Vi-n 1 Ở Sāvatthi, Jetavana.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy là một thanh niên Bà-la-môn tên là Magha, do vậy được gọi là Maghavà.
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy thường bố thí từ thành này qua thành khác, do vậy được tên là Purindado.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy thường bố thí một cách trọn vẹn (Sakkaccam), do vậy được tên là Sakka.
Vi-n 6 Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy thường bố thí trú xứ, do vậy được tên là Vàsavo.
Vi-n 7 Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy có thể trong một thời gian rất ngắn suy nghĩ đến ngàn sự việc, do vậy được tên là Sahassa akkha (ngàn con mắt).
Vi-n 8 Này các Tỷ-kheo, Sakka trở thành người chồng của một thiếu nữ A-tu-la tên là Sujà, do vậy được tên là Sujampati.
Vi-n 9 Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka thống lãnh và trị vì Tam thập tam thiên, do vậy được gọi là Thiên chủ.
Vi-n 10 Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn làm người, vị này chấp trì và thật hành bảy cấm giới túc. Nhờ chấp trì bảy cấm giới túc này, Sakka được địa vị Sakka.
Vi-n 11 Thế nào là bảy cấm giới túc?
“Cho đến trọn đời, tôi hiếu dưỡng cha mẹ. Cho đến trọn đời, tôi kính trọng bậc gia trưởng. Cho đến trọn đời, tôi nói lời nhu hòa. Cho đến trọn đời, tôi không nói lời hai lưỡi. Cho đến trọn đời, với tâm ly cấu uế và xan tham, tôi sống trong gia đình với tâm bố thí, với tay sạch sẽ, hoan hỷ thí xả, nhiệt tình đáp ứng các yêu cầu, sung sướng phân phối vật bố thí. Cho đến trọn đời, tôi nói lời chân thật. Cho đến trọn đời, tôi không phẫn nộ, nếu tôi có phẫn nộ, tôi sẽ mau chóng dẹp trừ phẫn nộ ấy”.
Vi-n 12 Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn làm người, vị này chấp trì và thật hành bảy cấm giới túc. Nhờ chấp trì bảy cấm giới túc này, Sakka được địa vị Sakka.
Ai hiếu dưỡng cha mẹ,
Kính trọng bậc gia trưởng,
Nói những lời nhu hòa,
Từ bỏ lời hai lưỡi,
Chế ngự lòng xan tham,
Là con người chân thực,
Nhiếp phục được phẫn nộ,
Với con người như vậy,
Chư Thiên tam thập tam,
Gọi là bậc Chơn nhơn.
Sāvatthiyaṁ jetavane.
Tatra kho bhagavā bhikkhū etadavoca:
“sakko, bhikkhave, devānamindo pubbe manussabhūto samāno magho nāma māṇavo ahosi, tasmā maghavāti vuccati.
Sakko, bhikkhave, devānamindo pubbe manussabhūto samāno pure dānaṁ adāsi, tasmā purindadoti vuccati.
Sakko, bhikkhave, devānamindo pubbe manussabhūto samāno sakkaccaṁ dānaṁ adāsi, tasmā sakkoti vuccati.
Sakko, bhikkhave, devānamindo pubbe manussabhūto samāno āvasathaṁ adāsi, tasmā vāsavoti vuccati.
Sakko, bhikkhave, devānamindo sahassampi atthānaṁ muhuttena cinteti, tasmā sahassakkhoti vuccati.
Sakkassa, bhikkhave, devānamindassa sujā nāma asurakaññā pajāpati, tasmā sujampatīti vuccati.
Sakko, bhikkhave, devānamindo devānaṁ tāvatiṁsānaṁ issariyādhipaccaṁ rajjaṁ kāreti, tasmā devānamindoti vuccati.
Sakkassa, bhikkhave, devānamindassa pubbe manussabhūtassa satta vatapadāni samattāni samādinnāni ahesuṁ, yesaṁ samādinnattā sakko sakkattaṁ ajjhagā.
Katamāni satta vatapadāni?
Yāvajīvaṁ mātāpettibharo assaṁ,
yāvajīvaṁ kule jeṭṭhāpacāyī assaṁ,
yāvajīvaṁ saṇhavāco assaṁ,
yāvajīvaṁ apisuṇavāco assaṁ,
yāvajīvaṁ vigatamalamaccherena cetasā agāraṁ ajjhāvaseyyaṁ muttacāgo payatapāṇi vossaggarato yācayogo dānasaṁvibhāgarato,
yāvajīvaṁ saccavāco assaṁ,
yāvajīvaṁ akkodhano assaṁ—sacepi me kodho uppajjeyya, khippameva naṁ paṭivineyyanti.
Sakkassa, bhikkhave, devānamindassa pubbe manussabhūtassa imāni satta vatapadāni samattāni samādinnāni ahesuṁ, yesaṁ samādinnattā sakko sakkattaṁ ajjhagāti.
Mātāpettibharaṁ jantuṁ,
kule jeṭṭhāpacāyinaṁ;
Saṇhaṁ sakhilasambhāsaṁ,
pesuṇeyyappahāyinaṁ.
Maccheravinaye yuttaṁ,
saccaṁ kodhābhibhuṁ naraṁ;
Taṁ ve devā tāvatiṁsā,
āhu sappuriso itī”ti.
SC 1At Savatthī in Jeta’s Grove. There the Blessed One said to the bhikkhus:
SC 2“Bhikkhus, in the past, when Sakka, lord of the devas, was a human being, he was a brahmin youth named Magha; therefore he is called Maghava.
SC 3“Bhikkhus, in the past, when Sakka, lord of the devas, was a human being, he gave gifts in city after city; therefore he is called Purindada, the Urban Giver.
SC 4“Bhikkhus, in the past, when Sakka, lord of the devas, was a human being, he gave gifts considerately; therefore he is called Sakka.
SC 5“Bhikkhus, in the past, when Sakka, lord of the devas, was a human being, he gave a rest house; therefore he is called Vasava.
SC 6“Bhikkhus, Sakka, lord of the devas, thinks of a thousand matters in a moment; therefore he is called Sahassakkha, Thousand-eyed.
SC 7“Bhikkhus, Sakka’s wife is the asura maiden named Suja; therefore he is called Sujampati, Suja’s husband.
SC 8“Bhikkhus, Sakka, lord of the devas, exercises supreme sovereignty and rulership over the Tavatiṁsa devas; therefore he is called lord of the devas.
SC 9“Bhikkhus, in the past, when Sakka, lord of the devas, was a human being, he adopted and undertook seven vows by the undertaking of which he achieved the status of Sakka….”
SC 10The remainder of this sutta is identical with the preceding one. Verses 906–7 = 904–5. sn.i.230
Vi-n 1 Ở Sāvatthi, Jetavana.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy là một thanh niên Bà-la-môn tên là Magha, do vậy được gọi là Maghavà.
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy thường bố thí từ thành này qua thành khác, do vậy được tên là Purindado.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy thường bố thí một cách trọn vẹn (Sakkaccam), do vậy được tên là Sakka.
Vi-n 6 Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy thường bố thí trú xứ, do vậy được tên là Vàsavo.
Vi-n 7 Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy có thể trong một thời gian rất ngắn suy nghĩ đến ngàn sự việc, do vậy được tên là Sahassa akkha (ngàn con mắt).
Vi-n 8 Này các Tỷ-kheo, Sakka trở thành người chồng của một thiếu nữ A-tu-la tên là Sujà, do vậy được tên là Sujampati.
Vi-n 9 Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka thống lãnh và trị vì Tam thập tam thiên, do vậy được gọi là Thiên chủ.
Vi-n 10 Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn làm người, vị này chấp trì và thật hành bảy cấm giới túc. Nhờ chấp trì bảy cấm giới túc này, Sakka được địa vị Sakka.
Vi-n 11 Thế nào là bảy cấm giới túc?
“Cho đến trọn đời, tôi hiếu dưỡng cha mẹ. Cho đến trọn đời, tôi kính trọng bậc gia trưởng. Cho đến trọn đời, tôi nói lời nhu hòa. Cho đến trọn đời, tôi không nói lời hai lưỡi. Cho đến trọn đời, với tâm ly cấu uế và xan tham, tôi sống trong gia đình với tâm bố thí, với tay sạch sẽ, hoan hỷ thí xả, nhiệt tình đáp ứng các yêu cầu, sung sướng phân phối vật bố thí. Cho đến trọn đời, tôi nói lời chân thật. Cho đến trọn đời, tôi không phẫn nộ, nếu tôi có phẫn nộ, tôi sẽ mau chóng dẹp trừ phẫn nộ ấy”.
Vi-n 12 Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn làm người, vị này chấp trì và thật hành bảy cấm giới túc. Nhờ chấp trì bảy cấm giới túc này, Sakka được địa vị Sakka.
Ai hiếu dưỡng cha mẹ,
Kính trọng bậc gia trưởng,
Nói những lời nhu hòa,
Từ bỏ lời hai lưỡi,
Chế ngự lòng xan tham,
Là con người chân thực,
Nhiếp phục được phẫn nộ,
Với con người như vậy,
Chư Thiên tam thập tam,
Gọi là bậc Chơn nhơn.
Sāvatthiyaṁ jetavane.
Tatra kho bhagavā bhikkhū etadavoca:
“sakko, bhikkhave, devānamindo pubbe manussabhūto samāno magho nāma māṇavo ahosi, tasmā maghavāti vuccati.
Sakko, bhikkhave, devānamindo pubbe manussabhūto samāno pure dānaṁ adāsi, tasmā purindadoti vuccati.
Sakko, bhikkhave, devānamindo pubbe manussabhūto samāno sakkaccaṁ dānaṁ adāsi, tasmā sakkoti vuccati.
Sakko, bhikkhave, devānamindo pubbe manussabhūto samāno āvasathaṁ adāsi, tasmā vāsavoti vuccati.
Sakko, bhikkhave, devānamindo sahassampi atthānaṁ muhuttena cinteti, tasmā sahassakkhoti vuccati.
Sakkassa, bhikkhave, devānamindassa sujā nāma asurakaññā pajāpati, tasmā sujampatīti vuccati.
Sakko, bhikkhave, devānamindo devānaṁ tāvatiṁsānaṁ issariyādhipaccaṁ rajjaṁ kāreti, tasmā devānamindoti vuccati.
Sakkassa, bhikkhave, devānamindassa pubbe manussabhūtassa satta vatapadāni samattāni samādinnāni ahesuṁ, yesaṁ samādinnattā sakko sakkattaṁ ajjhagā.
Katamāni satta vatapadāni?
Yāvajīvaṁ mātāpettibharo assaṁ,
yāvajīvaṁ kule jeṭṭhāpacāyī assaṁ,
yāvajīvaṁ saṇhavāco assaṁ,
yāvajīvaṁ apisuṇavāco assaṁ,
yāvajīvaṁ vigatamalamaccherena cetasā agāraṁ ajjhāvaseyyaṁ muttacāgo payatapāṇi vossaggarato yācayogo dānasaṁvibhāgarato,
yāvajīvaṁ saccavāco assaṁ,
yāvajīvaṁ akkodhano assaṁ—sacepi me kodho uppajjeyya, khippameva naṁ paṭivineyyanti.
Sakkassa, bhikkhave, devānamindassa pubbe manussabhūtassa imāni satta vatapadāni samattāni samādinnāni ahesuṁ, yesaṁ samādinnattā sakko sakkattaṁ ajjhagāti.
Mātāpettibharaṁ jantuṁ,
kule jeṭṭhāpacāyinaṁ;
Saṇhaṁ sakhilasambhāsaṁ,
pesuṇeyyappahāyinaṁ.
Maccheravinaye yuttaṁ,
saccaṁ kodhābhibhuṁ naraṁ;
Taṁ ve devā tāvatiṁsā,
āhu sappuriso itī”ti.