Vi-n 1 Tại Sāvatthī.
Vi-n 2 —Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: “Thật sự thế giới này bị hãm trong khổ não, bị sanh, bị già, bị chết, bị đoạn diệt, và bị tái sanh; và từ nơi đau khổ này, không biết xuất ly khỏi già và chết; từ nơi đau khổ này, không biết khi nào được biết đến xuất ly khỏi già và chết”.
Vi-n 3 Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “ Do cái gì có mặt, già chết hiện hữu? Do cái gì, già chết sanh khởi?”
Vi-n 4 Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do sanh có mặt nên già chết hiện hữu. Do duyên sanh, nên già chết sanh khởi”.
Vi-n 5 Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, hữu hiện hữu? Thủ hiện hữu? Ái hiện hữu? Thọ hiện hữu? Xúc hiện hữu? Sáu xứ hiện hữu? Danh sắc hiện hữu? Do duyên cái gì, danh sắc sanh khởi?”
Vi-n 6 Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do thức có mặt nên danh sắc hiện hữu. Do duyên thức nên danh sắc sanh khởi”.
Vi-n 7 Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, thức hiện hữu. Do duyên cái gì, thức sanh khởi?”
Vi-n 8 Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do danh sắc có mặt nên thức hiện hữu. Do duyên danh sắc nên thức sanh khởi”.
Vi-n 9 Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: “Thức này trở lui, không đi xa hơn danh sắc. Xa đến như vậy, chúng ta bị sanh, bị già, bị chết, bị đoạn diệt, bị tái sanh, nghĩa là do duyên danh sắc, thức sanh khởi. Do duyên thức, danh sắc sanh khởi. Do duyên danh sắc, sáu xứ sanh khởi. Do duyên sáu xứ, xúc sanh khởi…”. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
Vi-n 10 “Tập khởi, tập khởi”. Này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nhãn khởi lên, trí khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên.
Vi-n 11 Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì không có mặt, già chết không hiện hữu? Do cái gì diệt, già chết diệt?”
Vi-n 12 Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do sanh không có mặt, nên già chết không hiện hữu. Do sanh diệt, nên già chết diệt”.
Vi-n 13 Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “ Do cái gì không có mặt, sanh không hiện hữu? Hữu không hiện hữu? Thủ không hiện hữu? Ái không hiện hữu? Thọ không hiện hữu? Xúc không hiện hữu? Sáu xứ không hiện hữu? Danh sắc không hiện hữu? Do cái gì diệt, danh sắc diệt?”
Vi-n 14 Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do thức không có mặt, danh sắc không hiện hữu. Do thức diệt nên danh sắc diệt”.
Vi-n 15 Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì không có mặt, thức không hiện hữu? Do cái gì diệt, nên thức diệt?”
Vi-n 16 Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do danh sắc không có mặt, thức không hiện hữu. Do danh sắc diệt nên thức diệt”.
Vi-n 17 Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Ta đã chứng đắc con đường này đưa đến giác ngộ, tức là do danh sắc diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt”.
Vi-n 18 “Ðoạn diệt, đoạn diệt”. Này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh.
Vi-n 19 Ví như, này các Tỷ-kheo, một người khi đi qua một khu rừng, một chặng núi, thấy được một con đường cũ, một đạo lộ cũ do những người xưa đã từng đi qua. Người ấy đi theo con đường ấy, trong khi đi theo con đường ấy, người ấy thấy được một cổ thành, một cố đô do người xưa ở, với đầy đủ vườn tược, đầy đủ rừng cây, đầy đủ hồ ao với thành lũy đẹp đẽ.
Vi-n 20 Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy báo cáo với vua hay vị đại thần: “Chư tôn hãy biết, trong khi đi ngang một khu rừng, một chặng núi, tôi thấy được một con đường cũ, một đạo lộ cũ do những người xưa đã từng đi qua. Tôi đã đi theo con đường ấy và thấy được một cổ thành, một cố đô do người xưa ở, với đầy đủ vườn tược, đầy đủ rừng cây, đầy đủ hồ ao, với thành lũy đẹp đẽ. Thưa các Tôn giả, hãy xây dựng lại ngôi thành ấy”.
Vi-n 21 Rồi này các Tỷ-kheo, vị vua hay vị đại thần cho xây dựng lại ngôi thành ấy. Và ngôi thành ấy, sau một thời gian lớn lên và trở thành một thành phố phồn vinh, thịnh vượng, đông đúc, tràn đầy người ở.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy một con đường cũ, một đạo lộ cũ do các vị Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua.
Vi-n 22 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường cũ, đạo lộ cũ ấy do các vị Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua? Ðây chính là con đường Thánh đạo tám ngành, tức là chánh tri kiến… chánh định. Con đường ấy, này các Tỷ-kheo, là con đường cũ, đạo lộ cũ do các bậc Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua. Ta đã đi theo con đường ấy. Ði theo con đường ấy, Ta thấy rõ già chết; Ta thấy rõ già, chết tập khởi; Ta thấy rõ già chết đoạn diệt; Ta thấy rõ con đường đưa đến già chết đoạn diệt.
Vi-n 23-31 Ta đã đi theo con đường ấy. Ði theo con đường ấy; Ta thấy rõ sanh… Ta thấy rõ hữu… Ta thấy rõ thủ… Ta thấy rõ ái… Ta thấy rõ thọ… Ta thấy rõ xúc… Ta thấy rõ sáu xứ… Ta thấy rõ danh sắc… Ta thấy rõ thức…
Vi-n 32 Ta đi theo con đường ấy. Ði theo con đường ấy, Ta thấy rõ các hành; Ta thấy rõ các hành tập khởi; Ta thấy rõ các hành đoạn diệt, Ta thấy rõ con đường đưa đến các hành đoạn diệt.
Vi-n 33 Cái được Ta biết rõ, Ta đã tuyên bố cho các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ được biết. Này các Tỷ-kheo, tức là Phạm hạnh này, phồn vinh, thịnh vượng, quảng đại, chúng đa, người nhiều và được chư Thiên, loài Người khéo léo trình bày.
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Pubbe me, bhikkhave, sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattasseva sato etadahosi:
‘kicchā vatāyaṁ loko āpanno jāyati ca jīyati ca mīyati ca cavati ca upapajjati ca.
Atha ca panimassa dukkhassa nissaraṇaṁ nappajānāti jarāmaraṇassa.
Kudāssu nāma imassa dukkhassa nissaraṇaṁ paññāyissati jarāmaraṇassā’ti?
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi:
‘kimhi nu kho sati jarāmaraṇaṁ hoti, kiṁpaccayā jarāmaraṇan’ti?
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo:
‘jātiyā kho sati jarāmaraṇaṁ hoti, jātipaccayā jarāmaraṇan’ti.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi:
‘kimhi nu kho sati jāti hoti …pe…
bhavo hoti …
upādānaṁ hoti …
taṇhā hoti …
vedanā hoti …
phasso hoti …
saḷāyatanaṁ hoti …
nāmarūpaṁ hoti …
kiṁpaccayā nāmarūpan’ti?
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo:
‘viññāṇe kho sati nāmarūpaṁ hoti, viññāṇapaccayā nāmarūpan’ti.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi:
‘kimhi nu kho sati viññāṇaṁ hoti, kiṁpaccayā viññāṇan’ti?
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo:
‘nāmarūpe kho sati viññāṇaṁ hoti, nāmarūpapaccayā viññāṇan’ti.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi—
paccudāvattati kho idaṁ viññāṇaṁ nāmarūpamhā na paraṁ gacchati.
Ettāvatā jāyetha vā jīyetha vā mīyetha vā cavetha vā upapajjetha vā, yadidaṁ nāmarūpapaccayā viññāṇaṁ;
viññāṇapaccayā nāmarūpaṁ;
nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṁ;
saḷāyatanapaccayā phasso …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
‘Samudayo, samudayo’ti kho me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṁ udapādi ñāṇaṁ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi:
‘kimhi nu kho asati, jarāmaraṇaṁ na hoti;
kissa nirodhā jarāmaraṇanirodho’ti?
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo:
‘jātiyā kho asati, jarāmaraṇaṁ na hoti;
jātinirodhā jarāmaraṇanirodho’ti.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi:
‘kimhi nu kho asati jāti na hoti …pe…
bhavo na hoti …
upādānaṁ na hoti …
taṇhā na hoti …
vedanā na hoti …
phasso na hoti …
saḷāyatanaṁ na hoti …
nāmarūpaṁ na hoti.
Kissa nirodhā nāmarūpanirodho’ti?
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo:
‘viññāṇe kho asati, nāmarūpaṁ na hoti;
viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho’ti.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi:
‘kimhi nu kho asati viññāṇaṁ na hoti;
kissa nirodhā viññāṇanirodho’ti?
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo:
‘nāmarūpe kho asati, viññāṇaṁ na hoti;
nāmarūpanirodhā viññāṇanirodho’ti.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi—
adhigato kho myāyaṁ maggo bodhāya yadidaṁ—
nāmarūpanirodhā viññāṇanirodho;
viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho;
nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodho;
saḷāyatananirodhā phassanirodho …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti.
‘Nirodho, nirodho’ti kho me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṁ udapādi ñāṇaṁ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso araññe pavane caramāno passeyya purāṇaṁ maggaṁ purāṇañjasaṁ pubbakehi manussehi anuyātaṁ.
So tamanugaccheyya.
Tamanugacchanto passeyya purāṇaṁ nagaraṁ purāṇaṁ rājadhāniṁ pubbakehi manussehi ajjhāvuṭṭhaṁ ārāmasampannaṁ vanasampannaṁ pokkharaṇīsampannaṁ uddhāpavantaṁ ramaṇīyaṁ.
Atha kho so, bhikkhave, puriso rañño vā rājamahāmattassa vā āroceyya:
‘yagghe, bhante, jāneyyāsi—ahaṁ addasaṁ araññe pavane caramāno purāṇaṁ maggaṁ purāṇañjasaṁ pubbakehi manussehi anuyātaṁ tamanugacchiṁ.
Tamanugacchanto addasaṁ purāṇaṁ nagaraṁ purāṇaṁ rājadhāniṁ pubbakehi manussehi ajjhāvuṭṭhaṁ ārāmasampannaṁ vanasampannaṁ pokkharaṇīsampannaṁ uddhāpavantaṁ ramaṇīyaṁ.
Taṁ, bhante, nagaraṁ māpehī’ti.
Atha kho so, bhikkhave, rājā vā rājamahāmatto vā taṁ nagaraṁ māpeyya.
Tadassa nagaraṁ aparena samayena iddhañceva phītañca bāhujaññaṁ ākiṇṇamanussaṁ vuddhivepullappattaṁ.
Evameva khvāhaṁ, bhikkhave, addasaṁ purāṇaṁ maggaṁ purāṇañjasaṁ pubbakehi sammāsambuddhehi anuyātaṁ.
Katamo ca so, bhikkhave, purāṇamaggo purāṇañjaso pubbakehi sammāsambuddhehi anuyāto?
Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṁ—
sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
Ayaṁ kho so, bhikkhave, purāṇamaggo purāṇañjaso pubbakehi sammāsambuddhehi anuyāto, tamanugacchiṁ;
tamanugacchanto jarāmaraṇaṁ abbhaññāsiṁ;
jarāmaraṇasamudayaṁ abbhaññāsiṁ;
jarāmaraṇanirodhaṁ abbhaññāsiṁ;
jarāmaraṇanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ abbhaññāsiṁ.
Tamanugacchiṁ;
tamanugacchanto jātiṁ abbhaññāsiṁ …pe…
bhavaṁ abbhaññāsiṁ …
upādānaṁ abbhaññāsiṁ …
taṇhaṁ abbhaññāsiṁ …
vedanaṁ abbhaññāsiṁ …
phassaṁ abbhaññāsiṁ …
saḷāyatanaṁ abbhaññāsiṁ …
nāmarūpaṁ abbhaññāsiṁ …
viññāṇaṁ abbhaññāsiṁ.
Tamanugacchiṁ;
tamanugacchanto saṅkhāre abbhaññāsiṁ;
saṅkhārasamudayaṁ abbhaññāsiṁ;
saṅkhāranirodhaṁ abbhaññāsiṁ;
saṅkhāranirodhagāminiṁ paṭipadaṁ abbhaññāsiṁ.
Tadabhiññāya ācikkhiṁ bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānaṁ.
Tayidaṁ, bhikkhave, brahmacariyaṁ iddhañceva phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ yāva devamanussehi suppakāsitan”ti.
Pañcamaṁ.
SC 1At Savatthī. “Bhikkhus, before my enlightenment, while I was still a bodhisatta, not yet fully enlightened, it occurred to me: ‘Alas, this world has fallen into trouble, in that it is born, ages, and dies, it passes away and is reborn, yet it does not understand the escape from this suffering headed by aging-and-death. When now will an escape be discerned from this suffering headed by aging-and-death?’
SC 2“Then, bhikkhus, it occurred to me: ‘When what exists does aging-and-death come to be? By what is aging-and-death conditioned? ’ Then, bhikkhus, through careful attention, there took place in me a breakthrough by wisdom: ‘When there is birth, aging-and-death comes to be; aging-and-death has birth as its condition.’
SC 3“Then, bhikkhus, it occurred to me: ‘When what exists does birth come to be?… existence?… clinging?… craving?… feeling?… contact?… the six sense bases?… name-and-form? By what is name-and-form conditioned?’ Then, bhikkhus, through careful attention, there took place in me a breakthrough by wisdom: ‘When there is consciousness, name-and-form comes to be; name-and-form has consciousness as its condition.’
SC 4“Then, bhikkhus, it occurred to me: ‘When what exists does consciousness come to be? By what is consciousness conditioned? ’ Then, bhikkhus, through careful attention, there took place in me a breakthrough by wisdom: ‘When there is name-and-form, consciousness comes to be; consciousness has name-and-form as its condition.’
SC 5“Then, bhikkhus, it occurred to me: ‘This consciousness turns back; it does not go further than name-and-form. It is to this extent that one may be born and age and die, pass away and be reborn, that is, when there is consciousness with name-and-form as its condition, and name-and-form with consciousness as its condition. With name-and-form as condition, the six sense bases; with the six sense bases as condition, contact…. sn.ii.105 Such is the origin of this whole mass of suffering.’
SC 6“‘Origination, origination’—thus, bhikkhus, in regard to things unheard before there arose in me vision, knowledge, wisdom, true knowledge, and light.
SC 7“Then, bhikkhus, it occurred to me: ‘When what does not exist does aging-and-death not come to be? With the cessation of what does the cessation of aging-and-death come about?’ Then, bhikkhus, through careful attention, there took place in me a breakthrough by wisdom: ‘When there is no birth, aging-and-death does not come to be; with the cessation of birth comes cessation of aging-and-death.’
SC 8“It occurred to me: ‘When what does not exist does birth not come to be?… existence?… clinging?… craving?… feeling?… contact?… the six sense bases?… name-and-form? With the cessation of what does the cessation of name-and-form come about?’ Then, bhikkhus, through careful attention, there took place in me a breakthrough by wisdom: ‘When there is no consciousness, name-and-form does not come to be; with the cessation of consciousness comes cessation of name-and-form.’
SC 9“It occurred to me: ‘When what does not exist does consciousness not come to be? With the cessation of what does the cessation of consciousness come about?’ Then, bhikkhus, through careful attention, there took place in me a breakthrough by wisdom: ‘When there is no name-and-form, consciousness does not come to be; with the cessation of name-and-form comes cessation of consciousness.’
SC 10“Then, bhikkhus, it occurred to me: ‘I have discovered this path to enlightenment, that is, with the cessation of name-and-form comes cessation of consciousness; with the cessation of consciousness comes cessation of name-and-form; with the cessation of name-and-form, cessation of the six sense bases; with the cessation of the six sense bases, cessation of contact…. Such is the cessation of this whole mass of suffering.’
SC 11“‘Cessation, cessation’—thus, bhikkhus, in regard to things unheard before there arose in me vision, knowledge, wisdom, true knowledge, and light.
SC 12“Suppose, bhikkhus, a man wandering through a forest would see an ancient path, an ancient road travelled upon by people in the past. He would follow it and would see an ancient city, an ancient capital sn.ii.106 that had been inhabited by people in the past, with parks, groves, ponds, and ramparts, a delightful place. Then the man would inform the king or a royal minister: ‘Sire, know that while wandering through the forest I saw an ancient path, an ancient road travelled upon by people in the past. I followed it and saw an ancient city, an ancient capital that had been inhabited by people in the past, with parks, groves, ponds, and ramparts, a delightful place. Renovate that city, sire!’ Then the king or the royal minister would renovate the city, and some time later that city would become successful and prosperous, well populated, filled with people, attained to growth and expansion.
SC 13“So too, bhikkhus, I saw the ancient path, the ancient road travelled by the Perfectly Enlightened Ones of the past. And what is that ancient path, that ancient road? It is just this Noble Eightfold Path; that is, right view, right intention, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, right concentration. I followed that path and by doing so I have directly known aging-and-death, its origin, its cessation, and the way leading to its cessation. I have directly known birth … existence … clinging … .craving … feeling … contact … the six sense bases …. name-and-form … consciousness … volitional formations, their origin, their cessation, and the way leading to their cessation. sn.ii.107 Having directly known them, I have explained them to the bhikkhus, the bhikkhunīs, the male lay followers, and the female lay followers. This holy life, bhikkhus, has become successful and prosperous, extended, popular, widespread, well proclaimed among devas and humans.”
Vi-n 1 Tại Sāvatthī.
Vi-n 2 —Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: “Thật sự thế giới này bị hãm trong khổ não, bị sanh, bị già, bị chết, bị đoạn diệt, và bị tái sanh; và từ nơi đau khổ này, không biết xuất ly khỏi già và chết; từ nơi đau khổ này, không biết khi nào được biết đến xuất ly khỏi già và chết”.
Vi-n 3 Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “ Do cái gì có mặt, già chết hiện hữu? Do cái gì, già chết sanh khởi?”
Vi-n 4 Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do sanh có mặt nên già chết hiện hữu. Do duyên sanh, nên già chết sanh khởi”.
Vi-n 5 Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, hữu hiện hữu? Thủ hiện hữu? Ái hiện hữu? Thọ hiện hữu? Xúc hiện hữu? Sáu xứ hiện hữu? Danh sắc hiện hữu? Do duyên cái gì, danh sắc sanh khởi?”
Vi-n 6 Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do thức có mặt nên danh sắc hiện hữu. Do duyên thức nên danh sắc sanh khởi”.
Vi-n 7 Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, thức hiện hữu. Do duyên cái gì, thức sanh khởi?”
Vi-n 8 Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do danh sắc có mặt nên thức hiện hữu. Do duyên danh sắc nên thức sanh khởi”.
Vi-n 9 Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: “Thức này trở lui, không đi xa hơn danh sắc. Xa đến như vậy, chúng ta bị sanh, bị già, bị chết, bị đoạn diệt, bị tái sanh, nghĩa là do duyên danh sắc, thức sanh khởi. Do duyên thức, danh sắc sanh khởi. Do duyên danh sắc, sáu xứ sanh khởi. Do duyên sáu xứ, xúc sanh khởi…”. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
Vi-n 10 “Tập khởi, tập khởi”. Này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nhãn khởi lên, trí khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên.
Vi-n 11 Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì không có mặt, già chết không hiện hữu? Do cái gì diệt, già chết diệt?”
Vi-n 12 Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do sanh không có mặt, nên già chết không hiện hữu. Do sanh diệt, nên già chết diệt”.
Vi-n 13 Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “ Do cái gì không có mặt, sanh không hiện hữu? Hữu không hiện hữu? Thủ không hiện hữu? Ái không hiện hữu? Thọ không hiện hữu? Xúc không hiện hữu? Sáu xứ không hiện hữu? Danh sắc không hiện hữu? Do cái gì diệt, danh sắc diệt?”
Vi-n 14 Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do thức không có mặt, danh sắc không hiện hữu. Do thức diệt nên danh sắc diệt”.
Vi-n 15 Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì không có mặt, thức không hiện hữu? Do cái gì diệt, nên thức diệt?”
Vi-n 16 Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do danh sắc không có mặt, thức không hiện hữu. Do danh sắc diệt nên thức diệt”.
Vi-n 17 Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Ta đã chứng đắc con đường này đưa đến giác ngộ, tức là do danh sắc diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt”.
Vi-n 18 “Ðoạn diệt, đoạn diệt”. Này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh.
Vi-n 19 Ví như, này các Tỷ-kheo, một người khi đi qua một khu rừng, một chặng núi, thấy được một con đường cũ, một đạo lộ cũ do những người xưa đã từng đi qua. Người ấy đi theo con đường ấy, trong khi đi theo con đường ấy, người ấy thấy được một cổ thành, một cố đô do người xưa ở, với đầy đủ vườn tược, đầy đủ rừng cây, đầy đủ hồ ao với thành lũy đẹp đẽ.
Vi-n 20 Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy báo cáo với vua hay vị đại thần: “Chư tôn hãy biết, trong khi đi ngang một khu rừng, một chặng núi, tôi thấy được một con đường cũ, một đạo lộ cũ do những người xưa đã từng đi qua. Tôi đã đi theo con đường ấy và thấy được một cổ thành, một cố đô do người xưa ở, với đầy đủ vườn tược, đầy đủ rừng cây, đầy đủ hồ ao, với thành lũy đẹp đẽ. Thưa các Tôn giả, hãy xây dựng lại ngôi thành ấy”.
Vi-n 21 Rồi này các Tỷ-kheo, vị vua hay vị đại thần cho xây dựng lại ngôi thành ấy. Và ngôi thành ấy, sau một thời gian lớn lên và trở thành một thành phố phồn vinh, thịnh vượng, đông đúc, tràn đầy người ở.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy một con đường cũ, một đạo lộ cũ do các vị Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua.
Vi-n 22 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường cũ, đạo lộ cũ ấy do các vị Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua? Ðây chính là con đường Thánh đạo tám ngành, tức là chánh tri kiến… chánh định. Con đường ấy, này các Tỷ-kheo, là con đường cũ, đạo lộ cũ do các bậc Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua. Ta đã đi theo con đường ấy. Ði theo con đường ấy, Ta thấy rõ già chết; Ta thấy rõ già, chết tập khởi; Ta thấy rõ già chết đoạn diệt; Ta thấy rõ con đường đưa đến già chết đoạn diệt.
Vi-n 23-31 Ta đã đi theo con đường ấy. Ði theo con đường ấy; Ta thấy rõ sanh… Ta thấy rõ hữu… Ta thấy rõ thủ… Ta thấy rõ ái… Ta thấy rõ thọ… Ta thấy rõ xúc… Ta thấy rõ sáu xứ… Ta thấy rõ danh sắc… Ta thấy rõ thức…
Vi-n 32 Ta đi theo con đường ấy. Ði theo con đường ấy, Ta thấy rõ các hành; Ta thấy rõ các hành tập khởi; Ta thấy rõ các hành đoạn diệt, Ta thấy rõ con đường đưa đến các hành đoạn diệt.
Vi-n 33 Cái được Ta biết rõ, Ta đã tuyên bố cho các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ được biết. Này các Tỷ-kheo, tức là Phạm hạnh này, phồn vinh, thịnh vượng, quảng đại, chúng đa, người nhiều và được chư Thiên, loài Người khéo léo trình bày.
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Pubbe me, bhikkhave, sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattasseva sato etadahosi:
‘kicchā vatāyaṁ loko āpanno jāyati ca jīyati ca mīyati ca cavati ca upapajjati ca.
Atha ca panimassa dukkhassa nissaraṇaṁ nappajānāti jarāmaraṇassa.
Kudāssu nāma imassa dukkhassa nissaraṇaṁ paññāyissati jarāmaraṇassā’ti?
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi:
‘kimhi nu kho sati jarāmaraṇaṁ hoti, kiṁpaccayā jarāmaraṇan’ti?
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo:
‘jātiyā kho sati jarāmaraṇaṁ hoti, jātipaccayā jarāmaraṇan’ti.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi:
‘kimhi nu kho sati jāti hoti …pe…
bhavo hoti …
upādānaṁ hoti …
taṇhā hoti …
vedanā hoti …
phasso hoti …
saḷāyatanaṁ hoti …
nāmarūpaṁ hoti …
kiṁpaccayā nāmarūpan’ti?
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo:
‘viññāṇe kho sati nāmarūpaṁ hoti, viññāṇapaccayā nāmarūpan’ti.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi:
‘kimhi nu kho sati viññāṇaṁ hoti, kiṁpaccayā viññāṇan’ti?
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo:
‘nāmarūpe kho sati viññāṇaṁ hoti, nāmarūpapaccayā viññāṇan’ti.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi—
paccudāvattati kho idaṁ viññāṇaṁ nāmarūpamhā na paraṁ gacchati.
Ettāvatā jāyetha vā jīyetha vā mīyetha vā cavetha vā upapajjetha vā, yadidaṁ nāmarūpapaccayā viññāṇaṁ;
viññāṇapaccayā nāmarūpaṁ;
nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṁ;
saḷāyatanapaccayā phasso …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
‘Samudayo, samudayo’ti kho me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṁ udapādi ñāṇaṁ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi:
‘kimhi nu kho asati, jarāmaraṇaṁ na hoti;
kissa nirodhā jarāmaraṇanirodho’ti?
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo:
‘jātiyā kho asati, jarāmaraṇaṁ na hoti;
jātinirodhā jarāmaraṇanirodho’ti.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi:
‘kimhi nu kho asati jāti na hoti …pe…
bhavo na hoti …
upādānaṁ na hoti …
taṇhā na hoti …
vedanā na hoti …
phasso na hoti …
saḷāyatanaṁ na hoti …
nāmarūpaṁ na hoti.
Kissa nirodhā nāmarūpanirodho’ti?
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo:
‘viññāṇe kho asati, nāmarūpaṁ na hoti;
viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho’ti.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi:
‘kimhi nu kho asati viññāṇaṁ na hoti;
kissa nirodhā viññāṇanirodho’ti?
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo:
‘nāmarūpe kho asati, viññāṇaṁ na hoti;
nāmarūpanirodhā viññāṇanirodho’ti.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi—
adhigato kho myāyaṁ maggo bodhāya yadidaṁ—
nāmarūpanirodhā viññāṇanirodho;
viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho;
nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodho;
saḷāyatananirodhā phassanirodho …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti.
‘Nirodho, nirodho’ti kho me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṁ udapādi ñāṇaṁ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso araññe pavane caramāno passeyya purāṇaṁ maggaṁ purāṇañjasaṁ pubbakehi manussehi anuyātaṁ.
So tamanugaccheyya.
Tamanugacchanto passeyya purāṇaṁ nagaraṁ purāṇaṁ rājadhāniṁ pubbakehi manussehi ajjhāvuṭṭhaṁ ārāmasampannaṁ vanasampannaṁ pokkharaṇīsampannaṁ uddhāpavantaṁ ramaṇīyaṁ.
Atha kho so, bhikkhave, puriso rañño vā rājamahāmattassa vā āroceyya:
‘yagghe, bhante, jāneyyāsi—ahaṁ addasaṁ araññe pavane caramāno purāṇaṁ maggaṁ purāṇañjasaṁ pubbakehi manussehi anuyātaṁ tamanugacchiṁ.
Tamanugacchanto addasaṁ purāṇaṁ nagaraṁ purāṇaṁ rājadhāniṁ pubbakehi manussehi ajjhāvuṭṭhaṁ ārāmasampannaṁ vanasampannaṁ pokkharaṇīsampannaṁ uddhāpavantaṁ ramaṇīyaṁ.
Taṁ, bhante, nagaraṁ māpehī’ti.
Atha kho so, bhikkhave, rājā vā rājamahāmatto vā taṁ nagaraṁ māpeyya.
Tadassa nagaraṁ aparena samayena iddhañceva phītañca bāhujaññaṁ ākiṇṇamanussaṁ vuddhivepullappattaṁ.
Evameva khvāhaṁ, bhikkhave, addasaṁ purāṇaṁ maggaṁ purāṇañjasaṁ pubbakehi sammāsambuddhehi anuyātaṁ.
Katamo ca so, bhikkhave, purāṇamaggo purāṇañjaso pubbakehi sammāsambuddhehi anuyāto?
Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṁ—
sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
Ayaṁ kho so, bhikkhave, purāṇamaggo purāṇañjaso pubbakehi sammāsambuddhehi anuyāto, tamanugacchiṁ;
tamanugacchanto jarāmaraṇaṁ abbhaññāsiṁ;
jarāmaraṇasamudayaṁ abbhaññāsiṁ;
jarāmaraṇanirodhaṁ abbhaññāsiṁ;
jarāmaraṇanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ abbhaññāsiṁ.
Tamanugacchiṁ;
tamanugacchanto jātiṁ abbhaññāsiṁ …pe…
bhavaṁ abbhaññāsiṁ …
upādānaṁ abbhaññāsiṁ …
taṇhaṁ abbhaññāsiṁ …
vedanaṁ abbhaññāsiṁ …
phassaṁ abbhaññāsiṁ …
saḷāyatanaṁ abbhaññāsiṁ …
nāmarūpaṁ abbhaññāsiṁ …
viññāṇaṁ abbhaññāsiṁ.
Tamanugacchiṁ;
tamanugacchanto saṅkhāre abbhaññāsiṁ;
saṅkhārasamudayaṁ abbhaññāsiṁ;
saṅkhāranirodhaṁ abbhaññāsiṁ;
saṅkhāranirodhagāminiṁ paṭipadaṁ abbhaññāsiṁ.
Tadabhiññāya ācikkhiṁ bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānaṁ.
Tayidaṁ, bhikkhave, brahmacariyaṁ iddhañceva phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ yāva devamanussehi suppakāsitan”ti.
Pañcamaṁ.