Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Vô thỉ, này các Tỷ-kheo, là sự luân hồi này. Ðiểm bắt đầu không thể nêu rõ đối với chúng sanh bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc, phải lưu chuyển, luân hồi.
Vi-n 4 Ví như, này các Tỷ-kheo, có con chó bị dây thằng trói chặt vào một cây cột trụ vững chắc. Nếu nó có đi, nó chỉ đi tới cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó đứng, nó chỉ đứng gần cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó ngồi, nó chỉ ngồi gần cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó nằm, nó chỉ nằm gần cây cột hay cột trụ ấy.
Vi-n 5 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu quán sắc: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”, quán thọ … quán tưởng … quán các hành … quán thức: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”. Nếu người ấy có đi, người ấy chỉ đi tới năm thủ uẩn này. Nếu người ấy đứng, người ấy chỉ đứng gần năm thủ uẩn này. Nếu người ấy ngồi, người ấy chỉ ngồi gần năm thủ uẩn này. Nếu người ấy nằm, người ấy chỉ nằm gần năm thủ uẩn này.
Vi-n 6 Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải luôn luôn quán sát tâm của mình như sau: “Trong một thời gian dài, tâm này bị tham, sân, si nhiễm ô. Do tâm nhiễm ô, này các Tỷ-kheo, chúng sanh bị nhiễm ô. Do tâm thanh tịnh, chúng sanh được thanh tịnh”.
Vi-n 7 Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy một bức họa gọi là danh họa không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Này các Tỷ-kheo, bức danh họa ấy do tâm tư họa mà thành. Do vậy, này các Tỷ-kheo, tâm còn đa dạng hơn cả danh họa ấy.
Vi-n 8 Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải luôn luôn quán sát tâm của mình như sau: “Trong một thời gian dài, tâm này bị tham, sân, si làm nhiễm ô. Do tâm nhiễm ô, này các Tỷ-kheo, chúng sanh bị nhiễm ô. Do tâm thanh tịnh, chúng sanh được thanh tịnh”.
Vi-n 9 Này các Tỷ-kheo, Ta không quán thấy một bộ loại nào khác lại đa dạng như tâm. Như các hữu tình thuộc loại bàng sanh; các hữu tình thuộc loại bàng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, do tâm tư duy (mà thành). Do vậy, này các Tỷ-kheo, tâm ấy lại đa dạng hơn các hữu tình thuộc loại bàng sanh ấy.
Vi-n 10 Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải luôn luôn quán sát tâm của mình như sau: “Trong một thời gian dài, tâm này bị tham, sân, si làm nhiễm ô. Do tâm nhiễm ô, này các Tỷ-kheo, chúng sanh bị nhiễm ô. Do tâm thanh tịnh, chúng sanh được thanh tịnh”.
Vi-n 11 Ví như, này các Tỷ-kheo, một người thợ nhuộm hay một họa sĩ, nếu người ấy có thuốc nhuộm, hay lạc, hay nghệ, hay màu xanh, hay màu đỏ tía, hay một tấm gỗ khéo bào, hay một bức tường, hay một tấm vải. Người ấy có thể vẽ hình người đàn bà hay hình người đàn ông với đầy đủ tất cả chi tiết. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu, liên tục làm cho hiện hữu sắc … thọ … tưởng … các hành … liên tục làm cho hiện hữu thức.
Vi-n 12 Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?
—Vô thường, bạch Thế Tôn.
—Thọ … tưởng … các hành … thức là thường hay vô thường?
—Vô thường, bạch Thế Tôn.
Vi-n 13-14. —Do vậy, này các Tỷ-kheo … Thấy vậy … ” … không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.
Sāvatthinidānaṁ.
“Anamataggoyaṁ, bhikkhave, saṁsāro.
Pubbā koṭi na paññāyati avijjānīvaraṇānaṁ sattānaṁ taṇhāsaṁyojanānaṁ sandhāvataṁ saṁsarataṁ.
Seyyathāpi, bhikkhave, sā gaddulabaddho daḷhe khīle vā thambhe vā upanibaddho. So gacchati cepi tameva khīlaṁ vā thambhaṁ vā upagacchati; tiṭṭhati cepi tameva khīlaṁ vā thambhaṁ vā upatiṭṭhati; nisīdati cepi tameva khīlaṁ vā thambhaṁ vā upanisīdati; nipajjati cepi tameva khīlaṁ vā thambhaṁ vā upanipajjati.
Evameva kho, bhikkhave, assutavā puthujjano rūpaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati.
Vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati.
So gacchati cepi ime pañcupādānakkhandhe upagacchati;
tiṭṭhati cepi ime pañcupādānakkhandhe upatiṭṭhati;
nisīdati cepi ime pañcupādānakkhandhe upanisīdati;
nipajjati cepi ime pañcupādānakkhandhe upanipajjati.
Tasmātiha, bhikkhave, abhikkhaṇaṁ sakaṁ cittaṁ paccavekkhitabbaṁ:
‘dīgharattamidaṁ cittaṁ saṅkiliṭṭhaṁ rāgena dosena mohenā’ti.
Cittasaṅkilesā, bhikkhave, sattā saṅkilissanti;
cittavodānā sattā visujjhanti.
Diṭṭhaṁ vo, bhikkhave, caraṇaṁ nāma cittan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Tampi kho, bhikkhave, caraṇaṁ nāma cittaṁ citteneva cittitaṁ. Tenapi kho, bhikkhave, caraṇena cittena cittaññeva cittataraṁ.
Tasmātiha, bhikkhave, abhikkhaṇaṁ sakaṁ cittaṁ paccavekkhitabbaṁ:
‘dīgharattamidaṁ cittaṁ saṅkiliṭṭhaṁ rāgena dosena mohenā’ti.
Cittasaṅkilesā, bhikkhave, sattā saṅkilissanti;
cittavodānā sattā visujjhanti.
Nāhaṁ, bhikkhave, aññaṁ ekanikāyampi samanupassāmi evaṁ cittaṁ yathayidaṁ, bhikkhave, tiracchānagatā pāṇā.
tepi kho, bhikkhave, tiracchānagatā pāṇā citteneva cittitā, tehipi kho, bhikkhave, tiracchānagatehi pāṇehi cittaññeva cittataraṁ.
Tasmātiha, bhikkhave, abhikkhaṇaṁ sakaṁ cittaṁ paccavekkhitabbaṁ:
‘dīgharattamidaṁ cittaṁ saṅkiliṭṭhaṁ rāgena dosena mohenā’ti.
Cittasaṅkilesā, bhikkhave, sattā saṅkilissanti;
cittavodānā sattā visujjhanti.
Seyyathāpi, bhikkhave, rajako vā cittakārako vā rajanāya vā lākhāya vā haliddiyā vā nīliyā vā mañjiṭṭhāya vā suparimaṭṭhe phalake vā bhittiyā vā dussapaṭṭe vā itthirūpaṁ vā purisarūpaṁ vā abhinimmineyya sabbaṅgapaccaṅgiṁ;
evameva kho, bhikkhave, assutavā puthujjano rūpaññeva abhinibbattento abhinibbatteti, vedanaññeva …pe… saññaññeva … saṅkhāreyeva … viññāṇaññeva abhinibbattento abhinibbatteti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ …pe…
“tasmātiha, bhikkhave …pe…
evaṁ passaṁ …pe…
nāparaṁ itthattāyāti pajānātī”ti.
Aṭṭhamaṁ.
SC 1“Bhikkhus, this saṁsara is without discoverable beginning. A first point is not discerned of beings roaming and wandering on hindered by ignorance and fettered by craving….
SC 2“Suppose, bhikkhus, a dog tied up on a leash was bound to a strong post or pillar. If it walks, it walks close to that post or pillar. If it stands, it stands close to that post or pillar. If it sits down, it sits down close to that post or pillar. If it lies down, it lies down close to that post or pillar.
SC 3“So too, bhikkhus, the uninstructed worldling regards form thus: ‘This is mine, this I am, this is myself.’ He regards feeling … perception … volitional formations … consciousness thus: ‘This is mine, this I am, this is myself.’ If he walks, he walks close to those five aggregates subject to clinging. If he stands, he stands close to those five aggregates subject to clinging. If he sits down, he sits down close to those five aggregates subject to clinging. If he lies down, he lies down close to those five aggregates subject to clinging.
SC 4“Therefore, bhikkhus, one should often reflect upon one’s own mind thus: ‘For a long time this mind has been defiled by lust, hatred, and delusion.’ Through the defilements of the mind beings are defiled; with the cleansing of the mind beings are purified.
SC 5“Bhikkhus, have you seen the picture called ‘Faring On’?”
“Yes, venerable sir.”
SC 6“Even that picture called ‘Faring On’ has been designed in its diversity by the mind, yet the mind is even more diverse than that picture called ‘Faring On.’
SC 7“Therefore, bhikkhus, one should often reflect upon one’s own mind thus: ‘For a long time this mind has been defiled by lust, hatred, and delusion.’ Through the defilements of the mind beings are defiled; with the cleansing of the mind beings are purified. sn.iii.152
SC 8“Bhikkhus, I do not see any other order of living beings so diversified as those in the animal realm. Even those beings in the animal realm have been diversified by the mind, yet the mind is even more diverse than those beings in the animal realm.
SC 9“Therefore, bhikkhus, one should often reflect upon one’s own mind thus: ‘For a long time this mind has been defiled by lust, hatred, and delusion.’ Through the defilements of the mind beings are defiled; with the cleansing of the mind beings are purified.
SC 10“Suppose, bhikkhus, an artist or a painter, using dye or lac or turmeric or indigo or crimson, would create the figure of a man or a woman complete in all its features on a well-polished plank or wall or canvas. So too, when the uninstructed worldling produces anything, it is only form that he produces; only feeling that he produces; only perception that he produces; only volitional formations that he produces; only consciousness that he produces.
SC 11“What do you think, bhikkhus, is form permanent or impermanent?”—“Impermanent, venerable sir.”…—“Therefore … Seeing thus … He understands: ‘… there is no more for this state of being.’”
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Vô thỉ, này các Tỷ-kheo, là sự luân hồi này. Ðiểm bắt đầu không thể nêu rõ đối với chúng sanh bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc, phải lưu chuyển, luân hồi.
Vi-n 4 Ví như, này các Tỷ-kheo, có con chó bị dây thằng trói chặt vào một cây cột trụ vững chắc. Nếu nó có đi, nó chỉ đi tới cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó đứng, nó chỉ đứng gần cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó ngồi, nó chỉ ngồi gần cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó nằm, nó chỉ nằm gần cây cột hay cột trụ ấy.
Vi-n 5 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu quán sắc: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”, quán thọ … quán tưởng … quán các hành … quán thức: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”. Nếu người ấy có đi, người ấy chỉ đi tới năm thủ uẩn này. Nếu người ấy đứng, người ấy chỉ đứng gần năm thủ uẩn này. Nếu người ấy ngồi, người ấy chỉ ngồi gần năm thủ uẩn này. Nếu người ấy nằm, người ấy chỉ nằm gần năm thủ uẩn này.
Vi-n 6 Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải luôn luôn quán sát tâm của mình như sau: “Trong một thời gian dài, tâm này bị tham, sân, si nhiễm ô. Do tâm nhiễm ô, này các Tỷ-kheo, chúng sanh bị nhiễm ô. Do tâm thanh tịnh, chúng sanh được thanh tịnh”.
Vi-n 7 Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy một bức họa gọi là danh họa không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Này các Tỷ-kheo, bức danh họa ấy do tâm tư họa mà thành. Do vậy, này các Tỷ-kheo, tâm còn đa dạng hơn cả danh họa ấy.
Vi-n 8 Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải luôn luôn quán sát tâm của mình như sau: “Trong một thời gian dài, tâm này bị tham, sân, si làm nhiễm ô. Do tâm nhiễm ô, này các Tỷ-kheo, chúng sanh bị nhiễm ô. Do tâm thanh tịnh, chúng sanh được thanh tịnh”.
Vi-n 9 Này các Tỷ-kheo, Ta không quán thấy một bộ loại nào khác lại đa dạng như tâm. Như các hữu tình thuộc loại bàng sanh; các hữu tình thuộc loại bàng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, do tâm tư duy (mà thành). Do vậy, này các Tỷ-kheo, tâm ấy lại đa dạng hơn các hữu tình thuộc loại bàng sanh ấy.
Vi-n 10 Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải luôn luôn quán sát tâm của mình như sau: “Trong một thời gian dài, tâm này bị tham, sân, si làm nhiễm ô. Do tâm nhiễm ô, này các Tỷ-kheo, chúng sanh bị nhiễm ô. Do tâm thanh tịnh, chúng sanh được thanh tịnh”.
Vi-n 11 Ví như, này các Tỷ-kheo, một người thợ nhuộm hay một họa sĩ, nếu người ấy có thuốc nhuộm, hay lạc, hay nghệ, hay màu xanh, hay màu đỏ tía, hay một tấm gỗ khéo bào, hay một bức tường, hay một tấm vải. Người ấy có thể vẽ hình người đàn bà hay hình người đàn ông với đầy đủ tất cả chi tiết. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu, liên tục làm cho hiện hữu sắc … thọ … tưởng … các hành … liên tục làm cho hiện hữu thức.
Vi-n 12 Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?
—Vô thường, bạch Thế Tôn.
—Thọ … tưởng … các hành … thức là thường hay vô thường?
—Vô thường, bạch Thế Tôn.
Vi-n 13-14. —Do vậy, này các Tỷ-kheo … Thấy vậy … ” … không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.
Sāvatthinidānaṁ.
“Anamataggoyaṁ, bhikkhave, saṁsāro.
Pubbā koṭi na paññāyati avijjānīvaraṇānaṁ sattānaṁ taṇhāsaṁyojanānaṁ sandhāvataṁ saṁsarataṁ.
Seyyathāpi, bhikkhave, sā gaddulabaddho daḷhe khīle vā thambhe vā upanibaddho. So gacchati cepi tameva khīlaṁ vā thambhaṁ vā upagacchati; tiṭṭhati cepi tameva khīlaṁ vā thambhaṁ vā upatiṭṭhati; nisīdati cepi tameva khīlaṁ vā thambhaṁ vā upanisīdati; nipajjati cepi tameva khīlaṁ vā thambhaṁ vā upanipajjati.
Evameva kho, bhikkhave, assutavā puthujjano rūpaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati.
Vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati.
So gacchati cepi ime pañcupādānakkhandhe upagacchati;
tiṭṭhati cepi ime pañcupādānakkhandhe upatiṭṭhati;
nisīdati cepi ime pañcupādānakkhandhe upanisīdati;
nipajjati cepi ime pañcupādānakkhandhe upanipajjati.
Tasmātiha, bhikkhave, abhikkhaṇaṁ sakaṁ cittaṁ paccavekkhitabbaṁ:
‘dīgharattamidaṁ cittaṁ saṅkiliṭṭhaṁ rāgena dosena mohenā’ti.
Cittasaṅkilesā, bhikkhave, sattā saṅkilissanti;
cittavodānā sattā visujjhanti.
Diṭṭhaṁ vo, bhikkhave, caraṇaṁ nāma cittan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Tampi kho, bhikkhave, caraṇaṁ nāma cittaṁ citteneva cittitaṁ. Tenapi kho, bhikkhave, caraṇena cittena cittaññeva cittataraṁ.
Tasmātiha, bhikkhave, abhikkhaṇaṁ sakaṁ cittaṁ paccavekkhitabbaṁ:
‘dīgharattamidaṁ cittaṁ saṅkiliṭṭhaṁ rāgena dosena mohenā’ti.
Cittasaṅkilesā, bhikkhave, sattā saṅkilissanti;
cittavodānā sattā visujjhanti.
Nāhaṁ, bhikkhave, aññaṁ ekanikāyampi samanupassāmi evaṁ cittaṁ yathayidaṁ, bhikkhave, tiracchānagatā pāṇā.
tepi kho, bhikkhave, tiracchānagatā pāṇā citteneva cittitā, tehipi kho, bhikkhave, tiracchānagatehi pāṇehi cittaññeva cittataraṁ.
Tasmātiha, bhikkhave, abhikkhaṇaṁ sakaṁ cittaṁ paccavekkhitabbaṁ:
‘dīgharattamidaṁ cittaṁ saṅkiliṭṭhaṁ rāgena dosena mohenā’ti.
Cittasaṅkilesā, bhikkhave, sattā saṅkilissanti;
cittavodānā sattā visujjhanti.
Seyyathāpi, bhikkhave, rajako vā cittakārako vā rajanāya vā lākhāya vā haliddiyā vā nīliyā vā mañjiṭṭhāya vā suparimaṭṭhe phalake vā bhittiyā vā dussapaṭṭe vā itthirūpaṁ vā purisarūpaṁ vā abhinimmineyya sabbaṅgapaccaṅgiṁ;
evameva kho, bhikkhave, assutavā puthujjano rūpaññeva abhinibbattento abhinibbatteti, vedanaññeva …pe… saññaññeva … saṅkhāreyeva … viññāṇaññeva abhinibbattento abhinibbatteti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ …pe…
“tasmātiha, bhikkhave …pe…
evaṁ passaṁ …pe…
nāparaṁ itthattāyāti pajānātī”ti.
Aṭṭhamaṁ.