Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở Kosambi, trên bờ sông Gangà.
Vi-n 2 Thế Tôn thấy một khúc gỗ lớn trôi theo dòng nước sông Hằng, thấy vậy liền gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy khúc gỗ to lớn này đang trôi theo dòng nước sông Hằng không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, nếu khúc gỗ không đâm vào bờ bên này, không đâm vào bờ bên kia, không chìm giữa dòng, không mắc cạn trên miếng đất nổi, không bị loài Người nhặt lấy, không bị phi nhân nhặt lấy, không bị mắc vào xoáy nước, không bị mục bên trong; như vậy, này các Tỷ-kheo, khúc gỗ ấy sẽ hướng về biển, sẽ xuôi theo biển, sẽ nghiêng nhập vào biển. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, dòng sông Hằng hướng về biển, xuôi theo biển, nghiêng trôi về biển. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu các Ông không đâm vào bờ bên này, không đâm vào bờ bên kia, không chìm giữa dòng, không mắc cạn trên miếng đất nổi, không bị loài Người nhặt lấy, không bị phi nhân nhặt lấy, không bị mắc vào xoáy nước, không bị mục bên trong; như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông sẽ hướng về Niết-bàn, sẽ xuôi theo Niết-bàn, sẽ nghiêng nhập vào Niết-bàn. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, chánh kiến hướng về Niết-bàn, xuôi theo Niết-bàn, nghiêng nhập vào Niết-bàn.
Vi-n 4 Khi được nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, bờ bên này là gì? Bờ bên kia là gì? Thế nào là chìm giữa dòng? Thế nào là mắc cạn trên miếng đất nổi? Thế nào là bị loài Người nhặt lấy? Thế nào là bị phi nhân nhặt lấy? Thế nào là bị mắc vào xoáy nước? Thế nào là bị mục nát bên trong?
Vi-n 5 —Bờ bên này, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ này.
Vi-n 6 Bờ bên kia, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ.
Vi-n 7 Bị chìm giữa dòng, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với hỷ tham.
Vi-n 8 Bị mắc cạn trên miếng đất nổi, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với ngã mạn.
Vi-n 9 Và này Tỷ-kheo, thế nào là bị người nhặt lấy? Ở đây, Tỷ-kheo sống quá liên hệ với cư sĩ, chung vui, chung buồn, an lạc khi họ an lạc, đau khổ khi họ bị đau khổ, tự trói buộc mình trong các công việc phải làm được khởi lên của họ. Ðây gọi là Tỷ-kheo bị loài Người nhặt lấy.
Vi-n 10 Và thế nào, này Tỷ-kheo, là bị phi nhân nhặt lấy? Ở đây, Tỷ-kheo sống Phạm hạnh với ước nguyện được sanh cộng trú với một hạng chư Thiên: “Mong rằng với giới luật này, với cấm giới này, với khổ hạnh này, với Phạm hạnh này, ta sẽ trở thành Thiên nhân hay một loài chư Thiên!” Ðây, này Tỷ-kheo, được gọi là bị phi nhân nhặt lấy.
Vi-n 11 Bị mắc vào xoáy nước, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với năm dục công đức.
Vi-n 12 Và này Tỷ-kheo, thế nào là bị mục nát bên trong? Ở đây, này Tỷ-kheo, có người thọ tà giới, theo ác pháp, bất tịnh, có những hành vi đáng nghi ngờ, có những hành động che đậy, không phải Sa-môn nhưng hiện tướng Sa-môn, không phải Phạm hạnh nhưng hiện tướng Phạm hạnh, nội tâm bị hủ bại, đầy dục vọng, là một đống rác bẩn. Ðây, này Tỷ-kheo, được gọi là bị mục nát bên trong.
Vi-n 13 Lúc bấy giờ Nanda, người chăn bò, đứng không xa Thế Tôn bao nhiêu.
Vi-n 14 Rồi người chăn bò Nanda bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con không đâm vào bờ bên này, con không đâm vào bờ bên kia, con không bị chìm giữa dòng, con không bị mắc cạn trên miếng đất nổi, con không bị loài Người nhặt lấy, con không bị phi nhân nhặt lấy, con không bị mắc vào xoáy nước, con không bị mục nát bên trong. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới.
Vi-n 15 —Này Nanda, hãy đem trả các con bò cho người chủ.
—Bạch Thế Tôn, chúng sẽ đi trở về. Các bò mẹ đang trông mong gặp lại các con bê của chúng.
—Tuy vậy, này Nanda, Ông hãy trả lui các con bò cho những người chủ.
Vi-n 16 Rồi Nanda, người chăn bò, sau khi trả lui các con bò cho những người chủ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, các con bò đã được trả lui cho những người chủ. Bạch Thế Tôn, xin hãy cho con được xuất gia với Thế Tôn. Hãy cho con thọ đại giới.
Vi-n 17 Nanda, người chăn bò được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới. Sau khi thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Nanda sống một mình, an tịnh …
Vi-n 18 Tôn giả Nanda trở thành một vị A-la-hán nữa.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kosambiyaṁ viharati gaṅgāya nadiyā tīre.
Addasā kho bhagavā mahantaṁ dārukkhandhaṁ gaṅgāya nadiyā sotena vuyhamānaṁ.
Disvāna bhikkhū āmantesi:
“passatha no tumhe, bhikkhave, amuṁ mahantaṁ dārukkhandhaṁ gaṅgāya nadiyā sotena vuyhamānan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Sace so, bhikkhave, dārukkhandho na orimaṁ tīraṁ upagacchati, na pārimaṁ tīraṁ upagacchati, na majjhe saṁsīdissati, na thale ussīdissati, na manussaggāho gahessati, na amanussaggāho gahessati, na āvaṭṭaggāho gahessati, na antopūti bhavissati;
evañhi so, bhikkhave, dārukkhandho samuddaninno bhavissati samuddapoṇo samuddapabbhāro.
Taṁ kissa hetu?
Samuddaninno, bhikkhave, gaṅgāya nadiyā soto samuddapoṇo samuddapabbhāro.
Evameva kho, bhikkhave, sace tumhepi na orimaṁ tīraṁ upagacchatha, na pārimaṁ tīraṁ upagacchatha;
na majjhe saṁsīdissatha, na thale ussīdissatha, na manussaggāho gahessati, na amanussaggāho gahessati, na āvaṭṭaggāho gahessati, na antopūtī bhavissatha;
evaṁ tumhe, bhikkhave, nibbānaninnā bhavissatha nibbānapoṇā nibbānapabbhārā.
Taṁ kissa hetu?
Nibbānaninnā, bhikkhave, sammādiṭṭhi nibbānapoṇā nibbānapabbhārā”ti.
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, bhante, orimaṁ tīraṁ, kiṁ pārimaṁ tīraṁ, ko majjhe saṁsādo, ko thale ussādo, ko manussaggāho, ko amanussaggāho, ko āvaṭṭaggāho, ko antopūtibhāvo”ti?
“‘Orimaṁ tīran’ti kho, bhikkhu, channetaṁ ajjhattikānaṁ āyatanānaṁ adhivacanaṁ.
‘Pārimaṁ tīran’ti kho, bhikkhu, channetaṁ bāhirānaṁ āyatanānaṁ adhivacanaṁ.
‘Majjhe saṁsādo’ti kho, bhikkhu, nandīrāgassetaṁ adhivacanaṁ.
‘Thale ussādo’ti kho, bhikkhu, asmimānassetaṁ adhivacanaṁ.
Katamo ca, bhikkhu, manussaggāho?
Idha, bhikkhu, gihīhi saṁsaṭṭho viharati, sahanandī sahasokī, sukhitesu sukhito, dukkhitesu dukkhito, uppannesu kiccakaraṇīyesu attanā tesu yogaṁ āpajjati.
Ayaṁ vuccati, bhikkhu, manussaggāho.
Katamo ca, bhikkhu, amanussaggāho?
Idha, bhikkhu, ekacco aññataraṁ devanikāyaṁ paṇidhāya brahmacariyaṁ carati: ‘imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’ti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhu, amanussaggāho.
‘Āvaṭṭaggāho’ti kho, bhikkhu, pañcannetaṁ kāmaguṇānaṁ adhivacanaṁ.
Katamo ca, bhikkhu, antopūtibhāvo?
Idha, bhikkhu, ekacco dussīlo hoti pāpadhammo asucisaṅkassarasamācāro paṭicchannakammanto assamaṇo samaṇapaṭiñño abrahmacārī brahmacāripaṭiñño antopūti avassuto kasambujāto.
Ayaṁ vuccati, bhikkhu, ‘antopūtibhāvo’”ti.
Tena kho pana samayena nando gopālako bhagavato avidūre ṭhito hoti.
Atha kho nando gopālako bhagavantaṁ etadavoca:
“ahaṁ kho, bhante, na orimaṁ tīraṁ upagacchāmi, na pārimaṁ tīraṁ upagacchāmi, na majjhe saṁsīdissāmi, na thale ussīdissāmi, na maṁ manussaggāho gahessati, na amanussaggāho gahessati, na āvaṭṭaggāho gahessati, na antopūti bhavissāmi.
Labheyyāhaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadan”ti.
“Tena hi tvaṁ, nanda, sāmikānaṁ gāvo niyyātehī”ti.
“Gamissanti, bhante, gāvo vacchagiddhiniyo”ti.
“Niyyāteheva tvaṁ, nanda, sāmikānaṁ gāvo”ti.
Atha kho nando gopālako sāmikānaṁ gāvo niyyātetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca:
“niyyātitā, bhante, sāmikānaṁ gāvo.
Labheyyāhaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadan”ti.
Alattha kho nando gopālako bhagavato santike pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ.
Acirūpasampanno ca panāyasmā nando eko vūpakaṭṭho …pe…
aññataro ca panāyasmā nando arahataṁ ahosīti.
Catutthaṁ.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling at Kosambī on the bank of the river Ganges. The Blessed One saw a great log being carried along by the current of the river Ganges, and he addressed the bhikkhus thus: “Do you see, bhikkhus, that great log being carried along by the current of the river Ganges?”
“Yes, venerable sir.”
SC 2“If, bhikkhus, that log does not veer towards the near shore, does not veer towards the far shore, does not sink in mid-stream, does not get cast up on high ground, does not get caught by human beings, does not get caught by nonhuman beings, does not get caught in a whirlpool, and does not become inwardly rotten, it will slant, slope, and incline towards the ocean. For what reason? Because the current of the river Ganges slants, slopes, and inclines towards the ocean.
SC 3“So too, bhikkhus, if you do not veer towards the near shore, do not veer towards the far shore, do not sink in mid-stream, do not get cast up on high ground, do not get caught by human beings, do not get caught by nonhuman beings, do not get caught in a whirlpool, and do not become inwardly rotten, sn.iv.180 you will slant, slope, and incline towards Nibbāna. For what reason? Because right view slants, slopes, and inclines towards Nibbāna.”
SC 4When this was said, a certain bhikkhu asked the Blessed One: “What, venerable sir, is the near shore? What is the far shore? What is sinking in mid-stream? What is getting cast up on high ground? What is getting caught by human beings, what is getting caught by nonhuman beings, what is getting caught in a whirlpool? What is inward rottenness?”
SC 5“‘The near shore,’ bhikkhu: this is a designation for the six internal sense bases. ‘The far shore’: this is a designation for the six external sense bases. ‘Sinking in mid-stream’: this is a designation for delight and lust. ‘Getting cast up on high ground’: this is a designation for the conceit ‘I am.’
SC 6“And what, bhikkhu, is getting caught by human beings? Here, someone lives in association with laypeople; he rejoices with them and sorrows with them, he is happy when they are happy and sad when they are sad, and he involves himself in their affairs and duties. This is called getting caught by human beings.
SC 7“And what, bhikkhu, is getting caught by nonhuman beings? Here, someone lives the holy life with the aspiration to be reborn into a certain order of devas, thinking: ‘By this virtue or vow or austerity or holy life I will become a deva or one among the devas.’ This is called getting caught by nonhuman beings.
SC 8“‘Getting caught in a whirlpool’: this, bhikkhu, is a designation for the five cords of sensual pleasure.
SC 9“And what, bhikkhu, is inward rottenness? Here someone is immoral, one of evil character, of impure and suspect behaviour, secretive in his acts, no ascetic though claiming to be one, sn.iv.181 not a celibate though claiming to be one, inwardly rotten, corrupt, depraved. This is called inward rottenness.”
SC 10Now on that occasion the cowherd Nanda was standing near the Blessed One. He then said to the Blessed One: “Venerable sir, I will not veer towards the near shore, I will not veer towards the far shore, I will not sink in mid-stream, I will not get cast up on high ground, I will not get caught by human beings, I will not get caught by nonhuman beings, I will not get caught in a whirlpool, I will not become inwardly rotten. May I receive the going forth under the Blessed One, may I receive the higher ordination?”
SC 11“In that case, Nanda, return the cows to their owners.”
SC 12“The cows will go back of their own accord, venerable sir, out of attachment to the calves.”
“Return the cows to their owners, Nanda.”
SC 13Then the cowherd Nanda returned the cows to their owners, came back to the Blessed One, and said: “The cows have been returned to their owners, venerable sir. May I receive the going forth under the Blessed One, may I receive the higher ordination?”
SC 14Then the cowherd Nanda received the going forth under the Blessed One, and he received the higher ordination. And soon, not long after his higher ordination, dwelling alone, withdrawn, diligent, ardent, and resolute … the Venerable Nanda became one of the arahants.”
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở Kosambi, trên bờ sông Gangà.
Vi-n 2 Thế Tôn thấy một khúc gỗ lớn trôi theo dòng nước sông Hằng, thấy vậy liền gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy khúc gỗ to lớn này đang trôi theo dòng nước sông Hằng không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, nếu khúc gỗ không đâm vào bờ bên này, không đâm vào bờ bên kia, không chìm giữa dòng, không mắc cạn trên miếng đất nổi, không bị loài Người nhặt lấy, không bị phi nhân nhặt lấy, không bị mắc vào xoáy nước, không bị mục bên trong; như vậy, này các Tỷ-kheo, khúc gỗ ấy sẽ hướng về biển, sẽ xuôi theo biển, sẽ nghiêng nhập vào biển. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, dòng sông Hằng hướng về biển, xuôi theo biển, nghiêng trôi về biển. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu các Ông không đâm vào bờ bên này, không đâm vào bờ bên kia, không chìm giữa dòng, không mắc cạn trên miếng đất nổi, không bị loài Người nhặt lấy, không bị phi nhân nhặt lấy, không bị mắc vào xoáy nước, không bị mục bên trong; như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông sẽ hướng về Niết-bàn, sẽ xuôi theo Niết-bàn, sẽ nghiêng nhập vào Niết-bàn. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, chánh kiến hướng về Niết-bàn, xuôi theo Niết-bàn, nghiêng nhập vào Niết-bàn.
Vi-n 4 Khi được nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, bờ bên này là gì? Bờ bên kia là gì? Thế nào là chìm giữa dòng? Thế nào là mắc cạn trên miếng đất nổi? Thế nào là bị loài Người nhặt lấy? Thế nào là bị phi nhân nhặt lấy? Thế nào là bị mắc vào xoáy nước? Thế nào là bị mục nát bên trong?
Vi-n 5 —Bờ bên này, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ này.
Vi-n 6 Bờ bên kia, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ.
Vi-n 7 Bị chìm giữa dòng, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với hỷ tham.
Vi-n 8 Bị mắc cạn trên miếng đất nổi, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với ngã mạn.
Vi-n 9 Và này Tỷ-kheo, thế nào là bị người nhặt lấy? Ở đây, Tỷ-kheo sống quá liên hệ với cư sĩ, chung vui, chung buồn, an lạc khi họ an lạc, đau khổ khi họ bị đau khổ, tự trói buộc mình trong các công việc phải làm được khởi lên của họ. Ðây gọi là Tỷ-kheo bị loài Người nhặt lấy.
Vi-n 10 Và thế nào, này Tỷ-kheo, là bị phi nhân nhặt lấy? Ở đây, Tỷ-kheo sống Phạm hạnh với ước nguyện được sanh cộng trú với một hạng chư Thiên: “Mong rằng với giới luật này, với cấm giới này, với khổ hạnh này, với Phạm hạnh này, ta sẽ trở thành Thiên nhân hay một loài chư Thiên!” Ðây, này Tỷ-kheo, được gọi là bị phi nhân nhặt lấy.
Vi-n 11 Bị mắc vào xoáy nước, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với năm dục công đức.
Vi-n 12 Và này Tỷ-kheo, thế nào là bị mục nát bên trong? Ở đây, này Tỷ-kheo, có người thọ tà giới, theo ác pháp, bất tịnh, có những hành vi đáng nghi ngờ, có những hành động che đậy, không phải Sa-môn nhưng hiện tướng Sa-môn, không phải Phạm hạnh nhưng hiện tướng Phạm hạnh, nội tâm bị hủ bại, đầy dục vọng, là một đống rác bẩn. Ðây, này Tỷ-kheo, được gọi là bị mục nát bên trong.
Vi-n 13 Lúc bấy giờ Nanda, người chăn bò, đứng không xa Thế Tôn bao nhiêu.
Vi-n 14 Rồi người chăn bò Nanda bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con không đâm vào bờ bên này, con không đâm vào bờ bên kia, con không bị chìm giữa dòng, con không bị mắc cạn trên miếng đất nổi, con không bị loài Người nhặt lấy, con không bị phi nhân nhặt lấy, con không bị mắc vào xoáy nước, con không bị mục nát bên trong. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới.
Vi-n 15 —Này Nanda, hãy đem trả các con bò cho người chủ.
—Bạch Thế Tôn, chúng sẽ đi trở về. Các bò mẹ đang trông mong gặp lại các con bê của chúng.
—Tuy vậy, này Nanda, Ông hãy trả lui các con bò cho những người chủ.
Vi-n 16 Rồi Nanda, người chăn bò, sau khi trả lui các con bò cho những người chủ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, các con bò đã được trả lui cho những người chủ. Bạch Thế Tôn, xin hãy cho con được xuất gia với Thế Tôn. Hãy cho con thọ đại giới.
Vi-n 17 Nanda, người chăn bò được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới. Sau khi thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Nanda sống một mình, an tịnh …
Vi-n 18 Tôn giả Nanda trở thành một vị A-la-hán nữa.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kosambiyaṁ viharati gaṅgāya nadiyā tīre.
Addasā kho bhagavā mahantaṁ dārukkhandhaṁ gaṅgāya nadiyā sotena vuyhamānaṁ.
Disvāna bhikkhū āmantesi:
“passatha no tumhe, bhikkhave, amuṁ mahantaṁ dārukkhandhaṁ gaṅgāya nadiyā sotena vuyhamānan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Sace so, bhikkhave, dārukkhandho na orimaṁ tīraṁ upagacchati, na pārimaṁ tīraṁ upagacchati, na majjhe saṁsīdissati, na thale ussīdissati, na manussaggāho gahessati, na amanussaggāho gahessati, na āvaṭṭaggāho gahessati, na antopūti bhavissati;
evañhi so, bhikkhave, dārukkhandho samuddaninno bhavissati samuddapoṇo samuddapabbhāro.
Taṁ kissa hetu?
Samuddaninno, bhikkhave, gaṅgāya nadiyā soto samuddapoṇo samuddapabbhāro.
Evameva kho, bhikkhave, sace tumhepi na orimaṁ tīraṁ upagacchatha, na pārimaṁ tīraṁ upagacchatha;
na majjhe saṁsīdissatha, na thale ussīdissatha, na manussaggāho gahessati, na amanussaggāho gahessati, na āvaṭṭaggāho gahessati, na antopūtī bhavissatha;
evaṁ tumhe, bhikkhave, nibbānaninnā bhavissatha nibbānapoṇā nibbānapabbhārā.
Taṁ kissa hetu?
Nibbānaninnā, bhikkhave, sammādiṭṭhi nibbānapoṇā nibbānapabbhārā”ti.
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, bhante, orimaṁ tīraṁ, kiṁ pārimaṁ tīraṁ, ko majjhe saṁsādo, ko thale ussādo, ko manussaggāho, ko amanussaggāho, ko āvaṭṭaggāho, ko antopūtibhāvo”ti?
“‘Orimaṁ tīran’ti kho, bhikkhu, channetaṁ ajjhattikānaṁ āyatanānaṁ adhivacanaṁ.
‘Pārimaṁ tīran’ti kho, bhikkhu, channetaṁ bāhirānaṁ āyatanānaṁ adhivacanaṁ.
‘Majjhe saṁsādo’ti kho, bhikkhu, nandīrāgassetaṁ adhivacanaṁ.
‘Thale ussādo’ti kho, bhikkhu, asmimānassetaṁ adhivacanaṁ.
Katamo ca, bhikkhu, manussaggāho?
Idha, bhikkhu, gihīhi saṁsaṭṭho viharati, sahanandī sahasokī, sukhitesu sukhito, dukkhitesu dukkhito, uppannesu kiccakaraṇīyesu attanā tesu yogaṁ āpajjati.
Ayaṁ vuccati, bhikkhu, manussaggāho.
Katamo ca, bhikkhu, amanussaggāho?
Idha, bhikkhu, ekacco aññataraṁ devanikāyaṁ paṇidhāya brahmacariyaṁ carati: ‘imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’ti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhu, amanussaggāho.
‘Āvaṭṭaggāho’ti kho, bhikkhu, pañcannetaṁ kāmaguṇānaṁ adhivacanaṁ.
Katamo ca, bhikkhu, antopūtibhāvo?
Idha, bhikkhu, ekacco dussīlo hoti pāpadhammo asucisaṅkassarasamācāro paṭicchannakammanto assamaṇo samaṇapaṭiñño abrahmacārī brahmacāripaṭiñño antopūti avassuto kasambujāto.
Ayaṁ vuccati, bhikkhu, ‘antopūtibhāvo’”ti.
Tena kho pana samayena nando gopālako bhagavato avidūre ṭhito hoti.
Atha kho nando gopālako bhagavantaṁ etadavoca:
“ahaṁ kho, bhante, na orimaṁ tīraṁ upagacchāmi, na pārimaṁ tīraṁ upagacchāmi, na majjhe saṁsīdissāmi, na thale ussīdissāmi, na maṁ manussaggāho gahessati, na amanussaggāho gahessati, na āvaṭṭaggāho gahessati, na antopūti bhavissāmi.
Labheyyāhaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadan”ti.
“Tena hi tvaṁ, nanda, sāmikānaṁ gāvo niyyātehī”ti.
“Gamissanti, bhante, gāvo vacchagiddhiniyo”ti.
“Niyyāteheva tvaṁ, nanda, sāmikānaṁ gāvo”ti.
Atha kho nando gopālako sāmikānaṁ gāvo niyyātetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca:
“niyyātitā, bhante, sāmikānaṁ gāvo.
Labheyyāhaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadan”ti.
Alattha kho nando gopālako bhagavato santike pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ.
Acirūpasampanno ca panāyasmā nando eko vūpakaṭṭho …pe…
aññataro ca panāyasmā nando arahataṁ ahosīti.
Catutthaṁ.