Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của sáu xúc xứ; vị ấy không thành tựu Phạm hạnh, còn đứng xa Pháp và Luật này.
Vi-n 3 Ðược nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con đã thất vọng (anassàsim). Bạch Thế Tôn, con không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sáu xúc xứ.
Vi-n 4-6. —Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo? Ông có quán con mắt: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Lành thay, này Tỷ-kheo. Ở đây, này Tỷ-kheo, do Ông như thật thấy con mắt với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”; như vậy là khéo thấy. Ðây là khổ được đoạn tận … tai … mũi …
Vi-n 7-8. … lưỡi … thân …
Vi-n 9 Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo? Ông có quán ý: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Lành thay, này Tỷ-kheo. Ở đây, này Tỷ-kheo, do Ông như thật thấy ý với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”; như vậy là khéo thấy. Ðây là khổ được đoạn tận.
“Yo hi koci, bhikkhave, bhikkhu channaṁ phassāyatanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ nappajānāti.
Avusitaṁ tena brahmacariyaṁ, ārakā so imasmā dhammavinayā”ti.
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“etthāhaṁ, bhante, anassasaṁ.
Ahañhi, bhante, channaṁ phassāyatanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ nappajānāmī”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, bhikkhu,
cakkhuṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhu, ettha ca te, bhikkhu, cakkhu ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ bhavissati.
Esevanto dukkhassa …pe…
jivhaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhu, ettha ca te, bhikkhu, jivhā ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ bhavissati.
Esevanto dukkhassa …pe…
manaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhu, ettha ca te, bhikkhu, mano ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ bhavissati.
Esevanto dukkhassā”ti.
Navamaṁ.
SC 1“Bhikkhus, if a bhikkhu does not understand as they really are the origin and the passing away, the gratification, the danger, and the escape, in the case of these six bases for contact, then he has not lived the holy life; he is far away from this Dhamma and Discipline.”
SC 2When this was said, a certain bhikkhu said to the Blessed One: “Here, venerable sir, I am lost, for I do not understand as they really are the origin and the passing away, the gratification, the danger, and the escape, in the case of these six bases for contact.”
SC 3“What do you think, bhikkhu, do you regard the eye thus: ‘This is mine, this I am, this is my self’?”
“No, venerable sir.”
SC 4“Good, bhikkhu! And here, bhikkhu, you should clearly see the eye as it really is with correct wisdom thus: ‘This is not mine, this I am not, this is not my self.’ This itself is the end of suffering.
SC 5“Do you regard the ear thus…? Do you regard the mind thus: ‘This is mine, this I am, this is my self’?”
“No, venerable sir.”
SC 6“Good, bhikkhu! And here, bhikkhu, you should clearly see the mind as it really is with correct wisdom thus: ‘This is not mine, this I am not, this is not my self.’ This itself is the end of suffering.” sn.iv.44
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của sáu xúc xứ; vị ấy không thành tựu Phạm hạnh, còn đứng xa Pháp và Luật này.
Vi-n 3 Ðược nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con đã thất vọng (anassàsim). Bạch Thế Tôn, con không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sáu xúc xứ.
Vi-n 4-6. —Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo? Ông có quán con mắt: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Lành thay, này Tỷ-kheo. Ở đây, này Tỷ-kheo, do Ông như thật thấy con mắt với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”; như vậy là khéo thấy. Ðây là khổ được đoạn tận … tai … mũi …
Vi-n 7-8. … lưỡi … thân …
Vi-n 9 Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo? Ông có quán ý: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Lành thay, này Tỷ-kheo. Ở đây, này Tỷ-kheo, do Ông như thật thấy ý với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”; như vậy là khéo thấy. Ðây là khổ được đoạn tận.
“Yo hi koci, bhikkhave, bhikkhu channaṁ phassāyatanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ nappajānāti.
Avusitaṁ tena brahmacariyaṁ, ārakā so imasmā dhammavinayā”ti.
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“etthāhaṁ, bhante, anassasaṁ.
Ahañhi, bhante, channaṁ phassāyatanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ nappajānāmī”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, bhikkhu,
cakkhuṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhu, ettha ca te, bhikkhu, cakkhu ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ bhavissati.
Esevanto dukkhassa …pe…
jivhaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhu, ettha ca te, bhikkhu, jivhā ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ bhavissati.
Esevanto dukkhassa …pe…
manaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhu, ettha ca te, bhikkhu, mano ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ bhavissati.
Esevanto dukkhassā”ti.
Navamaṁ.