Vi-n 1 Một thời Tôn giả Mahà Kaccāna trú ở giữa dân chúng Avanti, tại Makkarakata, tại một chòi lá trong rừng.
Vi-n 2 Rồi một số đông đệ tử của Bà-la-môn Lohicca, là những thanh niên lượm củi, đi đến chòi lá trong rừng của Tôn giả Mahà Kaccāna; sau khi đến, đi qua đi lại, đi vòng quanh chòi lá, cao tiếng, lớn tiếng, và làm đủ loại trò chơi nghịch ngợm: “Những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, đê tiện, đen đủi, sanh từ nơi chân này, lại được các kẻ nô tì khuân vác cung kính, tôn trọng, cúng dường, lễ bái”.
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Mahà Kaccāna từ trong nhà bước ra và nói với các thanh niên ấy:
—Này các Thanh niên, chớ có làm ồn. Ta sẽ thuyết pháp cho các Ông.
Khi nghe nói vậy, các thanh niên đều im lặng.
Vi-n 4 Rồi Tôn giả Mahà Kaccāna nói lên những bài kệ với các thanh niên ấy:
Vi-n 1~1 Những bậc cổ nhân xưa,
Tối thắng trong giới hạnh,
Các bậc Bà-la-môn,
Ghi nhớ các cổ luật.
Các căn được hộ trì,
Ðược khéo léo chế ngự,
Họ nhiếp phục đoạn tận
Mọi tức giận phẫn nộ.
Vi-n 2~2 Họ hân hoan trong pháp,
Họ hân hoan trong Thiền,
Họ là Bà-la-môn,
Ghi nhớ các cổ luật.
Còn kẻ trốn luật này,
Chỉ lắp bắp tụng đọc,
Say mê trong giai cấp,
Họ bước đi khập khểnh.
Vi-n 3~3 Bị phẫn nộ nhiếp phục,
Dùng nhiều loại gậy gộc,
Họ rơi vào nguy hại,
Giữa kẻ tham, bậc Thánh,
Rỗng không là giới cấm,
Khi căn không chế ngự,
Như người được tài sản,
Trong cơn mộng nằm mơ.
Vi-n 4~4 Không ăn, quyết nhịn đói,
Nằm ngủ trên đất trần,
Sáng dậy, tắm sạch tội,
Tụng đọc ba Vệ-đà,
Mặc da thú thô cứng,
Bện tóc, da dính bùn,
Tụng đọc các thần chú,
Giới cấm thủ, khổ hạnh.
Vi-n 5~5 Giả dối và lừa đảo,
Sử dụng các gậy gộc,
Dùng nước để tắm rửa,
Dùng nước để súc miệng,
Ðó là những sắc tướng,
Các hàng Bà-la-môn,
Họ làm và thực hiện,
Mong hưởng những lợi nhỏ.
Vi-n 6~6 Nhứt tâm, khéo định tĩnh,
Trong sáng, không cấu uế,
Nhu thuận mọi chúng sanh,
Con đường đạt tối thượng.
Vi-n 5 Rồi các thanh niên ấy, tức giận và không vui, đi đến Bà-la-môn Lohicca; sau khi đến, thưa với Bà-la-môn Lohicca:
—Mong Tôn giả biết rằng, Sa-môn Mahà Kaccāna đang một mạch chỉ trích và mạ lị thần chú của các Bà-la-môn.
Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Lohicca tức giận và không vui.
Vi-n 6 Rồi Bà-la-môn Lohicca suy nghĩ: “Thật không thích đáng cho ta khi ta nghe một mình các thanh niên Bà-la-môn, rồi phỉ báng và công kích Sa-môn Mahà Kaccāna. Vậy, ta hãy đi đến và hỏi vị ấy”.
Vi-n 7 Rồi Bà-la-môn Lohicca cùng với các thanh niên Bà-la-môn ấy đi đến Tôn giả Mahà Kaccāna; sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 8 Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Lohicca nói với Tôn giả Mahà Kaccāna:
—Tôn giả Kaccāna, có phải có một số đông đệ tử của chúng tôi, những thanh niên Bà-la-môn lượm củi đã đến đây?
—Này Bà-la-môn, một số đông đệ tử của Ông, những thanh niên Bà-la-môn lượm củi có đến tại đây.
—Thưa Tôn giả Kaccāna, Tôn giả có nói chuyện với những thanh niên Bà-la-môn ấy không?
—Này Bà-la-môn, tôi có nói chuyện với những thanh niên Bà-la-môn ấy.
—Như thế nào là câu chuyện giữa Tôn giả Kaccāna với những thanh niên Bà-la-môn ấy?
—Này Bà-la-môn, như thế nầy là câu chuyện giữa tôi và các thanh niên Bà-la-môn ấy:
Vi-n 1~7 Những bậc cổ nhân xưa
Tối thắng trong giới hạnh,
Các bậc Bà-la-môn
Ghi nhớ các cổ luật.
2–5) …
Vi-n 6~8 Nhứt tâm, khéo định tĩnh,
Trong sáng, không cấu uế,
Nhu thuận mọi chúng sanh,
Con đường đạt tối thượng.
Như vậy, này Bà-la-môn, là cuộc nói chuyện giữa tôi và các thanh niên Bà-la-môn ấy.
Vi-n 9 —Tôn giả Kaccāna có nói đến hộ trì các căn. Cho đến như thế nào, thưa Tôn giả Kaccāna, là hộ trì các căn?
Vi-n 10 —Ở đây, này Bà-la-môn, có người sau khi mắt thấy sắc, có tâm hướng đến các sắc khả ái, có tâm ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Người ấy không như thật biết rõ tâm giải thoát và tuệ giải thoát. Do vậy, các ác bất thiện pháp đã khởi lên, không có đoạn diệt không có dư tàn.
Vi-n 11-14. … sau khi tai nghe tiếng … sau khi mũi ngửi hương … sau khi lưỡi nếm vị … sau khi thân cảm xúc …
Vi-n 15 … sau khi ý biết các pháp, tâm hướng đến các pháp khả ái, tâm ghét bỏ các pháp không khả ái, sống với niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Người ấy không như thật biết rõ tâm giải thoát và tuệ giải thoát. Do vậy, các ác bất thiện pháp đã khởi lên, không có đoạn diệt không có dư tàn.
Vi-n 16 Như vậy, này Bà-la-môn, là các căn không có hộ trì.
Vi-n 17 —Thật là vi diệu, thưa Tôn giả Kaccāna, thật là hy hữu, thưa Tôn giả Kaccāna, cách thức Tôn giả Kaccāna đã định nghĩa các căn không hộ trì. Các căn có hộ trì, các căn có hộ trì, Tôn giả Kaccāna đã nói như vậy; cho đến như thế nào, thưa Tôn giả Kaccāna, là các căn có hộ trì?
Vi-n 18 —Ở đây, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo sau khi mắt thấy sắc, tâm không hướng đến các sắc khả ái, tâm không ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với niệm an trú, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật biết rõ tâm giải thoát và tuệ giải thoát. Do vậy, các ác bất thiện pháp đã khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn.
Vi-n 19-22. … sau khi tai nghe tiếng … sau khi mũi ngửi hương … sau khi lưỡi nếm vị … sau khi thân cảm xúc …
Vi-n 23 … sau khi ý nhận biết các pháp, tâm không hướng đến các pháp khả ái, tâm không ghét bỏ các pháp không khả ái, sống với niệm an trú, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật biết rõ tâm giải thoát và tuệ giải thoát. Do vậy, các ác bất thiện pháp đã khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn.
Vi-n 24 Như vậy, này Bà-la-môn, là các căn được hộ trì.
Vi-n 25 —Thật là vi diệu, thưa Tôn giả Kaccāna, thật là hy hữu, thưa Tôn giả Kaccāna, cách thức Tôn giả Kaccāna đã định nghĩa các căn được hộ trì. Thật vi diệu thay, Tôn giả Kaccāna! Thật vi diệu thay, Tôn giả Kaccāna! Thưa Tôn giả Kaccāna, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để cho những ai có mắt được thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Kaccāna dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Vậy nay, thưa Tôn giả Kaccāna, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo. Tôn giả Kaccāna hãy nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng. Và như Tôn giả Kaccāna đi đến viếng các gia đình cư sĩ, cũng vậy, cũng vậy, mong Tôn giả Kaccāna hãy đến viếng các gia đình Lohicca. Tại đấy, các thanh niên và thanh nữ sẽ đảnh lễ Tôn giả Kaccāna, sẽ soạn chỗ ngồi, hay cúng dường nước cho Tôn giả Kaccāna, và như vậy, họ sẽ được hạnh phúc, an lạc trong một thời gian dài.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā mahākaccāno avantīsu viharati makkarakate araññakuṭikāyaṁ.
Atha kho lohiccassa brāhmaṇassa sambahulā antevāsikā kaṭṭhahārakā māṇavakā yenāyasmato mahākaccānassa araññakuṭikā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā parito parito kuṭikāya anucaṅkamanti anuvicaranti uccāsaddā mahāsaddā kānici kānici seleyyakāni karonti:
“ime pana muṇḍakā samaṇakā ibbhā kaṇhā bandhupādāpaccā, imesaṁ bharatakānaṁ sakkatā garukatā mānitā pūjitā apacitā”ti.
Atha kho āyasmā mahākaccāno vihārā nikkhamitvā te māṇavake etadavoca:
“mā māṇavakā saddamakattha;
dhammaṁ vo bhāsissāmī”ti.
Evaṁ vutte, te māṇavakā tuṇhī ahesuṁ.
Atha kho āyasmā mahākaccāno te māṇavake gāthāhi ajjhabhāsi:
“Sīluttamā pubbatarā ahesuṁ,
Te brāhmaṇā ye purāṇaṁ saranti;
Guttāni dvārāni surakkhitāni,
Ahesuṁ tesaṁ abhibhuyya kodhaṁ.
Dhamme ca jhāne ca ratā ahesuṁ,
Te brāhmaṇā ye purāṇaṁ saranti.
Ime ca vokkamma japāmaseti,
Gottena mattā visamaṁ caranti;
Kodhābhibhūtā puthuattadaṇḍā,
Virajjamānā sataṇhātaṇhesu.
Aguttadvārassa bhavanti moghā,
Supineva laddhaṁ purisassa vittaṁ;
Anāsakā thaṇḍilasāyikā ca,
Pāto sinānañca tayo ca vedā.
Kharājinaṁ jaṭāpaṅko,
mantā sīlabbataṁ tapo;
Kuhanā vaṅkadaṇḍā ca,
udakācamanāni ca;
Vaṇṇā ete brāhmaṇānaṁ,
katā kiñcikkhabhāvanā.
Cittañca susamāhitaṁ,
vippasannamanāvilaṁ;
Akhilaṁ sabbabhūtesu,
so maggo brahmapattiyā”ti.
Atha kho te māṇavakā kupitā anattamanā yena lohicco brāhmaṇo tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā lohiccaṁ brāhmaṇaṁ etadavocuṁ:
“yagghe bhavaṁ jāneyya, samaṇo mahākaccāno brāhmaṇānaṁ mante ekaṁsena apavadati, paṭikkosatī”ti?
Evaṁ vutte, lohicco brāhmaṇo kupito ahosi anattamano.
Atha kho lohiccassa brāhmaṇassa etadahosi:
“na kho pana metaṁ patirūpaṁ yohaṁ aññadatthu māṇavakānaṁyeva sutvā samaṇaṁ mahākaccānaṁ akkoseyyaṁ paribhāseyyaṁ.
Yannūnāhaṁ upasaṅkamitvā puccheyyan”ti.
Atha kho lohicco brāhmaṇo tehi māṇavakehi saddhiṁ yenāyasmā mahākaccāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā mahākaccānena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho lohicco brāhmaṇo āyasmantaṁ mahākaccānaṁ etadavoca:
“āgamaṁsu nu khvidha, bho kaccāna, amhākaṁ sambahulā antevāsikā kaṭṭhahārakā māṇavakā”ti?
“Āgamaṁsu khvidha te, brāhmaṇa, sambahulā antevāsikā kaṭṭhahārakā māṇavakā”ti.
“Ahu pana bhoto kaccānassa tehi māṇavakehi saddhiṁ kocideva kathāsallāpo”ti?
“Ahu kho me, brāhmaṇa, tehi māṇavakehi saddhiṁ kocideva kathāsallāpo”ti.
“Yathā kathaṁ pana bhoto kaccānassa tehi māṇavakehi saddhiṁ ahosi kathāsallāpo”ti?
“Evaṁ kho me, brāhmaṇa, tehi māṇavakehi saddhiṁ ahosi kathāsallāpo:
‘Sīluttamā pubbatarā ahesuṁ,
Te brāhmaṇā ye purāṇaṁ saranti;
…pe…
Akhilaṁ sabbabhūtesu,
So maggo brahmapattiyā’ti.
Evaṁ kho me, brāhmaṇa, tehi māṇavakehi saddhiṁ ahosi kathāsallāpo”ti.
“‘Aguttadvāro’ti bhavaṁ kaccāno āha.
Kittāvatā nu kho, bho kaccāna, aguttadvāro hotī”ti?
“Idha, brāhmaṇa, ekacco cakkhunā rūpaṁ disvā piyarūpe rūpe adhimuccati, appiyarūpe rūpe byāpajjati, anupaṭṭhitakāyassati ca viharati, parittacetaso
tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
Sotena saddaṁ sutvā …
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …
jivhāya rasaṁ sāyitvā …
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …
manasā dhammaṁ viññāya piyarūpe dhamme adhimuccati, appiyarūpe ca dhamme byāpajjati, anupaṭṭhitakāyassati ca viharati, parittacetaso
tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
Evaṁ kho, brāhmaṇa, aguttadvāro hotī”ti.
“Acchariyaṁ, bho kaccāna, abbhutaṁ, bho kaccāna.
Yāvañcidaṁ bhotā kaccānena aguttadvārova samāno aguttadvāroti akkhāto.
‘Guttadvāro’ti bhavaṁ kaccāno āha.
Kittāvatā nu kho, bho kaccāna, guttadvāro hotī”ti?
“Idha, brāhmaṇa, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā piyarūpe rūpe nādhimuccati, appiyarūpe rūpe na byāpajjati, upaṭṭhitakāyassati ca viharati, appamāṇacetaso
tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
Sotena saddaṁ sutvā …
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …
jivhāya rasaṁ sāyitvā …
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …
manasā dhammaṁ viññāya piyarūpe dhamme nādhimuccati, appiyarūpe dhamme na byāpajjati, upaṭṭhitakāyassati ca viharati, appamāṇacetaso
tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti, yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
Evaṁ kho, brāhmaṇa, guttadvāro hotī”ti.
“Acchariyaṁ, bho kaccāna, abbhutaṁ, bho kaccāna.
Yāvañcidaṁ bhotā kaccānena guttadvārova samāno guttadvāroti akkhāto.
Abhikkantaṁ, bho kaccāna; abhikkantaṁ, bho kaccāna.
Seyyathāpi, bho kaccāna, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā kaccānena anekapariyāyena dhammo pakāsito.
Esāhaṁ, bho kaccāna, taṁ bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi, dhammañca, bhikkhusaṅghañca.
Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ kaccāno dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gataṁ.
Yathā ca bhavaṁ kaccāno makkarakate upāsakakulāni upasaṅkamati; evameva lohiccakulaṁ upasaṅkamatu.
Tattha ye māṇavakā vā māṇavikā vā bhavantaṁ kaccānaṁ abhivādessanti paccuṭṭhissanti āsanaṁ vā udakaṁ vā dassanti, tesaṁ taṁ bhavissati dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
Navamaṁ.
SC 1On one occasion the Venerable Mahakaccana was dwelling among the people of Avanti in a forest hut at Makkarakaṭa. sn.iv.117 Then a number of brahmin youths, students of the brahmin Lohicca, while collecting firewood, approached the Venerable Mahakaccana’s forest hut. Having approached, they stomped and trampled all around the hut, and in a boisterous and noisy manner they played various pranks, saying: “These shaveling ascetics, menials, swarthy offspring of the Lord’s feet, are honoured, respected, esteemed, worshipped, and venerated by their servile devotees.”
SC 2Then the Venerable Mahakaccana came out of his dwelling and said to those brahmin youths: “Don’t make any noise, boys. I will speak to you on the Dhamma.” When this was said, those youths became silent. Then the Venerable Mahakaccana addressed those youths with verses:
SC 3“Those men of old who excelled in virtue,
Those brahmins who recalled the ancient rules,
Their sense doors guarded, well protected,
Dwelt having vanquished wrath within.
They took delight in Dhamma and meditation,
Those brahmins who recalled the ancient rules.
SC 4“But these have fallen, claiming ‘We recite.’
Puffed up by clan, faring unrighteously,
Overcome by anger, armed with diverse weapons,
They molest both frail and firm.
SC 5“For one with sense doors unguarded
All the vows he undertakes are vain
Just like the wealth a man gains in a dream: sn.iv.118
Fasting and sleeping on the ground,
Bathing at dawn, study of the three Vedas,
Rough hides, matted locks, and dirt;
Hymns, rules and vows, austerities,
Hypocrisy, bent staffs, ablutions:
These emblems of the brahmins
Are used to increase their worldly gains.
SC 6“A mind that is well concentrated,
Clear and free from blemish,
Tender towards all sentient beings—
That is the path for attaining Brahma.”
SC 7Then those brahmin youths, angry and displeased, approached the brahmin Lohicca and told him: “See now, sir, you should know that the ascetic Mahakaccana categorically denigrates and scorns the hymns of the brahmins.”
SC 8When this was said, the brahmin Lohicca was angry and displeased. But then it occurred to him: “It is not proper for me to abuse and revile the ascetic Mahakaccana solely on the basis of what I have heard from these youths. Let me approach him and inquire.”
SC 9Then the brahmin Lohicca, together with those brahmin youths, approached the Venerable Mahakaccana. sn.iv.119 He exchanged greetings with the Venerable Mahakaccana and, when they had concluded their greetings and cordial talk, he sat down to one side and said to him: “Master Kaccana, did a number of brahmin youths, my students, come this way while collecting firewood?”
“They did, brahmin.”
SC 10“Did Master Kaccana have any conversation with them?”
“I did have a conversation with them, brahmin.”
SC 11“What kind of conversation did you have with them, Master Kaccana?”
SC 12“The conversation I had with those youths was like this:
SC 13“‘Those men of old who excelled in virtue,
Those brahmins who recalled the ancient rules, …
Tender towards all sentient beings—
That is the path for attaining Brahma.’
SC 14Such was the conversation that I had with those youths.”
SC 15“Master Kaccana said ‘with sense doors unguarded.’ In what way, Master Kaccana, is one ‘with sense doors unguarded’?”
SC 16“Here, brahmin, having seen a form with the eye, someone is intent upon a pleasing form and repelled by a displeasing form. He dwells without having set up mindfulness of the body, with a limited mind, sn.iv.120 and he does not understand as it really is that liberation of mind, liberation by wisdom, wherein those evil unwholesome states cease without remainder. Having heard a sound with the ear … Having cognized a mental phenomenon with the mind, someone is intent upon a pleasing mental phenomenon and repelled by a displeasing mental phenomenon. He dwells without having set up mindfulness of the body … cease without remainder. It is in such a way, brahmin, that one is ‘with sense doors unguarded.’”
SC 17“It is wonderful, Master Kaccana! It is amazing, Master Kaccana! How Master Kaccana has declared one whose sense doors are actually unguarded to be one ‘with sense doors unguarded’! But Master Kaccana said ‘with sense doors guarded.’ In what way, Master Kaccana, is one ‘with sense doors guarded’?”
SC 18“Here, brahmin, having seen a form with the eye, someone is not intent upon a pleasing form and not repelled by a displeasing form. He dwells having set up mindfulness of the body, with a measureless mind, and he understands as it really is that liberation of mind, liberation by wisdom, wherein those evil unwholesome states cease without remainder. Having heard a sound with the ear … Having cognized a mental phenomenon with the mind, someone is not intent upon a pleasing mental phenomenon and not repelled by a displeasing mental phenomenon. He dwells having set up mindfulness of the body … cease without remainder. It is in such a way, brahmin, that one is ‘with sense doors guarded.’”
SC 19“It is wonderful, Master Kaccana! It is amazing, Master Kaccana! sn.iv.121 How Master Kaccana has declared one whose sense doors are actually guarded to be one ‘with sense doors guarded’! Magnificent, Master Kaccana! Magnificent, Master Kaccana! The Dhamma has been made clear in many ways by Master Kaccana … as in §127 … From today let Master Kaccana remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.
SC 20“Let Master Kaccana approach the Lohicca family just as he approaches the families of the lay followers in Makkarakaṭa. The brahmin youths and maidens there will pay homage to Master Kaccana, they will stand up for him out of respect, they will offer him a seat and water, and that will lead to their welfare and happiness for a long time.”
Vi-n 1 Một thời Tôn giả Mahà Kaccāna trú ở giữa dân chúng Avanti, tại Makkarakata, tại một chòi lá trong rừng.
Vi-n 2 Rồi một số đông đệ tử của Bà-la-môn Lohicca, là những thanh niên lượm củi, đi đến chòi lá trong rừng của Tôn giả Mahà Kaccāna; sau khi đến, đi qua đi lại, đi vòng quanh chòi lá, cao tiếng, lớn tiếng, và làm đủ loại trò chơi nghịch ngợm: “Những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, đê tiện, đen đủi, sanh từ nơi chân này, lại được các kẻ nô tì khuân vác cung kính, tôn trọng, cúng dường, lễ bái”.
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Mahà Kaccāna từ trong nhà bước ra và nói với các thanh niên ấy:
—Này các Thanh niên, chớ có làm ồn. Ta sẽ thuyết pháp cho các Ông.
Khi nghe nói vậy, các thanh niên đều im lặng.
Vi-n 4 Rồi Tôn giả Mahà Kaccāna nói lên những bài kệ với các thanh niên ấy:
Vi-n 1~1 Những bậc cổ nhân xưa,
Tối thắng trong giới hạnh,
Các bậc Bà-la-môn,
Ghi nhớ các cổ luật.
Các căn được hộ trì,
Ðược khéo léo chế ngự,
Họ nhiếp phục đoạn tận
Mọi tức giận phẫn nộ.
Vi-n 2~2 Họ hân hoan trong pháp,
Họ hân hoan trong Thiền,
Họ là Bà-la-môn,
Ghi nhớ các cổ luật.
Còn kẻ trốn luật này,
Chỉ lắp bắp tụng đọc,
Say mê trong giai cấp,
Họ bước đi khập khểnh.
Vi-n 3~3 Bị phẫn nộ nhiếp phục,
Dùng nhiều loại gậy gộc,
Họ rơi vào nguy hại,
Giữa kẻ tham, bậc Thánh,
Rỗng không là giới cấm,
Khi căn không chế ngự,
Như người được tài sản,
Trong cơn mộng nằm mơ.
Vi-n 4~4 Không ăn, quyết nhịn đói,
Nằm ngủ trên đất trần,
Sáng dậy, tắm sạch tội,
Tụng đọc ba Vệ-đà,
Mặc da thú thô cứng,
Bện tóc, da dính bùn,
Tụng đọc các thần chú,
Giới cấm thủ, khổ hạnh.
Vi-n 5~5 Giả dối và lừa đảo,
Sử dụng các gậy gộc,
Dùng nước để tắm rửa,
Dùng nước để súc miệng,
Ðó là những sắc tướng,
Các hàng Bà-la-môn,
Họ làm và thực hiện,
Mong hưởng những lợi nhỏ.
Vi-n 6~6 Nhứt tâm, khéo định tĩnh,
Trong sáng, không cấu uế,
Nhu thuận mọi chúng sanh,
Con đường đạt tối thượng.
Vi-n 5 Rồi các thanh niên ấy, tức giận và không vui, đi đến Bà-la-môn Lohicca; sau khi đến, thưa với Bà-la-môn Lohicca:
—Mong Tôn giả biết rằng, Sa-môn Mahà Kaccāna đang một mạch chỉ trích và mạ lị thần chú của các Bà-la-môn.
Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Lohicca tức giận và không vui.
Vi-n 6 Rồi Bà-la-môn Lohicca suy nghĩ: “Thật không thích đáng cho ta khi ta nghe một mình các thanh niên Bà-la-môn, rồi phỉ báng và công kích Sa-môn Mahà Kaccāna. Vậy, ta hãy đi đến và hỏi vị ấy”.
Vi-n 7 Rồi Bà-la-môn Lohicca cùng với các thanh niên Bà-la-môn ấy đi đến Tôn giả Mahà Kaccāna; sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 8 Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Lohicca nói với Tôn giả Mahà Kaccāna:
—Tôn giả Kaccāna, có phải có một số đông đệ tử của chúng tôi, những thanh niên Bà-la-môn lượm củi đã đến đây?
—Này Bà-la-môn, một số đông đệ tử của Ông, những thanh niên Bà-la-môn lượm củi có đến tại đây.
—Thưa Tôn giả Kaccāna, Tôn giả có nói chuyện với những thanh niên Bà-la-môn ấy không?
—Này Bà-la-môn, tôi có nói chuyện với những thanh niên Bà-la-môn ấy.
—Như thế nào là câu chuyện giữa Tôn giả Kaccāna với những thanh niên Bà-la-môn ấy?
—Này Bà-la-môn, như thế nầy là câu chuyện giữa tôi và các thanh niên Bà-la-môn ấy:
Vi-n 1~7 Những bậc cổ nhân xưa
Tối thắng trong giới hạnh,
Các bậc Bà-la-môn
Ghi nhớ các cổ luật.
2–5) …
Vi-n 6~8 Nhứt tâm, khéo định tĩnh,
Trong sáng, không cấu uế,
Nhu thuận mọi chúng sanh,
Con đường đạt tối thượng.
Như vậy, này Bà-la-môn, là cuộc nói chuyện giữa tôi và các thanh niên Bà-la-môn ấy.
Vi-n 9 —Tôn giả Kaccāna có nói đến hộ trì các căn. Cho đến như thế nào, thưa Tôn giả Kaccāna, là hộ trì các căn?
Vi-n 10 —Ở đây, này Bà-la-môn, có người sau khi mắt thấy sắc, có tâm hướng đến các sắc khả ái, có tâm ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Người ấy không như thật biết rõ tâm giải thoát và tuệ giải thoát. Do vậy, các ác bất thiện pháp đã khởi lên, không có đoạn diệt không có dư tàn.
Vi-n 11-14. … sau khi tai nghe tiếng … sau khi mũi ngửi hương … sau khi lưỡi nếm vị … sau khi thân cảm xúc …
Vi-n 15 … sau khi ý biết các pháp, tâm hướng đến các pháp khả ái, tâm ghét bỏ các pháp không khả ái, sống với niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Người ấy không như thật biết rõ tâm giải thoát và tuệ giải thoát. Do vậy, các ác bất thiện pháp đã khởi lên, không có đoạn diệt không có dư tàn.
Vi-n 16 Như vậy, này Bà-la-môn, là các căn không có hộ trì.
Vi-n 17 —Thật là vi diệu, thưa Tôn giả Kaccāna, thật là hy hữu, thưa Tôn giả Kaccāna, cách thức Tôn giả Kaccāna đã định nghĩa các căn không hộ trì. Các căn có hộ trì, các căn có hộ trì, Tôn giả Kaccāna đã nói như vậy; cho đến như thế nào, thưa Tôn giả Kaccāna, là các căn có hộ trì?
Vi-n 18 —Ở đây, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo sau khi mắt thấy sắc, tâm không hướng đến các sắc khả ái, tâm không ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với niệm an trú, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật biết rõ tâm giải thoát và tuệ giải thoát. Do vậy, các ác bất thiện pháp đã khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn.
Vi-n 19-22. … sau khi tai nghe tiếng … sau khi mũi ngửi hương … sau khi lưỡi nếm vị … sau khi thân cảm xúc …
Vi-n 23 … sau khi ý nhận biết các pháp, tâm không hướng đến các pháp khả ái, tâm không ghét bỏ các pháp không khả ái, sống với niệm an trú, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật biết rõ tâm giải thoát và tuệ giải thoát. Do vậy, các ác bất thiện pháp đã khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn.
Vi-n 24 Như vậy, này Bà-la-môn, là các căn được hộ trì.
Vi-n 25 —Thật là vi diệu, thưa Tôn giả Kaccāna, thật là hy hữu, thưa Tôn giả Kaccāna, cách thức Tôn giả Kaccāna đã định nghĩa các căn được hộ trì. Thật vi diệu thay, Tôn giả Kaccāna! Thật vi diệu thay, Tôn giả Kaccāna! Thưa Tôn giả Kaccāna, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để cho những ai có mắt được thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Kaccāna dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Vậy nay, thưa Tôn giả Kaccāna, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo. Tôn giả Kaccāna hãy nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng. Và như Tôn giả Kaccāna đi đến viếng các gia đình cư sĩ, cũng vậy, cũng vậy, mong Tôn giả Kaccāna hãy đến viếng các gia đình Lohicca. Tại đấy, các thanh niên và thanh nữ sẽ đảnh lễ Tôn giả Kaccāna, sẽ soạn chỗ ngồi, hay cúng dường nước cho Tôn giả Kaccāna, và như vậy, họ sẽ được hạnh phúc, an lạc trong một thời gian dài.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā mahākaccāno avantīsu viharati makkarakate araññakuṭikāyaṁ.
Atha kho lohiccassa brāhmaṇassa sambahulā antevāsikā kaṭṭhahārakā māṇavakā yenāyasmato mahākaccānassa araññakuṭikā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā parito parito kuṭikāya anucaṅkamanti anuvicaranti uccāsaddā mahāsaddā kānici kānici seleyyakāni karonti:
“ime pana muṇḍakā samaṇakā ibbhā kaṇhā bandhupādāpaccā, imesaṁ bharatakānaṁ sakkatā garukatā mānitā pūjitā apacitā”ti.
Atha kho āyasmā mahākaccāno vihārā nikkhamitvā te māṇavake etadavoca:
“mā māṇavakā saddamakattha;
dhammaṁ vo bhāsissāmī”ti.
Evaṁ vutte, te māṇavakā tuṇhī ahesuṁ.
Atha kho āyasmā mahākaccāno te māṇavake gāthāhi ajjhabhāsi:
“Sīluttamā pubbatarā ahesuṁ,
Te brāhmaṇā ye purāṇaṁ saranti;
Guttāni dvārāni surakkhitāni,
Ahesuṁ tesaṁ abhibhuyya kodhaṁ.
Dhamme ca jhāne ca ratā ahesuṁ,
Te brāhmaṇā ye purāṇaṁ saranti.
Ime ca vokkamma japāmaseti,
Gottena mattā visamaṁ caranti;
Kodhābhibhūtā puthuattadaṇḍā,
Virajjamānā sataṇhātaṇhesu.
Aguttadvārassa bhavanti moghā,
Supineva laddhaṁ purisassa vittaṁ;
Anāsakā thaṇḍilasāyikā ca,
Pāto sinānañca tayo ca vedā.
Kharājinaṁ jaṭāpaṅko,
mantā sīlabbataṁ tapo;
Kuhanā vaṅkadaṇḍā ca,
udakācamanāni ca;
Vaṇṇā ete brāhmaṇānaṁ,
katā kiñcikkhabhāvanā.
Cittañca susamāhitaṁ,
vippasannamanāvilaṁ;
Akhilaṁ sabbabhūtesu,
so maggo brahmapattiyā”ti.
Atha kho te māṇavakā kupitā anattamanā yena lohicco brāhmaṇo tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā lohiccaṁ brāhmaṇaṁ etadavocuṁ:
“yagghe bhavaṁ jāneyya, samaṇo mahākaccāno brāhmaṇānaṁ mante ekaṁsena apavadati, paṭikkosatī”ti?
Evaṁ vutte, lohicco brāhmaṇo kupito ahosi anattamano.
Atha kho lohiccassa brāhmaṇassa etadahosi:
“na kho pana metaṁ patirūpaṁ yohaṁ aññadatthu māṇavakānaṁyeva sutvā samaṇaṁ mahākaccānaṁ akkoseyyaṁ paribhāseyyaṁ.
Yannūnāhaṁ upasaṅkamitvā puccheyyan”ti.
Atha kho lohicco brāhmaṇo tehi māṇavakehi saddhiṁ yenāyasmā mahākaccāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā mahākaccānena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho lohicco brāhmaṇo āyasmantaṁ mahākaccānaṁ etadavoca:
“āgamaṁsu nu khvidha, bho kaccāna, amhākaṁ sambahulā antevāsikā kaṭṭhahārakā māṇavakā”ti?
“Āgamaṁsu khvidha te, brāhmaṇa, sambahulā antevāsikā kaṭṭhahārakā māṇavakā”ti.
“Ahu pana bhoto kaccānassa tehi māṇavakehi saddhiṁ kocideva kathāsallāpo”ti?
“Ahu kho me, brāhmaṇa, tehi māṇavakehi saddhiṁ kocideva kathāsallāpo”ti.
“Yathā kathaṁ pana bhoto kaccānassa tehi māṇavakehi saddhiṁ ahosi kathāsallāpo”ti?
“Evaṁ kho me, brāhmaṇa, tehi māṇavakehi saddhiṁ ahosi kathāsallāpo:
‘Sīluttamā pubbatarā ahesuṁ,
Te brāhmaṇā ye purāṇaṁ saranti;
…pe…
Akhilaṁ sabbabhūtesu,
So maggo brahmapattiyā’ti.
Evaṁ kho me, brāhmaṇa, tehi māṇavakehi saddhiṁ ahosi kathāsallāpo”ti.
“‘Aguttadvāro’ti bhavaṁ kaccāno āha.
Kittāvatā nu kho, bho kaccāna, aguttadvāro hotī”ti?
“Idha, brāhmaṇa, ekacco cakkhunā rūpaṁ disvā piyarūpe rūpe adhimuccati, appiyarūpe rūpe byāpajjati, anupaṭṭhitakāyassati ca viharati, parittacetaso
tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
Sotena saddaṁ sutvā …
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …
jivhāya rasaṁ sāyitvā …
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …
manasā dhammaṁ viññāya piyarūpe dhamme adhimuccati, appiyarūpe ca dhamme byāpajjati, anupaṭṭhitakāyassati ca viharati, parittacetaso
tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
Evaṁ kho, brāhmaṇa, aguttadvāro hotī”ti.
“Acchariyaṁ, bho kaccāna, abbhutaṁ, bho kaccāna.
Yāvañcidaṁ bhotā kaccānena aguttadvārova samāno aguttadvāroti akkhāto.
‘Guttadvāro’ti bhavaṁ kaccāno āha.
Kittāvatā nu kho, bho kaccāna, guttadvāro hotī”ti?
“Idha, brāhmaṇa, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā piyarūpe rūpe nādhimuccati, appiyarūpe rūpe na byāpajjati, upaṭṭhitakāyassati ca viharati, appamāṇacetaso
tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
Sotena saddaṁ sutvā …
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …
jivhāya rasaṁ sāyitvā …
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …
manasā dhammaṁ viññāya piyarūpe dhamme nādhimuccati, appiyarūpe dhamme na byāpajjati, upaṭṭhitakāyassati ca viharati, appamāṇacetaso
tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti, yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
Evaṁ kho, brāhmaṇa, guttadvāro hotī”ti.
“Acchariyaṁ, bho kaccāna, abbhutaṁ, bho kaccāna.
Yāvañcidaṁ bhotā kaccānena guttadvārova samāno guttadvāroti akkhāto.
Abhikkantaṁ, bho kaccāna; abhikkantaṁ, bho kaccāna.
Seyyathāpi, bho kaccāna, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā kaccānena anekapariyāyena dhammo pakāsito.
Esāhaṁ, bho kaccāna, taṁ bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi, dhammañca, bhikkhusaṅghañca.
Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ kaccāno dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gataṁ.
Yathā ca bhavaṁ kaccāno makkarakate upāsakakulāni upasaṅkamati; evameva lohiccakulaṁ upasaṅkamatu.
Tattha ye māṇavakā vā māṇavikā vā bhavantaṁ kaccānaṁ abhivādessanti paccuṭṭhissanti āsanaṁ vā udakaṁ vā dassanti, tesaṁ taṁ bhavissati dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
Navamaṁ.