S.iv,207Vi-n 1-2. …
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, có ba cảm thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Lạc thọ, này các Tỷ-kheo, cần phải thấy là khổ. Khổ thọ cần phải thấy là mũi tên. Bất khổ bất lạc thọ cần phải thấy là vô thường.
Vi-n 4 Khi nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấy được lạc thọ là khổ, thấy được khổ thọ là mũi tên, thấy được bất khổ bất lạc thọ là vô thường; thời này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo có chánh kiến, ái được đoạn tận, kiết sử được hủy hoại. Với minh kiến chơn chánh đối với ngã mạn, vị ấy đoạn tận khổ đau.
Vi-n 1 Ai thấy lạc là khổ,
Thấy khổ là mũi tên,
Với bất khổ bất lạc,
Thấy thọ là vô thường,
Tỷ-kheo ấy chánh kiến,
Liễu tri các cảm thọ.
Vi-n 2 Vị ấy liễu tri thọ,
Hiện tại không lậu hoặc,
Mạng chung, bậc Pháp trú,
Ðại trí vượt ước lường.
“Tisso imā, bhikkhave, vedanā.
Katamā tisso?
Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā.
Sukhā, bhikkhave, vedanā dukkhato daṭṭhabbā, dukkhā vedanā sallato daṭṭhabbā, adukkhamasukhā vedanā aniccato daṭṭhabbā.
Yato kho, bhikkhave, bhikkhuno sukhā vedanā dukkhato diṭṭhā hoti, dukkhā vedanā sallato diṭṭhā hoti, adukkhamasukhā vedanā aniccato diṭṭhā hoti—
ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu sammaddaso acchecchi taṇhaṁ, vivattayi saṁyojanaṁ, sammā mānābhisamayā antamakāsi dukkhassā’ti.
Yo sukhaṁ dukkhato adda,
dukkhamaddakkhi sallato;
Adukkhamasukhaṁ santaṁ,
addakkhi naṁ aniccato.
Sa ve sammaddaso bhikkhu,
parijānāti vedanā;
So vedanā pariññāya,
diṭṭhe dhamme anāsavo;
Kāyassa bhedā dhammaṭṭho,
saṅkhyaṁ nopeti vedagū”ti.
Pañcamaṁ.
SC 1“Bhikkhus, there are these three feelings. What three? Pleasant feeling, painful feeling, neither-painful-nor-pleasant feeling. Pleasant feeling, bhikkhus, should be seen as painful; painful feeling should be seen as a dart; neither-painful-nor-pleasant feeling should be seen as impermanent.
SC 2“When, bhikkhus, a bhikkhu has seen pleasant feeling as painful, painful feeling as a dart, and neither-painful-nor-pleasant feeling as impermanent, he is called a bhikkhu who sees rightly. He has cut off craving, severed the fetters, and by completely breaking through conceit, he has made an end to suffering.”
SC 3One who has seen the pleasant as painful
And the painful as a dart,
Seen as impermanent the peaceful feeling
Neither painful nor pleasant:
He is a bhikkhu who sees rightly,
One who fully understands feelings.
SC 4Having fully understood feelings,
He is taintless in this very life.
Standing in Dhamma, with the body’s breakup
The knowledge-master cannot be reckoned.
S.iv,207Vi-n 1-2. …
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, có ba cảm thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Lạc thọ, này các Tỷ-kheo, cần phải thấy là khổ. Khổ thọ cần phải thấy là mũi tên. Bất khổ bất lạc thọ cần phải thấy là vô thường.
Vi-n 4 Khi nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấy được lạc thọ là khổ, thấy được khổ thọ là mũi tên, thấy được bất khổ bất lạc thọ là vô thường; thời này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo có chánh kiến, ái được đoạn tận, kiết sử được hủy hoại. Với minh kiến chơn chánh đối với ngã mạn, vị ấy đoạn tận khổ đau.
Vi-n 1 Ai thấy lạc là khổ,
Thấy khổ là mũi tên,
Với bất khổ bất lạc,
Thấy thọ là vô thường,
Tỷ-kheo ấy chánh kiến,
Liễu tri các cảm thọ.
Vi-n 2 Vị ấy liễu tri thọ,
Hiện tại không lậu hoặc,
Mạng chung, bậc Pháp trú,
Ðại trí vượt ước lường.
“Tisso imā, bhikkhave, vedanā.
Katamā tisso?
Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā.
Sukhā, bhikkhave, vedanā dukkhato daṭṭhabbā, dukkhā vedanā sallato daṭṭhabbā, adukkhamasukhā vedanā aniccato daṭṭhabbā.
Yato kho, bhikkhave, bhikkhuno sukhā vedanā dukkhato diṭṭhā hoti, dukkhā vedanā sallato diṭṭhā hoti, adukkhamasukhā vedanā aniccato diṭṭhā hoti—
ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu sammaddaso acchecchi taṇhaṁ, vivattayi saṁyojanaṁ, sammā mānābhisamayā antamakāsi dukkhassā’ti.
Yo sukhaṁ dukkhato adda,
dukkhamaddakkhi sallato;
Adukkhamasukhaṁ santaṁ,
addakkhi naṁ aniccato.
Sa ve sammaddaso bhikkhu,
parijānāti vedanā;
So vedanā pariññāya,
diṭṭhe dhamme anāsavo;
Kāyassa bhedā dhammaṭṭho,
saṅkhyaṁ nopeti vedagū”ti.
Pañcamaṁ.