Vi-n 1 Trú ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Nanda, con di mẫu của Phật, đắp những y khéo ủi, khéo là, bôi vẽ mắt, cầm bát sáng chói, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Thế Tôn nói với Tôn giả Nanda đang ngồi xuống một bên:
Vi-n 3 —Như vậy không xứng đáng cho Ông, này Nanda, là con một lương gia, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, lại mang những y khéo ủi, khéo là, bôi vẽ con mắt và mang bát sáng chói. Như vậy là xứng đáng cho Ông, này Nanda, là con một lương gia, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, tức là sống trong rừng, sống đi khất thực, sống mặc áo phấn tảo, và sống không mong đợi các dục vọng.
Vi-n 4 Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Bậc Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Ta mong được nhìn thấy,
Nanda sống trong rừng,
Mặc áo phấn tảo y,
Sống với những đồ ăn,
Biết là đã vứt bỏ,
Không mong chờ dục vọng.
Vi-n 5 Rồi Tôn giả Nanda, sau một thời gian, trở thành một vị sống trong rừng, ăn đồ ăn khất thực, mang y phấn tảo, không mong đợi các dục vọng.
Sāvatthiyaṁ viharati.
Atha kho āyasmā nando bhagavato mātucchāputto ākoṭitapaccākoṭitāni cīvarāni pārupitvā akkhīni añjetvā acchaṁ pattaṁ gahetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ nandaṁ bhagavā etadavoca:
“na kho te taṁ, nanda, patirūpaṁ kulaputtassa saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitassa, yaṁ tvaṁ ākoṭitapaccākoṭitāni cīvarāni pārupeyyāsi, akkhīni ca añjeyyāsi, acchañca pattaṁ dhāreyyāsi.
Etaṁ kho te, nanda, patirūpaṁ kulaputtassa saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitassa, yaṁ tvaṁ āraññiko ca assasi, piṇḍapātiko ca paṁsukūliko ca kāmesu ca anapekkho vihareyyāsī”ti.
Idamavoca bhagavā …pe…
satthā:
“Kadāhaṁ nandaṁ passeyyaṁ,
āraññaṁ paṁsukūlikaṁ;
Aññātuñchena yāpentaṁ,
kāmesu anapekkhinan”ti.
Atha kho āyasmā nando aparena samayena āraññiko ca piṇḍapātiko ca paṁsukūliko ca kāmesu ca anapekkho vihāsīti.
Aṭṭhamaṁ.
SC 1At Savatthi. Then the Venerable Nanda, the Blessed One’s maternal cousin, put on well-pressed and well-ironed robes, painted his eyes, took a glazed bowl, and approached the Blessed One. Having paid homage to the Blessed One, he sat down to one side, and the Blessed One said to him:
SC 2“Nanda, this is not proper for you, a clansman who has gone forth out of faith from the household life into homelessness, that you wear well-pressed and well-ironed robes, paint your eyes, and carry a glazed bowl. This is proper for you, Nanda, a clansman who has gone forth out of faith from the household life into homelessness, that you be a forest dweller, an almsfood eater, a rag-robes wearer, and that you dwell indifferent to sensual pleasures.”
SC 3This is what the Blessed One said … who further said this:
SC 4“When shall I see Nanda as a forest dweller,
Wearing robes stitched from rags,
Subsisting on the scraps of strangers,
Indifferent towards sensual pleasures?”
SC 5Then, some time later, the Venerable Nanda became a forest dweller, an almsfood eater, a rag-robes wearer, and he dwelt indifferent to sensual pleasures.
Vi-n 1 Trú ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Nanda, con di mẫu của Phật, đắp những y khéo ủi, khéo là, bôi vẽ mắt, cầm bát sáng chói, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Thế Tôn nói với Tôn giả Nanda đang ngồi xuống một bên:
Vi-n 3 —Như vậy không xứng đáng cho Ông, này Nanda, là con một lương gia, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, lại mang những y khéo ủi, khéo là, bôi vẽ con mắt và mang bát sáng chói. Như vậy là xứng đáng cho Ông, này Nanda, là con một lương gia, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, tức là sống trong rừng, sống đi khất thực, sống mặc áo phấn tảo, và sống không mong đợi các dục vọng.
Vi-n 4 Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Bậc Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Ta mong được nhìn thấy,
Nanda sống trong rừng,
Mặc áo phấn tảo y,
Sống với những đồ ăn,
Biết là đã vứt bỏ,
Không mong chờ dục vọng.
Vi-n 5 Rồi Tôn giả Nanda, sau một thời gian, trở thành một vị sống trong rừng, ăn đồ ăn khất thực, mang y phấn tảo, không mong đợi các dục vọng.
Sāvatthiyaṁ viharati.
Atha kho āyasmā nando bhagavato mātucchāputto ākoṭitapaccākoṭitāni cīvarāni pārupitvā akkhīni añjetvā acchaṁ pattaṁ gahetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ nandaṁ bhagavā etadavoca:
“na kho te taṁ, nanda, patirūpaṁ kulaputtassa saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitassa, yaṁ tvaṁ ākoṭitapaccākoṭitāni cīvarāni pārupeyyāsi, akkhīni ca añjeyyāsi, acchañca pattaṁ dhāreyyāsi.
Etaṁ kho te, nanda, patirūpaṁ kulaputtassa saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitassa, yaṁ tvaṁ āraññiko ca assasi, piṇḍapātiko ca paṁsukūliko ca kāmesu ca anapekkho vihareyyāsī”ti.
Idamavoca bhagavā …pe…
satthā:
“Kadāhaṁ nandaṁ passeyyaṁ,
āraññaṁ paṁsukūlikaṁ;
Aññātuñchena yāpentaṁ,
kāmesu anapekkhinan”ti.
Atha kho āyasmā nando aparena samayena āraññiko ca piṇḍapātiko ca paṁsukūliko ca kāmesu ca anapekkho vihāsīti.
Aṭṭhamaṁ.