Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Tôn giả Mahà Kaccāna sống giữa dân chúng Avanti, tại Kulaghara, bên bờ một vực núi.
Vi-n 2 Rồi gia chủ Hàliddikàni đi đến Tôn giả Mahà Kaccāna … rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, gia chủ Hàliddikàni nói với Tôn giả Mahà Kaccāna:
Vi-n 4 —Thế Tôn đã nói trong tập Các Câu hỏi Của Sakka như vầy: “Những Sa-môn, Bà-la-môn nào được giải thoát với sự đoạn tận khát ái, những vị ấy đã hoàn toàn đạt được toàn thiện, đã hoàn toàn đạt được an ổn khỏi các khổ ách, đã hoàn toàn hành Phạm hạnh, đã hoàn toàn đạt được mục đích, là bậc tối thượng giữa loài Trời, loài Người”. Với lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, thưa Tôn giả, ý nghĩa cần phải hiểu một cách rộng rãi như thế nào?
Vi-n 5 —Ðối với sắc giới, này Gia chủ, cái gọi là dục, là tham, là hỷ, là khát ái, những gì thuộc chấp thủ, tâm trú trước, thiên chấp, tùy miên; sự đoạn tận chúng, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, từ khước chúng một cách hoàn toàn; như vậy gọi là tâm khéo giải thoát.
Vi-n 6 Ðối với thọ giới, này Gia chủ …
Vi-n 7 Ðối với tưởng giới, này Gia chủ …
Vi-n 8 Ðối với hành giới, này Gia chủ …
Vi-n 9 Ðối với thức giới, này Gia chủ, cái gọi là dục, là tham, là hỷ, là khát ái, những gì thuộc chấp thủ, tâm trú trước, thiên chấp, tùy miên; sự đoạn tận chúng, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, từ khước chúng một cách hoàn toàn; như vậy gọi là tâm khéo giải thoát.
Vi-n 10 Như vậy, này Gia chủ, là ý nghĩa đã được Thế Tôn nói đến trong tập Các Câu hỏi Của Sakka: “Những Sa-môn, Bà-la-môn nào được giải thoát với sự đoạn tận khát ái, những vị ấy đã hoàn toàn đạt được toàn thiện, đã hoàn toàn đạt được an ổn khỏi các khổ ách, đã hoàn toàn hành Phạm hạnh, đã hoàn toàn đạt được mục đích, là bậc tối thượng giữa loài Trời và loài Người”.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ āyasmā mahākaccāno avantīsu viharati kuraraghare papāte pabbate.
Atha kho hāliddikāni gahapati yenāyasmā mahākaccāno …pe… ekamantaṁ nisinno kho hāliddikāni gahapati āyasmantaṁ mahākaccānaṁ etadavoca:
“vuttamidaṁ, bhante, bhagavatā sakkapañhe:
‘ye te samaṇabrāhmaṇā taṇhāsaṅkhayavimuttā, te accantaniṭṭhā accantayogakkhemino accantabrahmacārino accantapariyosānā seṭṭhā devamanussānan’ti.
Imassa nu kho, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa kathaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti?
“Rūpadhātuyā kho, gahapati, yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā ye upayupādānā cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayā, tesaṁ khayā virāgā nirodhā cāgā paṭinissaggā ‘cittaṁ suvimuttanti’ vuccati.
Vedanādhātuyā kho, gahapati …
saññādhātuyā kho, gahapati …
saṅkhāradhātuyā kho, gahapati …
viññāṇadhātuyā kho, gahapati, yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā ye upayupādānā cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayā, tesaṁ khayā virāgā nirodhā cāgā paṭinissaggā ‘cittaṁ suvimuttanti’ vuccati.
Iti kho, gahapati, yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā sakkapañhe:
‘ye te samaṇabrāhmaṇā taṇhāsaṅkhayavimuttā te accantaniṭṭhā accantayogakkhemino accantabrahmacārino accantapariyosānā seṭṭhā devamanussānan’ti.
Imassa kho, gahapati, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti.
Catutthaṁ.
SC 1Thus have I heard. On one occasion the Venerable Mahakaccana was dwelling among the people of Avanti on Mount Papata at Kuraraghara. sn.iii.13 Then the householder Haliddakani approached the Venerable Mahakaccana, paid homage to him, sat down to one side, and said to him:
SC 2“Venerable sir, this was said by the Blessed One in ‘The Questions of Sakka’: ‘Those ascetics and brahmins who are liberated in the extinction of craving are those who have reached the ultimate end, the ultimate security from bondage, the ultimate holy life, the ultimate goal, and are best among devas and humans.’ How, venerable sir, should the meaning of this, stated in brief by the Blessed One, be understood in detail?”
SC 3“Householder, through the destruction, fading away, cessation, giving up, and relinquishment of desire, lust, delight, craving, engagement and clinging, mental standpoints, adherences, and underlying tendencies towards the form element, the mind is said to be well liberated.
SC 4“Through the destruction, fading away, cessation, giving up, and relinquishment of desire, lust, delight, craving, engagement and clinging, mental standpoints, adherences, and underlying tendencies towards the feeling element … the perception element … the volitional formations element … the consciousness element, the mind is said to be well liberated.
SC 5“Thus, householder, when it was said by the Blessed One in ‘The Questions of Sakka’: ‘Those ascetics and brahmins who are liberated in the extinction of craving are those who have reached the ultimate end, the ultimate security from bondage, the ultimate holy life, the ultimate goal, and are best among devas and humans’—it is in such a way that the meaning of this, stated in brief by the Blessed One, should be understood in detail.”
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Tôn giả Mahà Kaccāna sống giữa dân chúng Avanti, tại Kulaghara, bên bờ một vực núi.
Vi-n 2 Rồi gia chủ Hàliddikàni đi đến Tôn giả Mahà Kaccāna … rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, gia chủ Hàliddikàni nói với Tôn giả Mahà Kaccāna:
Vi-n 4 —Thế Tôn đã nói trong tập Các Câu hỏi Của Sakka như vầy: “Những Sa-môn, Bà-la-môn nào được giải thoát với sự đoạn tận khát ái, những vị ấy đã hoàn toàn đạt được toàn thiện, đã hoàn toàn đạt được an ổn khỏi các khổ ách, đã hoàn toàn hành Phạm hạnh, đã hoàn toàn đạt được mục đích, là bậc tối thượng giữa loài Trời, loài Người”. Với lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, thưa Tôn giả, ý nghĩa cần phải hiểu một cách rộng rãi như thế nào?
Vi-n 5 —Ðối với sắc giới, này Gia chủ, cái gọi là dục, là tham, là hỷ, là khát ái, những gì thuộc chấp thủ, tâm trú trước, thiên chấp, tùy miên; sự đoạn tận chúng, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, từ khước chúng một cách hoàn toàn; như vậy gọi là tâm khéo giải thoát.
Vi-n 6 Ðối với thọ giới, này Gia chủ …
Vi-n 7 Ðối với tưởng giới, này Gia chủ …
Vi-n 8 Ðối với hành giới, này Gia chủ …
Vi-n 9 Ðối với thức giới, này Gia chủ, cái gọi là dục, là tham, là hỷ, là khát ái, những gì thuộc chấp thủ, tâm trú trước, thiên chấp, tùy miên; sự đoạn tận chúng, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, từ khước chúng một cách hoàn toàn; như vậy gọi là tâm khéo giải thoát.
Vi-n 10 Như vậy, này Gia chủ, là ý nghĩa đã được Thế Tôn nói đến trong tập Các Câu hỏi Của Sakka: “Những Sa-môn, Bà-la-môn nào được giải thoát với sự đoạn tận khát ái, những vị ấy đã hoàn toàn đạt được toàn thiện, đã hoàn toàn đạt được an ổn khỏi các khổ ách, đã hoàn toàn hành Phạm hạnh, đã hoàn toàn đạt được mục đích, là bậc tối thượng giữa loài Trời và loài Người”.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ āyasmā mahākaccāno avantīsu viharati kuraraghare papāte pabbate.
Atha kho hāliddikāni gahapati yenāyasmā mahākaccāno …pe… ekamantaṁ nisinno kho hāliddikāni gahapati āyasmantaṁ mahākaccānaṁ etadavoca:
“vuttamidaṁ, bhante, bhagavatā sakkapañhe:
‘ye te samaṇabrāhmaṇā taṇhāsaṅkhayavimuttā, te accantaniṭṭhā accantayogakkhemino accantabrahmacārino accantapariyosānā seṭṭhā devamanussānan’ti.
Imassa nu kho, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa kathaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti?
“Rūpadhātuyā kho, gahapati, yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā ye upayupādānā cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayā, tesaṁ khayā virāgā nirodhā cāgā paṭinissaggā ‘cittaṁ suvimuttanti’ vuccati.
Vedanādhātuyā kho, gahapati …
saññādhātuyā kho, gahapati …
saṅkhāradhātuyā kho, gahapati …
viññāṇadhātuyā kho, gahapati, yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā ye upayupādānā cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayā, tesaṁ khayā virāgā nirodhā cāgā paṭinissaggā ‘cittaṁ suvimuttanti’ vuccati.
Iti kho, gahapati, yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā sakkapañhe:
‘ye te samaṇabrāhmaṇā taṇhāsaṅkhayavimuttā te accantaniṭṭhā accantayogakkhemino accantabrahmacārino accantapariyosānā seṭṭhā devamanussānan’ti.
Imassa kho, gahapati, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti.
Catutthaṁ.