Vi-n 1-2. Ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về gánh nặng, mang gánh nặng lên, đặt gánh nặng xuống. Hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ giảng.
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, thế nào là gánh nặng? Năm thủ uẩn là câu trả lời. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là gánh nặng.
Vi-n 5 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là kẻ mang gánh nặng? Người là câu trả lời. Vị Tôn giả này có tên như thế này, dòng họ như thế này. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là kẻ mang gánh nặng!
Vi-n 6 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là mang gánh nặng lên? Chính là tham ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, đi tìm hỷ lạc chỗ này, chỗ kia. Tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là mang gánh nặng lên.
Vi-n 7 Này các Tỷ-kheo, thế nào là đặt gánh nặng xuống? Ðây là sự ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn, sự từ bỏ, sự xả ly, sự giải thoát, sự không chấp thủ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đặt gánh nặng xuống.
Vi-n 8 Thế Tôn thuyết như vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Năm uẩn là gánh nặng,
Kẻ gánh nặng là người;
Mang lấy gánh nặng lên,
Chính là khổ ở đời.
Còn đặt gánh nặng xuống,
Tức là lạc, không khổ,
Ðặt gánh nặng xuống xong,
Không mang thêm gánh khác.
Nếu nhổ khát ái lên,
Tận cùng đến gốc rễ,
Không còn đói và khát,
Ðược giải thoát tịnh lạc!
Sāvatthiyaṁ … tatra kho …
“bhārañca vo, bhikkhave, desessāmi bhārahārañca bhārādānañca bhāranikkhepanañca.
Taṁ suṇātha.
Katamo ca, bhikkhave, bhāro?
Pañcupādānakkhandhā tissa vacanīyaṁ.
Katame pañca?
Rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho;
ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhāro.
Katamo ca, bhikkhave, bhārahāro?
Puggalo tissa vacanīyaṁ.
Yvāyaṁ āyasmā evaṁnāmo evaṅgotto;
ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhārahāro.
Katamañca, bhikkhave, bhārādānaṁ?
Yāyaṁ taṇhā ponobhavikā nandīrāgasahagatā tatratatrābhinandinī, seyyathidaṁ—
kāmataṇhā, bhavataṇhā, vibhavataṇhā.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, bhārādānaṁ.
Katamañca, bhikkhave, bhāranikkhepanaṁ?
Yo tassāyeva taṇhāya asesavirāganirodho cāgo paṭinissaggo mutti anālayo.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, bhāranikkhepanan”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Bhārā have pañcakkhandhā,
bhārahāro ca puggalo;
Bhārādānaṁ dukhaṁ loke,
bhāranikkhepanaṁ sukhaṁ.
Nikkhipitvā garuṁ bhāraṁ,
aññaṁ bhāraṁ anādiya;
Samūlaṁ taṇhamabbuyha,
nicchāto parinibbuto”ti.
Paṭhamaṁ.
At Savatthi…. There the Blessed One said this:
SC 1“Bhikkhus, I will teach you the burden, the carrier of the burden, the taking up of the burden, and the laying down of the burden. Listen to that….
SC 2“And what, bhikkhus, is the burden? It should be said: the five aggregates subject to clinging. What five? The form aggregate subject to clinging, the feeling aggregate subject to clinging, the perception aggregate subject to clinging, the volitional formations aggregate subject to clinging, the consciousness aggregate subject to clinging. This is called the burden.
SC 3“And what, bhikkhus, is the carrier of the burden? It should be said: the person, this venerable one of such a name and clan. This is called the carrier of the burden. sn.iii.26
SC 4“And what, bhikkhus, is the taking up of the burden? It is this craving that leads to renewed existence, accompanied by delight and lust, seeking delight here and there; that is, craving for sensual pleasures, craving for existence, craving for extermination. This is called the taking up of the burden.
SC 5“And what, bhikkhus, is the laying down of the burden? It is the remainderless fading away and cessation of that same craving, the giving up and relinquishing of it, freedom from it, non-reliance on it. This is called the laying down of the burden.”
SC 6This is what the Blessed One said. Having said this, the Fortunate One, the Teacher, further said this:
SC 7“The five aggregates are truly burdens,
The burden-carrier is the person.
Taking up the burden is suffering in the world,
Laying the burden down is blissful.
SC 8Having laid the heavy burden down
Without taking up another burden,
Having drawn out craving with its root,
One is free from hunger, fully quenched.”
Vi-n 1-2. Ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về gánh nặng, mang gánh nặng lên, đặt gánh nặng xuống. Hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ giảng.
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, thế nào là gánh nặng? Năm thủ uẩn là câu trả lời. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là gánh nặng.
Vi-n 5 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là kẻ mang gánh nặng? Người là câu trả lời. Vị Tôn giả này có tên như thế này, dòng họ như thế này. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là kẻ mang gánh nặng!
Vi-n 6 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là mang gánh nặng lên? Chính là tham ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, đi tìm hỷ lạc chỗ này, chỗ kia. Tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là mang gánh nặng lên.
Vi-n 7 Này các Tỷ-kheo, thế nào là đặt gánh nặng xuống? Ðây là sự ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn, sự từ bỏ, sự xả ly, sự giải thoát, sự không chấp thủ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đặt gánh nặng xuống.
Vi-n 8 Thế Tôn thuyết như vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Năm uẩn là gánh nặng,
Kẻ gánh nặng là người;
Mang lấy gánh nặng lên,
Chính là khổ ở đời.
Còn đặt gánh nặng xuống,
Tức là lạc, không khổ,
Ðặt gánh nặng xuống xong,
Không mang thêm gánh khác.
Nếu nhổ khát ái lên,
Tận cùng đến gốc rễ,
Không còn đói và khát,
Ðược giải thoát tịnh lạc!
Sāvatthiyaṁ … tatra kho …
“bhārañca vo, bhikkhave, desessāmi bhārahārañca bhārādānañca bhāranikkhepanañca.
Taṁ suṇātha.
Katamo ca, bhikkhave, bhāro?
Pañcupādānakkhandhā tissa vacanīyaṁ.
Katame pañca?
Rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho;
ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhāro.
Katamo ca, bhikkhave, bhārahāro?
Puggalo tissa vacanīyaṁ.
Yvāyaṁ āyasmā evaṁnāmo evaṅgotto;
ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhārahāro.
Katamañca, bhikkhave, bhārādānaṁ?
Yāyaṁ taṇhā ponobhavikā nandīrāgasahagatā tatratatrābhinandinī, seyyathidaṁ—
kāmataṇhā, bhavataṇhā, vibhavataṇhā.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, bhārādānaṁ.
Katamañca, bhikkhave, bhāranikkhepanaṁ?
Yo tassāyeva taṇhāya asesavirāganirodho cāgo paṭinissaggo mutti anālayo.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, bhāranikkhepanan”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Bhārā have pañcakkhandhā,
bhārahāro ca puggalo;
Bhārādānaṁ dukhaṁ loke,
bhāranikkhepanaṁ sukhaṁ.
Nikkhipitvā garuṁ bhāraṁ,
aññaṁ bhāraṁ anādiya;
Samūlaṁ taṇhamabbuyha,
nicchāto parinibbuto”ti.
Paṭhamaṁ.