Vi-n 1 Tại Sāvatthi.
Vi-n 2 —Ngày xưa, trước khi Ta giác ngộ, này các Tỷ-kheo, chưa thành Chánh giác, còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: “Con đường gì, đạo lộ gì để tu tập như ý túc?” Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau:
Vi-n 3 Tỷ-kheo tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành, nghĩ rằng: “Như vậy, dục của Ta sẽ không quá yếu đuối, sẽ không quá hăng say … với tâm chói sáng tu tập tâm”.
Vi-n 4-5. … tinh tấn định … tâm định …
Vi-n 6 … tu tập như ý túc câu hữu với tư duy định tinh cần hành, nghĩ rằng: “Như vậy, tư duy của Ta sẽ không quá yếu đuối, sẽ không quá hăng say, sẽ không co rút phía trong, sẽ không phân tán phía ngoài, vị ấy trú với tưởng trước sau đồng đẳng. Trước thế nào, thời sau như vậy; sau thế nào, thời trước như vậy. Dưới thế nào, thời trên như vậy; trên thế nào, thời dưới như vậy. Ngày thế nào, thời đêm như vậy; đêm thế nào, thời ngày như vậy”. Như vậy, với tâm rộng mở, với tâm không gò bó, với tâm chói sáng, vị ấy tu tập tâm.
Vi-n 7 Bốn như ý túc được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, Tỷ-kheo thực hiện nhiều loại thần thông: Một thân hiện thành nhiều thân, nhiều thân hiện thành một thân … có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên.
Vi-n 8 Bốn như ý túc được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, Tỷ-kheo do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Vi-n 9 … (Sáu thắng trí được thuyết rộng) …
Sāvatthinidānaṁ.
“Pubbeva me, bhikkhave, sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattasseva sato etadahosi:
‘ko nu kho maggo, kā paṭipadā iddhipādabhāvanāyā’ti?
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi:
‘idha bhikkhu chandasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti—
iti me chando na ca atilīno bhavissati, na ca atippaggahito bhavissati, na ca ajjhattaṁ saṅkhitto bhavissati, na ca bahiddhā vikkhitto bhavissati.
Pacchāpuresaññī ca viharati—
yathā pure tathā pacchā, yathā pacchā tathā pure;
yathā adho tathā uddhaṁ, yathā uddhaṁ tathā adho;
yathā divā tathā rattiṁ, yathā rattiṁ tathā divā.
Iti vivaṭena cetasā apariyonaddhena sappabhāsaṁ cittaṁ bhāveti.
Vīriyasamādhi …pe…
cittasamādhi …
vīmaṁsāsamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti—
iti me vīmaṁsā na ca atilīnā bhavissati, na ca atippaggahitā bhavissati, na ca ajjhattaṁ saṅkhittā bhavissati, na ca bahiddhā vikkhittā bhavissati.
Pacchāpuresaññī ca viharati—
yathā pure tathā pacchā, yathā pacchā tathā pure;
yathā adho tathā uddhaṁ, yathā uddhaṁ tathā adho;
yathā divā tathā rattiṁ yathā rattiṁ tathā divā’—
iti vivaṭena cetasā apariyonaddhena sappabhāsaṁ cittaṁ bhāveti.
Evaṁ bhāvitesu kho, bhikkhave, bhikkhu catūsu iddhipādesu evaṁ bahulīkatesu anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhoti—ekopi hutvā bahudhā hoti, bahudhāpi hutvā eko hoti …pe… yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vatteti.
Evaṁ bhāvitesu kho, bhikkhave, bhikkhu catūsu iddhipādesu evaṁ bahulīkatesu, āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī”ti.
Paṭhamaṁ.
(Chapi abhiññāyo vitthāretabbā.)
At Sāvatthī.
“Mendicants, before my awakening—when I was still unawakened but intent on awakening—I thought:
‘What’s the path and practice for developing the bases of psychic power?’
Then it occurred to me:
‘It’s when a mendicant develops the basis of psychic power that has immersion due to enthusiasm, and active effort.
They think: “My enthusiasm won’t be too lax or too tense. And it’ll be neither constricted internally nor scattered externally.”
And they meditate perceiving before and behind:
as before, so behind; as behind, so before;
as below, so above; as above, so below;
as by day, so by night; as by night, so by day.
And so, with an open and unenveloped heart, they develop a mind that’s full of radiance.
They develop the basis of psychic power that has immersion due to energy …
mental development …
inquiry, and active effort.
They think: “My inquiry won’t be too lax or too tense. And it’ll be neither constricted internally nor scattered externally.”
And they meditate perceiving before and behind:
as before, so behind; as behind, so before;
as below, so above; as above, so below;
as by day, so by night; as by night, so by day.
And so, with an open and unenveloped heart, they develop a mind that’s full of radiance.’
When the four bases of psychic power have been developed and cultivated in this way, a mendicant wields the many kinds of psychic power: multiplying themselves and becoming one again … controlling the body as far as the realm of divinity.
When the four bases of psychic power have been developed and cultivated in this way, they realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom in this very life. And they live having realized it with their own insight due to the ending of defilements.”
(The six direct knowledges should be told in full.)
Vi-n 1 Tại Sāvatthi.
Vi-n 2 —Ngày xưa, trước khi Ta giác ngộ, này các Tỷ-kheo, chưa thành Chánh giác, còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: “Con đường gì, đạo lộ gì để tu tập như ý túc?” Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau:
Vi-n 3 Tỷ-kheo tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành, nghĩ rằng: “Như vậy, dục của Ta sẽ không quá yếu đuối, sẽ không quá hăng say … với tâm chói sáng tu tập tâm”.
Vi-n 4-5. … tinh tấn định … tâm định …
Vi-n 6 … tu tập như ý túc câu hữu với tư duy định tinh cần hành, nghĩ rằng: “Như vậy, tư duy của Ta sẽ không quá yếu đuối, sẽ không quá hăng say, sẽ không co rút phía trong, sẽ không phân tán phía ngoài, vị ấy trú với tưởng trước sau đồng đẳng. Trước thế nào, thời sau như vậy; sau thế nào, thời trước như vậy. Dưới thế nào, thời trên như vậy; trên thế nào, thời dưới như vậy. Ngày thế nào, thời đêm như vậy; đêm thế nào, thời ngày như vậy”. Như vậy, với tâm rộng mở, với tâm không gò bó, với tâm chói sáng, vị ấy tu tập tâm.
Vi-n 7 Bốn như ý túc được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, Tỷ-kheo thực hiện nhiều loại thần thông: Một thân hiện thành nhiều thân, nhiều thân hiện thành một thân … có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên.
Vi-n 8 Bốn như ý túc được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, Tỷ-kheo do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Vi-n 9 … (Sáu thắng trí được thuyết rộng) …
Sāvatthinidānaṁ.
“Pubbeva me, bhikkhave, sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattasseva sato etadahosi:
‘ko nu kho maggo, kā paṭipadā iddhipādabhāvanāyā’ti?
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi:
‘idha bhikkhu chandasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti—
iti me chando na ca atilīno bhavissati, na ca atippaggahito bhavissati, na ca ajjhattaṁ saṅkhitto bhavissati, na ca bahiddhā vikkhitto bhavissati.
Pacchāpuresaññī ca viharati—
yathā pure tathā pacchā, yathā pacchā tathā pure;
yathā adho tathā uddhaṁ, yathā uddhaṁ tathā adho;
yathā divā tathā rattiṁ, yathā rattiṁ tathā divā.
Iti vivaṭena cetasā apariyonaddhena sappabhāsaṁ cittaṁ bhāveti.
Vīriyasamādhi …pe…
cittasamādhi …
vīmaṁsāsamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti—
iti me vīmaṁsā na ca atilīnā bhavissati, na ca atippaggahitā bhavissati, na ca ajjhattaṁ saṅkhittā bhavissati, na ca bahiddhā vikkhittā bhavissati.
Pacchāpuresaññī ca viharati—
yathā pure tathā pacchā, yathā pacchā tathā pure;
yathā adho tathā uddhaṁ, yathā uddhaṁ tathā adho;
yathā divā tathā rattiṁ yathā rattiṁ tathā divā’—
iti vivaṭena cetasā apariyonaddhena sappabhāsaṁ cittaṁ bhāveti.
Evaṁ bhāvitesu kho, bhikkhave, bhikkhu catūsu iddhipādesu evaṁ bahulīkatesu anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhoti—ekopi hutvā bahudhā hoti, bahudhāpi hutvā eko hoti …pe… yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vatteti.
Evaṁ bhāvitesu kho, bhikkhave, bhikkhu catūsu iddhipādesu evaṁ bahulīkatesu, āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī”ti.
Paṭhamaṁ.
(Chapi abhiññāyo vitthāretabbā.)