Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng thiên về hướng Ðông, hướng về hướng Ðông, xuôi về hướng Ðông. Rồi có một quần chúng lớn đến cầm cuốc và giỏ nói rằng: “Chúng ta sẽ làm cho sông Hằng này thiên về hướng Tây, hướng về hướng Tây, xuôi về hướng Tây”. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, quần chúng lớn ấy có thể làm cho sông Hằng thiên về hướng Tây, hướng về hướng Tây, xuôi về hướng Tây không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Vì sao? Vì rằng sông Hằng thiên về hướng Ðông, hướng về hướng Ðông, xuôi về hướng Ðông, không dễ gì có thể làm sông Hằng thiên về hướng Tây, hướng về hướng Tây, xuôi về hướng Tây. Quần chúng lớn ấy chỉ phải khổ nhọc, phiền não mà thôi.
Vi-n 3 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành, thời các vua, đại thần của vua, bằng hữu, đồng nghiệp, thân thích hay quyến thuộc cùng một huyết thống, đem tài sản đến mời mọc: “Hãy đến, này Bạn! Sao để những cà-sa này làm phiền não Bạn? Sao lại bộ hành với đầu trọc và y bát? Hãy hoàn tục, hưởng các tài sản và làm các công đức”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành từ bỏ học pháp và hoàn tục; sự kiện như vậy không xảy ra. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, tâm của vị ấy đã lâu ngày thiên về viễn ly, hướng về viễn ly, xuôi về viễn ly, không thể nào có thể trở lại hoàn tục; sự kiện như vậy không xảy ra. Và thế nào là Tỷ-kheo tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành?
Vi-n 4 Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến liên hệ đến viễn ly … tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành.
“Seyyathāpi, bhikkhave, gaṅgā nadī pācīnaninnā pācīnapoṇā pācīnapabbhārā.
Atha mahājanakāyo āgaccheyya kuddālapiṭakaṁ ādāya:
‘mayaṁ imaṁ gaṅgaṁ nadiṁ pacchāninnaṁ karissāma pacchāpoṇaṁ pacchāpabbhāran’ti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nu so mahājanakāyo gaṅgaṁ nadiṁ pacchāninnaṁ kareyya pacchāpoṇaṁ pacchāpabbhāran”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kissa hetu”?
“Gaṅgā, bhante, nadī pācīnaninnā pācīnapoṇā pācīnapabbhārā.
Sā na sukarā pacchāninnaṁ kātuṁ pacchāpoṇaṁ pacchāpabbhāraṁ.
Yāvadeva pana so mahājanakāyo kilamathassa vighātassa bhāgī assā”ti.
“Evameva kho, bhikkhave, bhikkhuṁ ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bhāventaṁ ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bahulīkarontaṁ rājāno vā rājamahāmattā vā mittā vā amaccā vā ñātī vā ñātisālohitā vā bhogehi abhihaṭṭhuṁ pavāreyyuṁ:
‘ehambho purisa, kiṁ te ime kāsāvā anudahanti,
kiṁ muṇḍo kapālamanusaṁcarasi.
Ehi, hīnāyāvattitvā bhoge ca bhuñjassu, puññāni ca karohī’ti.
So vata, bhikkhave, bhikkhu ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bhāvento ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bahulīkaronto sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Taṁ kissa hetu?
Yañhi taṁ, bhikkhave, cittaṁ dīgharattaṁ vivekaninnaṁ vivekapoṇaṁ vivekapabbhāraṁ taṁ vata hīnāyāvattissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bhāveti ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bahulīkaroti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu sammādiṭṭhiṁ bhāveti vivekanissitaṁ …pe… sammāsamādhiṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ …
evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bhāveti, ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bahulīkarotī”ti.
(Yadapi balakaraṇīyaṁ, tadapi vitthāretabbaṁ.)
Dvādasamaṁ.
Balakaraṇīyavaggo chaṭṭho.
Tassuddānaṁ
Balaṁ bījañca nāgo ca,
rukkho kumbhena sūkiyā;
Ākāsena ca dve meghā,
nāvā āgantukā nadīti.
SC 1“Suppose, bhikkhus, that when the river Ganges slants, slopes, and inclines towards the east, a great crowd of people would come along bringing a shovel and a basket, thinking: ‘We will make this river Ganges slant, slope, and incline towards the west.’ What do you think, bhikkhus, would that great crowd of people be able to make the river Ganges slant, slope, and incline towards the west?”
SC 2“No, venerable sir. For what reason? Because the river Ganges slants, slopes, and inclines towards the east, and it is not easy to make it slant, slope, and incline towards the west. That great crowd of people would only reap fatigue and vexation.”
SC 3“So too, bhikkhus, when a bhikkhu is developing and cultivating the Noble Eightfold Path, kings or royal ministers, friends or colleagues, relatives or kinsmen, might invite him to accept wealth, saying: ‘Come, good man, why let these saffron robes weigh you down? Why roam around with a shaven head and a begging bowl? Come, having returned to the lower life, enjoy wealth and do meritorious deeds.’ Indeed, bhikkhus, when that bhikkhu is developing and cultivating the Noble Eightfold Path, it is impossible that he will give up the training and return to the lower life. For what reason? Because for a long time his mind has slanted, sloped, and inclined towards seclusion. Thus it is impossible that he will return to the lower life.
SC 4“And how, bhikkhus, does a bhikkhu develop and cultivate the Noble Eightfold Path? sn.v.54 Here, bhikkhus, a bhikkhu develops right view … right concentration, which is based upon seclusion, dispassion, and cessation, maturing in release. It is in this way, bhikkhus, that a bhikkhu develops and cultivates the Noble Eightfold Path.”
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng thiên về hướng Ðông, hướng về hướng Ðông, xuôi về hướng Ðông. Rồi có một quần chúng lớn đến cầm cuốc và giỏ nói rằng: “Chúng ta sẽ làm cho sông Hằng này thiên về hướng Tây, hướng về hướng Tây, xuôi về hướng Tây”. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, quần chúng lớn ấy có thể làm cho sông Hằng thiên về hướng Tây, hướng về hướng Tây, xuôi về hướng Tây không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Vì sao? Vì rằng sông Hằng thiên về hướng Ðông, hướng về hướng Ðông, xuôi về hướng Ðông, không dễ gì có thể làm sông Hằng thiên về hướng Tây, hướng về hướng Tây, xuôi về hướng Tây. Quần chúng lớn ấy chỉ phải khổ nhọc, phiền não mà thôi.
Vi-n 3 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành, thời các vua, đại thần của vua, bằng hữu, đồng nghiệp, thân thích hay quyến thuộc cùng một huyết thống, đem tài sản đến mời mọc: “Hãy đến, này Bạn! Sao để những cà-sa này làm phiền não Bạn? Sao lại bộ hành với đầu trọc và y bát? Hãy hoàn tục, hưởng các tài sản và làm các công đức”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành từ bỏ học pháp và hoàn tục; sự kiện như vậy không xảy ra. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, tâm của vị ấy đã lâu ngày thiên về viễn ly, hướng về viễn ly, xuôi về viễn ly, không thể nào có thể trở lại hoàn tục; sự kiện như vậy không xảy ra. Và thế nào là Tỷ-kheo tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành?
Vi-n 4 Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến liên hệ đến viễn ly … tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành.
“Seyyathāpi, bhikkhave, gaṅgā nadī pācīnaninnā pācīnapoṇā pācīnapabbhārā.
Atha mahājanakāyo āgaccheyya kuddālapiṭakaṁ ādāya:
‘mayaṁ imaṁ gaṅgaṁ nadiṁ pacchāninnaṁ karissāma pacchāpoṇaṁ pacchāpabbhāran’ti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nu so mahājanakāyo gaṅgaṁ nadiṁ pacchāninnaṁ kareyya pacchāpoṇaṁ pacchāpabbhāran”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kissa hetu”?
“Gaṅgā, bhante, nadī pācīnaninnā pācīnapoṇā pācīnapabbhārā.
Sā na sukarā pacchāninnaṁ kātuṁ pacchāpoṇaṁ pacchāpabbhāraṁ.
Yāvadeva pana so mahājanakāyo kilamathassa vighātassa bhāgī assā”ti.
“Evameva kho, bhikkhave, bhikkhuṁ ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bhāventaṁ ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bahulīkarontaṁ rājāno vā rājamahāmattā vā mittā vā amaccā vā ñātī vā ñātisālohitā vā bhogehi abhihaṭṭhuṁ pavāreyyuṁ:
‘ehambho purisa, kiṁ te ime kāsāvā anudahanti,
kiṁ muṇḍo kapālamanusaṁcarasi.
Ehi, hīnāyāvattitvā bhoge ca bhuñjassu, puññāni ca karohī’ti.
So vata, bhikkhave, bhikkhu ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bhāvento ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bahulīkaronto sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Taṁ kissa hetu?
Yañhi taṁ, bhikkhave, cittaṁ dīgharattaṁ vivekaninnaṁ vivekapoṇaṁ vivekapabbhāraṁ taṁ vata hīnāyāvattissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bhāveti ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bahulīkaroti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu sammādiṭṭhiṁ bhāveti vivekanissitaṁ …pe… sammāsamādhiṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ …
evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bhāveti, ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bahulīkarotī”ti.
(Yadapi balakaraṇīyaṁ, tadapi vitthāretabbaṁ.)
Dvādasamaṁ.
Balakaraṇīyavaggo chaṭṭho.
Tassuddānaṁ
Balaṁ bījañca nāgo ca,
rukkho kumbhena sūkiyā;
Ākāsena ca dve meghā,
nāvā āgantukā nadīti.