S.iv,207Vi-n 1-2~1 …
Vi-n 3~2 —Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu, cảm thọ cảm giác lạc thọ, cảm thọ cảm giác khổ thọ, cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ.
Vi-n 4~3 Này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử cũng cảm thọ cảm giác lạc thọ, cảm thọ cảm giác khổ thọ, cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ.
Vi-n 5~4 Ở đây, này các Tỷ-kheo, thế nào là đặc thù, thế nào là thù thắng, thế nào là sai biệt giữa bậc Ða văn Thánh đệ tử và kẻ vô văn phàm phu?
Vi-n 6~5 —Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản …
Vi-n 7~6 —Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ thọ, sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Vị ấy cảm giác hai cảm thọ, cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm.
Vi-n 8~7 Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bị người ta bắn với mũi tên, rồi họ bắn người ấy với mũi tên thứ hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, người ấy cảm giác cảm thọ cả hai mũi tên. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ thọ; thời sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Người ấy cảm giác hai cảm thọ, cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm. Cảm xúc bởi khổ thọ ấy, người ấy cảm thấy sân hận (patigha). Do cảm thấy sân hận đối với khổ thọ ấy, sân tùy miên đối với khổ thọ được tồn chỉ tùy miên (anuseti). Cảm xúc bởi khổ thọ, người ấy hoan hỷ dục lạc. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không tìm thấy một sự xuất ly khổ thọ nào khác, ngoài dục lạc. Do hoan hỷ dục lạc ấy, tham tùy miên đối với lạc thọ tồn tại. Người ấy không như thật rõ biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy. Do người ấy không như thật rõ biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy, nên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ tồn tại. Nếu người ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc (sannutto). Nếu người ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc. Nếu người ấy cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là kẻ vô văn phàm phu bị trói buộc bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng người ấy bị trói buộc bởi đau khổ.
Vi-n 9~8 Và này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử khi cảm xúc khổ thọ thời không có sầu muộn, không có than vãn, không có khóc lóc, không có đấm ngực, không có đi đến bất tỉnh. Vị ấy chỉ cảm thọ cảm giác một cảm thọ, tức là cảm thọ về thân, không phải cảm thọ về tâm.
Vi-n 10~9 Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bị người ta bắn một mũi tên. Họ không bắn tiếp người ấy với mũi tên thứ hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, người ấy cảm giác cảm thọ của một mũi tên. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử khi cảm xúc khổ thọ; vị ấy không sầu muộn, không than vãn, không khóc lóc, không đấm ngực, không đi đến bất tỉnh. Vị ấy cảm giác chỉ một cảm thọ, cảm thọ về thân, không phải cảm thọ về tâm. Vị ấy không cảm thấy sân hận đối với khổ thọ ấy. Do không cảm thấy sân hận đối với khổ thọ ấy, sân tùy miên đối với khổ thọ không có tồn tại. Cảm xúc bởi khổ thọ, vị ấy không hoan hỷ dục lạc. Vì sao? Vì bậc Ða văn Thánh đệ tử có tuệ tri một sự xuất ly khác đối với khổ thọ, ngoài dục lạc. Vì vị ấy không hoan hỷ dục lạc, tham tùy miên đối với dục lạc không có tồn tại. Vị ấy như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của những cảm thọ ấy. Vì rằng, vị ấy như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy. Vì rằng, vị ấy như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy, đối với bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên không có tồn tại. Nếu vị ấy cảm thọ lạc thọ, vị ấy cảm thọ lạc thọ như người không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ, vị ấy cảm thọ cảm giác như người không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ, vị ấy cảm thọ cảm giác như người không bị trói buộc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo không bị trói buộc bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, ão. Ta nói rằng vị ấy không bị trói buộc bởi đau khổ.
Vi-n 11~10 Này các Tỷ-kheo, đây là sự đặc thù, đây là thù thắng, đây là sự sai biệt giữa bậc Ða văn Thánh đệ tử và kẻ vô văn phàm phu.
Vi-n 1~11 Bậc Trí tuệ Ða văn,
Lạc khổ không chi phối,
Giữa kẻ trí, phàm phu,
Thiện sai biệt rất lớn.
Vi-n 2~12 Bậc Ða văn, Tầm pháp,
Thấy đời này, đời sau,
Ái pháp không phá tâm,
Không ái, không sân hận.
Vi-n 3~13 Tùy thuận hay đối nghịch,
Tiêu tán, diệt, không còn,
Vị ấy biết con đường,
Ðường không cấu, không sầu,
Chánh trí, đoạn tái sanh,
Ðến được bờ giác ngộ.
“Assutavā, bhikkhave, puthujjano sukhampi vedanaṁ vedayati, dukkhampi vedanaṁ vedayati, adukkhamasukhampi vedanaṁ vedayati.
Sutavā, bhikkhave, ariyasāvako sukhampi vedanaṁ vedayati, dukkhampi vedanaṁ vedayati, adukkhamasukhampi vedanaṁ vedayati.
Tatra, bhikkhave, ko viseso ko adhippayāso kiṁ nānākaraṇaṁ sutavato ariyasāvakassa assutavatā puthujjanenā”ti?
Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā …pe…
assutavā, bhikkhave, puthujjano dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno socati kilamati paridevati urattāḷiṁ kandati sammohaṁ āpajjati.
So dve vedanā vedayati—
kāyikañca, cetasikañca.
Seyyathāpi, bhikkhave, purisaṁ sallena vijjheyya.
Tamenaṁ dutiyena sallena anuvedhaṁ vijjheyya.
Evañhi so, bhikkhave, puriso dvisallena vedanaṁ vedayati.
Evameva kho, bhikkhave, assutavā puthujjano dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno socati kilamati paridevati urattāḷiṁ kandati sammohaṁ āpajjati.
So dve vedanā vedayati—
kāyikañca, cetasikañca.
Tassāyeva kho pana dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno paṭighavā hoti.
Tamenaṁ dukkhāya vedanāya paṭighavantaṁ, yo dukkhāya vedanāya paṭighānusayo, so anuseti.
So dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno kāmasukhaṁ abhinandati.
Taṁ kissa hetu?
Na hi so, bhikkhave, pajānāti assutavā puthujjano aññatra kāmasukhā dukkhāya vedanāya nissaraṇaṁ,
tassa kāmasukhañca abhinandato, yo sukhāya vedanāya rāgānusayo, so anuseti.
So tāsaṁ vedanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ nappajānāti.
Tassa tāsaṁ vedanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ appajānato, yo adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayo, so anuseti.
So sukhañce vedanaṁ vedayati, saññutto naṁ vedayati.
Dukkhañce vedanaṁ vedayati, saññutto naṁ vedayati.
Adukkhamasukhañce vedanaṁ vedayati, saññutto naṁ vedayati.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘assutavā puthujjano saññutto jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, saññutto dukkhasmā’ti vadāmi.
Sutavā ca kho, bhikkhave, ariyasāvako dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno na socati, na kilamati, na paridevati, na urattāḷiṁ kandati, na sammohaṁ āpajjati.
So ekaṁ vedanaṁ vedayati—
kāyikaṁ, na cetasikaṁ.
Seyyathāpi, bhikkhave, purisaṁ sallena vijjheyya.
Tamenaṁ dutiyena sallena anuvedhaṁ na vijjheyya.
Evañhi so, bhikkhave, puriso ekasallena vedanaṁ vedayati.
Evameva kho, bhikkhave, sutavā ariyasāvako dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno na socati, na kilamati, na paridevati, na urattāḷiṁ kandati, na sammohaṁ āpajjati.
So ekaṁ vedanaṁ vedayati—
kāyikaṁ, na cetasikaṁ.
Tassāyeva kho pana dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno paṭighavā na hoti.
Tamenaṁ dukkhāya vedanāya appaṭighavantaṁ, yo dukkhāya vedanāya paṭighānusayo, so nānuseti.
So dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno kāmasukhaṁ nābhinandati.
Taṁ kissa hetu?
Pajānāti hi so, bhikkhave, sutavā ariyasāvako aññatra kāmasukhā dukkhāya vedanāya nissaraṇaṁ.
Tassa kāmasukhaṁ nābhinandato yo sukhāya vedanāya rāgānusayo, so nānuseti.
So tāsaṁ vedanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavaṁ ca nissaraṇañca yathābhūtaṁ pajānāti.
Tassa tāsaṁ vedanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ pajānato, yo adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayo, so nānuseti.
So sukhañce vedanaṁ vedayati, visaññutto naṁ vedayati.
Dukkhañce vedanaṁ vedayati, visaññutto naṁ vedayati.
Adukkhamasukhañce vedanaṁ vedayati, visaññutto naṁ vedayati.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘sutavā ariyasāvako visaññutto jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, visaññutto dukkhasmā’ti vadāmi.
Ayaṁ kho, bhikkhave, viseso, ayaṁ adhippayāso, idaṁ nānākaraṇaṁ sutavato ariyasāvakassa assutavatā puthujjanenāti.
Na vedanaṁ vedayati sapañño,
Sukhampi dukkhampi bahussutopi;
Ayañca dhīrassa puthujjanena,
Mahā viseso kusalassa hoti.
Saṅkhātadhammassa bahussutassa,
Vipassato lokamimaṁ parañca;
Iṭṭhassa dhammā na mathenti cittaṁ,
Aniṭṭhato no paṭighātameti.
Tassānurodhā athavā virodhā,
Vidhūpitā atthagatā na santi;
Padañca ñatvā virajaṁ asokaṁ,
Sammā pajānāti bhavassa pāragū”ti.
Chaṭṭhaṁ.
SC 1“Monks, the uneducated commoner feels pleasant feelings, unpleasant feelings, and neutral feelings. Monks, an educated disciple of the noble ones also feels pleasant feelings, unpleasant feelings, and neutral feelings. Monks, in this case, what is the difference, what is the distinction, what is the variance between an educated disciple of the noble ones and an uneducated commoner?”
SC 2“Bhante, our teachings are rooted in the Blessed One, guided by the Blessed One, based on the Blessed One. Bhante, it would be wonderful if the Blessed One would elucidate the meaning of this statement. Having heard it from from the Blessed One, the monks will remember it.”
SC 3“Therefore, monks, listen and carefully pay attention; I will speak.”
SC 4“Yes, Bhante,” those monks replied to the Blessed One. The Blessed One said this:
SC 5“Monks, when an uneducated commoner is touched by a painful sensation, he sorrows, frets, and laments, beating his chest and wailing, and becomes confused. He feels two feelings – one physical and one mental. Monks, it is just like a person who has been pierced by a thorn. Then he is pierced again by a second thorn. Monks, in this way, the person feels the feeling of two thorns.
SC 6“Monks, in the same way, when an uneducated commoner is touched by a painful sensation, he sorrows, frets, and laments, beating his chest and wailing, and becomes confused. He feels two feelings – physical and mental. When touched by that painful feeling, he is aversive. Since he is aversive towards that painful feeling, the tendency of aversion towards painful feelings is latent in him.
SC 7“When touched by painful feelings, he seeks delight in sensual pleasure. Why is that? Monks, an uneducated commoner does not know any escape from painful feelings other than sensual pleasure. Since he seeks delights in sensual pleasure, the tendency of passion towards pleasant feelings is latent in him.
SC 8“He does not accurately understand the origin, disappearance, appeal, drawback, and escape regarding those feelings. Since he does not accurately understand the origin, disappearance, appeal, drawback, and escape regarding those feelings, the tendency of ignorance towards neutral feelings is latent in him.
SC 9“If he feels a pleasant feeling, he is trapped. If he feels a painful feeling, he is trapped. If he feels a neutral feeling, he is trapped. Monks, this is called ‘An uneducated commoner is trapped by birth, decay, death, sorrow, lamentation, pain, depression, and anguish; he is trapped by dissatisfaction,’ I say.
SC 10“Monks, when an educated disciple of the noble ones is touched by a painful sensation, he does not sorrow, fret, lament, beat his chest, wail, or become confused. He feels one feeling – physical, not mental. Monks, it is just like a person who has been pierced by a thorn. But he is not pierced again by a second thorn. Monks, in this way, the person feels the feeling of only one thorn.
SC 11“Monks, in the same way, when an educated disciple of the noble ones is touched by a painful sensation, he does not sorrow, fret, lament, beat his chest, wail, or become confused. He feels one feeling – physical, not mental. When touched by that painful feeling, he is not aversive. Since he is not aversive towards that painful feeling, the tendency of aversion towards painful feelings is not latent in him.
SC 12“When touched by painful feelings, he does not seek delight in sensual pleasure. Why is that? Monks, an educated disciple of the noble ones knows an escape from painful feelings other than sensual pleasure. Since he does not seek delight in sensual pleasure, the tendency of passion towards pleasant feelings is not latent in him.
SC 13“He accurately understands the origin, disappearance, appeal, drawback, and escape regarding those feelings. Since he accurately understands the origin, disappearance, appeal, drawback, and escape regarding those feelings, the tendency of ignorance towards neutral feelings is not latent in him.
SC 14“If he feels a pleasant feeling, he is not trapped. If he feels a painful feeling, he is not trapped. If he feels a neutral feeling, he is not trapped. Monks, this is called ‘An educated disciple of the noble ones is not trapped by birth, decay, death, sorrow, lamentation, pain, depression, and anguish; he is not trapped by dissatisfaction,’ I say.
SC 15“Monks, this is the difference, the distinction, the variance between an educated disciple of the noble ones and an uneducated commoner.
SC 16“The wise one who has learned much
Does not feel pleasure or pain.
This is the great distinction
Between a steadfast wholesome one and a commoner.
SC 17“When one has learned much of the recognized teachings,
Seeing clearing both this world and other worlds,
Then one‘s mind is not agitated by desirable things
Or aversive towards what is undesirable.
SC 18“For that one, both approval and rejection
Have been vaporized, have disappeared, and do not exist.
Having known the path, flawless and sorrowless,
One fully understands, and transcends existence.”
S.iv,207Vi-n 1-2~1 …
Vi-n 3~2 —Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu, cảm thọ cảm giác lạc thọ, cảm thọ cảm giác khổ thọ, cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ.
Vi-n 4~3 Này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử cũng cảm thọ cảm giác lạc thọ, cảm thọ cảm giác khổ thọ, cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ.
Vi-n 5~4 Ở đây, này các Tỷ-kheo, thế nào là đặc thù, thế nào là thù thắng, thế nào là sai biệt giữa bậc Ða văn Thánh đệ tử và kẻ vô văn phàm phu?
Vi-n 6~5 —Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản …
Vi-n 7~6 —Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ thọ, sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Vị ấy cảm giác hai cảm thọ, cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm.
Vi-n 8~7 Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bị người ta bắn với mũi tên, rồi họ bắn người ấy với mũi tên thứ hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, người ấy cảm giác cảm thọ cả hai mũi tên. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ thọ; thời sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Người ấy cảm giác hai cảm thọ, cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm. Cảm xúc bởi khổ thọ ấy, người ấy cảm thấy sân hận (patigha). Do cảm thấy sân hận đối với khổ thọ ấy, sân tùy miên đối với khổ thọ được tồn chỉ tùy miên (anuseti). Cảm xúc bởi khổ thọ, người ấy hoan hỷ dục lạc. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không tìm thấy một sự xuất ly khổ thọ nào khác, ngoài dục lạc. Do hoan hỷ dục lạc ấy, tham tùy miên đối với lạc thọ tồn tại. Người ấy không như thật rõ biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy. Do người ấy không như thật rõ biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy, nên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ tồn tại. Nếu người ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc (sannutto). Nếu người ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc. Nếu người ấy cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là kẻ vô văn phàm phu bị trói buộc bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng người ấy bị trói buộc bởi đau khổ.
Vi-n 9~8 Và này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử khi cảm xúc khổ thọ thời không có sầu muộn, không có than vãn, không có khóc lóc, không có đấm ngực, không có đi đến bất tỉnh. Vị ấy chỉ cảm thọ cảm giác một cảm thọ, tức là cảm thọ về thân, không phải cảm thọ về tâm.
Vi-n 10~9 Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bị người ta bắn một mũi tên. Họ không bắn tiếp người ấy với mũi tên thứ hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, người ấy cảm giác cảm thọ của một mũi tên. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử khi cảm xúc khổ thọ; vị ấy không sầu muộn, không than vãn, không khóc lóc, không đấm ngực, không đi đến bất tỉnh. Vị ấy cảm giác chỉ một cảm thọ, cảm thọ về thân, không phải cảm thọ về tâm. Vị ấy không cảm thấy sân hận đối với khổ thọ ấy. Do không cảm thấy sân hận đối với khổ thọ ấy, sân tùy miên đối với khổ thọ không có tồn tại. Cảm xúc bởi khổ thọ, vị ấy không hoan hỷ dục lạc. Vì sao? Vì bậc Ða văn Thánh đệ tử có tuệ tri một sự xuất ly khác đối với khổ thọ, ngoài dục lạc. Vì vị ấy không hoan hỷ dục lạc, tham tùy miên đối với dục lạc không có tồn tại. Vị ấy như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của những cảm thọ ấy. Vì rằng, vị ấy như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy. Vì rằng, vị ấy như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy, đối với bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên không có tồn tại. Nếu vị ấy cảm thọ lạc thọ, vị ấy cảm thọ lạc thọ như người không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ, vị ấy cảm thọ cảm giác như người không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ, vị ấy cảm thọ cảm giác như người không bị trói buộc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo không bị trói buộc bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, ão. Ta nói rằng vị ấy không bị trói buộc bởi đau khổ.
Vi-n 11~10 Này các Tỷ-kheo, đây là sự đặc thù, đây là thù thắng, đây là sự sai biệt giữa bậc Ða văn Thánh đệ tử và kẻ vô văn phàm phu.
Vi-n 1~11 Bậc Trí tuệ Ða văn,
Lạc khổ không chi phối,
Giữa kẻ trí, phàm phu,
Thiện sai biệt rất lớn.
Vi-n 2~12 Bậc Ða văn, Tầm pháp,
Thấy đời này, đời sau,
Ái pháp không phá tâm,
Không ái, không sân hận.
Vi-n 3~13 Tùy thuận hay đối nghịch,
Tiêu tán, diệt, không còn,
Vị ấy biết con đường,
Ðường không cấu, không sầu,
Chánh trí, đoạn tái sanh,
Ðến được bờ giác ngộ.
“Assutavā, bhikkhave, puthujjano sukhampi vedanaṁ vedayati, dukkhampi vedanaṁ vedayati, adukkhamasukhampi vedanaṁ vedayati.
Sutavā, bhikkhave, ariyasāvako sukhampi vedanaṁ vedayati, dukkhampi vedanaṁ vedayati, adukkhamasukhampi vedanaṁ vedayati.
Tatra, bhikkhave, ko viseso ko adhippayāso kiṁ nānākaraṇaṁ sutavato ariyasāvakassa assutavatā puthujjanenā”ti?
Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā …pe…
assutavā, bhikkhave, puthujjano dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno socati kilamati paridevati urattāḷiṁ kandati sammohaṁ āpajjati.
So dve vedanā vedayati—
kāyikañca, cetasikañca.
Seyyathāpi, bhikkhave, purisaṁ sallena vijjheyya.
Tamenaṁ dutiyena sallena anuvedhaṁ vijjheyya.
Evañhi so, bhikkhave, puriso dvisallena vedanaṁ vedayati.
Evameva kho, bhikkhave, assutavā puthujjano dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno socati kilamati paridevati urattāḷiṁ kandati sammohaṁ āpajjati.
So dve vedanā vedayati—
kāyikañca, cetasikañca.
Tassāyeva kho pana dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno paṭighavā hoti.
Tamenaṁ dukkhāya vedanāya paṭighavantaṁ, yo dukkhāya vedanāya paṭighānusayo, so anuseti.
So dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno kāmasukhaṁ abhinandati.
Taṁ kissa hetu?
Na hi so, bhikkhave, pajānāti assutavā puthujjano aññatra kāmasukhā dukkhāya vedanāya nissaraṇaṁ,
tassa kāmasukhañca abhinandato, yo sukhāya vedanāya rāgānusayo, so anuseti.
So tāsaṁ vedanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ nappajānāti.
Tassa tāsaṁ vedanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ appajānato, yo adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayo, so anuseti.
So sukhañce vedanaṁ vedayati, saññutto naṁ vedayati.
Dukkhañce vedanaṁ vedayati, saññutto naṁ vedayati.
Adukkhamasukhañce vedanaṁ vedayati, saññutto naṁ vedayati.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘assutavā puthujjano saññutto jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, saññutto dukkhasmā’ti vadāmi.
Sutavā ca kho, bhikkhave, ariyasāvako dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno na socati, na kilamati, na paridevati, na urattāḷiṁ kandati, na sammohaṁ āpajjati.
So ekaṁ vedanaṁ vedayati—
kāyikaṁ, na cetasikaṁ.
Seyyathāpi, bhikkhave, purisaṁ sallena vijjheyya.
Tamenaṁ dutiyena sallena anuvedhaṁ na vijjheyya.
Evañhi so, bhikkhave, puriso ekasallena vedanaṁ vedayati.
Evameva kho, bhikkhave, sutavā ariyasāvako dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno na socati, na kilamati, na paridevati, na urattāḷiṁ kandati, na sammohaṁ āpajjati.
So ekaṁ vedanaṁ vedayati—
kāyikaṁ, na cetasikaṁ.
Tassāyeva kho pana dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno paṭighavā na hoti.
Tamenaṁ dukkhāya vedanāya appaṭighavantaṁ, yo dukkhāya vedanāya paṭighānusayo, so nānuseti.
So dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno kāmasukhaṁ nābhinandati.
Taṁ kissa hetu?
Pajānāti hi so, bhikkhave, sutavā ariyasāvako aññatra kāmasukhā dukkhāya vedanāya nissaraṇaṁ.
Tassa kāmasukhaṁ nābhinandato yo sukhāya vedanāya rāgānusayo, so nānuseti.
So tāsaṁ vedanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavaṁ ca nissaraṇañca yathābhūtaṁ pajānāti.
Tassa tāsaṁ vedanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ pajānato, yo adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayo, so nānuseti.
So sukhañce vedanaṁ vedayati, visaññutto naṁ vedayati.
Dukkhañce vedanaṁ vedayati, visaññutto naṁ vedayati.
Adukkhamasukhañce vedanaṁ vedayati, visaññutto naṁ vedayati.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘sutavā ariyasāvako visaññutto jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, visaññutto dukkhasmā’ti vadāmi.
Ayaṁ kho, bhikkhave, viseso, ayaṁ adhippayāso, idaṁ nānākaraṇaṁ sutavato ariyasāvakassa assutavatā puthujjanenāti.
Na vedanaṁ vedayati sapañño,
Sukhampi dukkhampi bahussutopi;
Ayañca dhīrassa puthujjanena,
Mahā viseso kusalassa hoti.
Saṅkhātadhammassa bahussutassa,
Vipassato lokamimaṁ parañca;
Iṭṭhassa dhammā na mathenti cittaṁ,
Aniṭṭhato no paṭighātameti.
Tassānurodhā athavā virodhā,
Vidhūpitā atthagatā na santi;
Padañca ñatvā virajaṁ asokaṁ,
Sammā pajānāti bhavassa pāragū”ti.
Chaṭṭhaṁ.