoạn tận nên người ấy không bị người khác làm cho phẫn nộ. Do không bị người khác làm cho phẫn nộ nên phẫn nộ không hiện hành. Người ấy do vậy được gọi là hiền lành.
Này Thôn trưởng, đây là nhân, đây là duyên, ở đây, có người được gọi tên là hiền lành.
Vi-n 6 Ðược nghe nói vậy, thôn trưởng Canda bạch Thế Tôn:
—Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con nay xin quy y Phật, Pháp và chúng Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho caṇḍo gāmaṇi yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho caṇḍo gāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca:
“ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo yena midhekacco caṇḍo caṇḍotveva saṅkhaṁ gacchati.
Ko pana, bhante, hetu, ko paccayo yena midhekacco sorato soratotveva saṅkhaṁ gacchatī”ti?
“Idha, gāmaṇi, ekaccassa rāgo appahīno hoti.
Rāgassa appahīnattā pare kopenti, parehi kopiyamāno kopaṁ pātukaroti.
So caṇḍotveva saṅkhaṁ gacchati.
Doso appahīno hoti.
Dosassa appahīnattā pare kopenti, parehi kopiyamāno kopaṁ pātukaroti.
So caṇḍotveva saṅkhaṁ gacchati.
Moho appahīno hoti.
Mohassa appahīnattā pare kopenti, parehi kopiyamāno kopaṁ pātukaroti.
So caṇḍotveva saṅkhaṁ gacchati.
Ayaṁ kho, gāmaṇi, hetu, ayaṁ paccayo yena midhekacco caṇḍo caṇḍotveva saṅkhaṁ gacchati.
Idha pana, gāmaṇi, ekaccassa rāgo pahīno hoti.
Rāgassa pahīnattā pare na kopenti, parehi kopiyamāno kopaṁ na pātukaroti.
So soratotveva saṅkhaṁ gacchati.
Doso pahīno hoti.
Dosassa pahīnattā pare na kopenti, parehi kopiyamāno kopaṁ na pātukaroti.
So soratotveva saṅkhaṁ gacchati.
Moho pahīno hoti.
Mohassa pahīnattā pare na kopenti, parehi kopiyamāno kopaṁ na pātukaroti.
So soratotveva saṅkhaṁ gacchati.
Ayaṁ kho, gāmaṇi, hetu ayaṁ paccayo yena midhekacco sorato soratotveva saṅkhaṁ gacchatī”ti.
Evaṁ vutte, caṇḍo gāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante.
Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito.
Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Paṭhamaṁ.
At Sāvatthī.
Then Fury the chief went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“What is the cause, sir, what is the reason why some people are regarded as furious,
while others are regarded as gentle?”
“Take someone who hasn’t given up greed.
So they get annoyed by others, and they show it.
They’re regarded as furious.
They haven’t given up hate.
So they get annoyed by others, and they show it.
They’re regarded as furious.
They haven’t given up delusion.
So they get annoyed by others, and they show it.
They’re regarded as furious.
This is the cause, this is the reason why some people are regarded as furious.
But take someone who has given up greed.
So they don’t get annoyed by others, and don’t show it.
They’re regarded as gentle.
They’ve given up hate.
So they don’t get annoyed by others, and don’t show it.
They’re regarded as gentle.
They’ve given up delusion.
So they don’t get annoyed by others, and don’t show it.
They’re regarded as gentle.
This is the cause, this is the reason why some people are regarded as gentle.”
When he said this, Fury the chief said to the Buddha,
“Excellent, sir! Excellent!
As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, the Buddha has made the teaching clear in many ways.
I go for refuge to the Buddha, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha.
From this day forth, may the Buddha remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
Vi-n 2 Rồi thôn trưởng Canda bạch Thế Tôn:
—Do nhân gì, bạch Thế Tôn, do duyên gì ở đây, có người được gọi tên là tàn bạo? Do nhân gì, do duyên gì ở đây, có người được gọi là hiền lành (sùrato)?
Vi-n 4 —Ở đây, này Thôn trưởng, có người tham dục (ràyo) chưa được đoạn tận. Do tham dục (ràga) chưa được đoạn tận, người ấy bị người khác làm cho phẫn nộ. Do bị người khác làm phẫn nộ nên phẫn nộ hiện hành. Người ấy do vậy được gọi là tàn bạo. Sân chưa được đoạn tận. Do sân chưa được đoạn tận, người ấy bị người khác làm cho phẫn nộ. Do bị người khác làm cho phẫn nộ nên phẫn nộ hiện hành. Người ấy do vậy được gọi là tàn bạo. Si chưa được đoạn tận. Do si chưa được đoạn tận, người ấy bị người khác làm cho phẫn nộ. Do bị người khác làm cho phẫn nộ nên phẫn nộ hiện hành. Người ấy do vậy được gọi là tàn bạo.
Này Thôn trưởng, đây là nhân, đây là duyên, ở đây, có người được gọi tên là tàn bạo.
Vi-n 5 Nhưng ở đây, này Thôn trưởng, có người tham dục được đoạn tận. Do tham dục được đoạn tận nên người ấy không bị người khác làm cho phẫn nộ. Do không bị người khác làm cho phẫn nộ nên phẫn nộ không hiện hành. Người ấy do vậy được gọi là hiền lành. Sân được đoạn tận. Do sân đã được đoạn tận nên người ấy không bị người khác làm cho phẫn nộ. Do không bị người khác làm cho phẫn nộ nên phẫn nộ không hiện hành. Người ấy do vậy được gọi là hiền lành. Si đã được đoạn tận. Do si đã đoạn tận nên người ấy không bị người khác làm cho phẫn nộ. Do không bị người khác làm cho phẫn nộ nên phẫn nộ không hiện hành. Người ấy do vậy được gọi là hiền lành.
Này Thôn trưởng, đây là nhân, đây là duyên, ở đây, có người được gọi tên là hiền lành.
Vi-n 6 Ðược nghe nói vậy, thôn trưởng Canda bạch Thế Tôn:
—Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con nay xin quy y Phật, Pháp và chúng Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho caṇḍo gāmaṇi yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho caṇḍo gāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca:
“ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo yena midhekacco caṇḍo caṇḍotveva saṅkhaṁ gacchati.
Ko pana, bhante, hetu, ko paccayo yena midhekacco sorato soratotveva saṅkhaṁ gacchatī”ti?
“Idha, gāmaṇi, ekaccassa rāgo appahīno hoti.
Rāgassa appahīnattā pare kopenti, parehi kopiyamāno kopaṁ pātukaroti.
So caṇḍotveva saṅkhaṁ gacchati.
Doso appahīno hoti.
Dosassa appahīnattā pare kopenti, parehi kopiyamāno kopaṁ pātukaroti.
So caṇḍotveva saṅkhaṁ gacchati.
Moho appahīno hoti.
Mohassa appahīnattā pare kopenti, parehi kopiyamāno kopaṁ pātukaroti.
So caṇḍotveva saṅkhaṁ gacchati.
Ayaṁ kho, gāmaṇi, hetu, ayaṁ paccayo yena midhekacco caṇḍo caṇḍotveva saṅkhaṁ gacchati.
Idha pana, gāmaṇi, ekaccassa rāgo pahīno hoti.
Rāgassa pahīnattā pare na kopenti, parehi kopiyamāno kopaṁ na pātukaroti.
So soratotveva saṅkhaṁ gacchati.
Doso pahīno hoti.
Dosassa pahīnattā pare na kopenti, parehi kopiyamāno kopaṁ na pātukaroti.
So soratotveva saṅkhaṁ gacchati.
Moho pahīno hoti.
Mohassa pahīnattā pare na kopenti, parehi kopiyamāno kopaṁ na pātukaroti.
So soratotveva saṅkhaṁ gacchati.
Ayaṁ kho, gāmaṇi, hetu ayaṁ paccayo yena midhekacco sorato soratotveva saṅkhaṁ gacchatī”ti.
Evaṁ vutte, caṇḍo gāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante.
Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito.
Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Paṭhamaṁ.