Vi-n 1 … Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), tại núi Gijjhakuuta (Linh Thứu).
Vi-n 2 Tại đấy Thế Tôn …
Vi-n 3 —Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo …
Vi-n 4 Các xương của một người, này các Tỷ-kheo, lưu chuyển luân hồi có thể lớn như một đồi xương, một chồng xương, một đống xương, như núi Vepulla này, nếu có người thâu lượm xương lại, gìn giữ chúng, không làm chúng hủy hoại.
Vi-n 5 Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo … là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.
Vi-n 6 Thế Tôn nói vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Chồng chất như xương người,
Chỉ sống có một kiếp,
Chất đống bằng hòn núi,
Bậc Ðạo Sư nói vậy.
Ðống xương ấy được nói,
Lớn như Vepulla,
Phía Bắc núi Linh Thứu,
Núi thành Magadha.
Người thấy bốn sự thật,
Với chân chánh trí tuệ,
Khổ và khổ tập khởi,
Sẽ vượt qua đau khổ,
Con đường Thánh tám ngành,
Dẫn đến khổ tịnh chỉ.
Người ấy phải luân chuyển,
Tối đa là bảy lần.
Là vị đoạn tận khổ,
Ðoạn diệt mọi kiết sử.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Anamataggoyaṁ, bhikkhave, saṁsāro …pe…
ekapuggalassa, bhikkhave, kappaṁ sandhāvato saṁsarato siyā evaṁ mahā aṭṭhikaṅkalo aṭṭhipuñjo aṭṭhirāsi yathāyaṁ vepullo pabbato, sace saṁhārako assa, sambhatañca na vinasseyya.
Taṁ kissa hetu?
Anamataggoyaṁ, bhikkhave, saṁsāro …pe…
alaṁ vimuccitun”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Ekassekena kappena,
puggalassaṭṭhisañcayo;
Siyā pabbatasamo rāsi,
iti vuttaṁ mahesinā.
So kho panāyaṁ akkhāto,
vepullo pabbato mahā;
Uttaro gijjhakūṭassa,
magadhānaṁ giribbaje.
Yato ca ariyasaccāni,
sammappaññāya passati;
Dukkhaṁ dukkhasamuppādaṁ,
dukkhassa ca atikkamaṁ;
Ariyaṁ caṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ,
dukkhūpasamagāminaṁ.
Sa sattakkhattuṁparamaṁ,
sandhāvitvāna puggalo;
Dukkhassantakaro hoti,
sabbasaṁyojanakkhayā”ti.
Dasamaṁ.
Paṭhamo vaggo.
Tassuddānaṁ
Tiṇakaṭṭhañca pathavī,
assu khīrañca pabbataṁ;
Sāsapā sāvakā gaṅgā,
daṇḍo ca puggalena cāti.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, on the Vulture’s Peak Mountain.
There the Buddha addressed the mendicants,
“Mendicants!”
“Venerable sir,” they replied.
The Buddha said this:
“Mendicants, this transmigration has no known beginning. …
One individual roaming and transmigrating for an eon would amass a heap of bones the size of this Mount Vepulla, if they were gathered together and not lost.
Why is that?
This transmigration has no known beginning. …
This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions.”
That is what the Buddha said.
Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
“If the bones of a single individual
for a single eon were gathered up,
they’d make a pile the size of a mountain:
so said the great seer.
And this is declared to be
as huge as Mount Vepulla,
higher than the Vulture’s Peak
in the Magadhan mountain range.
But then, with right understanding,
one sees the noble truths—
suffering, suffering’s origin,
suffering’s transcendence,
and the noble eightfold path
that leads to the stilling of suffering.
After roaming on seven times at most,
that individual
makes an end of suffering,
with the ending of all fetters.”
Vi-n 1 … Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), tại núi Gijjhakuuta (Linh Thứu).
Vi-n 2 Tại đấy Thế Tôn …
Vi-n 3 —Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo …
Vi-n 4 Các xương của một người, này các Tỷ-kheo, lưu chuyển luân hồi có thể lớn như một đồi xương, một chồng xương, một đống xương, như núi Vepulla này, nếu có người thâu lượm xương lại, gìn giữ chúng, không làm chúng hủy hoại.
Vi-n 5 Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo … là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.
Vi-n 6 Thế Tôn nói vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Chồng chất như xương người,
Chỉ sống có một kiếp,
Chất đống bằng hòn núi,
Bậc Ðạo Sư nói vậy.
Ðống xương ấy được nói,
Lớn như Vepulla,
Phía Bắc núi Linh Thứu,
Núi thành Magadha.
Người thấy bốn sự thật,
Với chân chánh trí tuệ,
Khổ và khổ tập khởi,
Sẽ vượt qua đau khổ,
Con đường Thánh tám ngành,
Dẫn đến khổ tịnh chỉ.
Người ấy phải luân chuyển,
Tối đa là bảy lần.
Là vị đoạn tận khổ,
Ðoạn diệt mọi kiết sử.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Anamataggoyaṁ, bhikkhave, saṁsāro …pe…
ekapuggalassa, bhikkhave, kappaṁ sandhāvato saṁsarato siyā evaṁ mahā aṭṭhikaṅkalo aṭṭhipuñjo aṭṭhirāsi yathāyaṁ vepullo pabbato, sace saṁhārako assa, sambhatañca na vinasseyya.
Taṁ kissa hetu?
Anamataggoyaṁ, bhikkhave, saṁsāro …pe…
alaṁ vimuccitun”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Ekassekena kappena,
puggalassaṭṭhisañcayo;
Siyā pabbatasamo rāsi,
iti vuttaṁ mahesinā.
So kho panāyaṁ akkhāto,
vepullo pabbato mahā;
Uttaro gijjhakūṭassa,
magadhānaṁ giribbaje.
Yato ca ariyasaccāni,
sammappaññāya passati;
Dukkhaṁ dukkhasamuppādaṁ,
dukkhassa ca atikkamaṁ;
Ariyaṁ caṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ,
dukkhūpasamagāminaṁ.
Sa sattakkhattuṁparamaṁ,
sandhāvitvāna puggalo;
Dukkhassantakaro hoti,
sabbasaṁyojanakkhayā”ti.
Dasamaṁ.
Paṭhamo vaggo.
Tassuddānaṁ
Tiṇakaṭṭhañca pathavī,
assu khīrañca pabbataṁ;
Sāsapā sāvakā gaṅgā,
daṇḍo ca puggalena cāti.