Sáu
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Kosala, tại một làng Bà-la-môn tên Sālā.
Vi-n 2 Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo …
Vi-n 3 —Ví như, này các Tỷ-kheo, trong các loài bàng sanh, con sư tử, vua các loài thú, được xem là tối thượng, tức là về sức mạnh, về tốc lực, về dõng mãnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong các pháp thuộc phần giác ngộ, tuệ căn được xem là tối thượng, tức là về giác ngộ. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp thuộc phần giác ngộ?
Vi-n 4 Tín căn, này các Tỷ-kheo, là pháp thuộc phần giác ngộ, vì đưa đến giác ngộ. Tấn căn là pháp thuộc phần giác ngộ, vì đưa đến giác ngộ. Niệm căn là pháp thuộc phần giác ngộ, vì đưa đến giác ngộ. Ðịnh căn là pháp thuộc phần giác ngộ, vì đưa đến giác ngộ. Tuệ căn là pháp thuộc phần giác ngộ, vì đưa đến giác ngộ.
Vi-n 5 Ví như, này các Tỷ-kheo, trong các loài bàng sanh, con sư tử, vua các loài thú, được xem là tối thượng, tức là về sức mạnh, về tốc lực, về dõng mãnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong các pháp thuộc phần giác ngộ, tuệ căn được xem là tối thượng, tức là về giác ngộ.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu viharati sālāya brāhmaṇagāme.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“seyyathāpi, bhikkhave, ye keci tiracchānagatā pāṇā, sīho migarājā tesaṁ aggamakkhāyati, yadidaṁ—thāmena javena sūrena;
evameva kho, bhikkhave, ye keci bodhipakkhiyā dhammā, paññindriyaṁ tesaṁ aggamakkhāyati, yadidaṁ—bodhāya.
Katame ca, bhikkhave, bodhipakkhiyā dhammā?
Saddhindriyaṁ, bhikkhave, bodhipakkhiyo dhammo, taṁ bodhāya saṁvattati;
vīriyindriyaṁ bodhipakkhiyo dhammo, taṁ bodhāya saṁvattati;
satindriyaṁ bodhipakkhiyo dhammo, taṁ bodhāya saṁvattati;
samādhindriyaṁ bodhipakkhiyo dhammo, taṁ bodhāya saṁvattati;
paññindriyaṁ bodhipakkhiyo dhammo, taṁ bodhāya saṁvattati.
Seyyathāpi, bhikkhave, ye keci tiracchānagatā pāṇā, sīho migarājā tesaṁ aggamakkhāyati, yadidaṁ—thāmena javena sūrena;
evameva kho, bhikkhave, ye keci bodhipakkhiyā dhammā, paññindriyaṁ tesaṁ aggamakkhāyati, yadidaṁ—bodhāyā”ti.
Paṭhamaṁ.
So I have heard.
At one time the Buddha was staying in the land of the Kosalans near the brahmin village of Sālā.
There the Buddha addressed the mendicants:
“Mendicants, the lion, king of beasts, is said to be the best of animals in terms of strength, speed, and courage.
In the same way, the faculty of wisdom is said to be the best of the qualities that lead to awakening in terms of becoming awakened.
And what are the qualities that lead to awakening?
The faculties of faith,
energy,
mindfulness,
immersion,
and wisdom are qualities that lead to awakening, in that they lead to becoming awakened.
The lion, king of beasts, is said to be the best of animals in terms of strength, speed, and courage.
In the same way, the faculty of wisdom is said to be the best of the qualities that lead to awakening in terms of becoming awakened.”
Sáu
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Kosala, tại một làng Bà-la-môn tên Sālā.
Vi-n 2 Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo …
Vi-n 3 —Ví như, này các Tỷ-kheo, trong các loài bàng sanh, con sư tử, vua các loài thú, được xem là tối thượng, tức là về sức mạnh, về tốc lực, về dõng mãnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong các pháp thuộc phần giác ngộ, tuệ căn được xem là tối thượng, tức là về giác ngộ. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp thuộc phần giác ngộ?
Vi-n 4 Tín căn, này các Tỷ-kheo, là pháp thuộc phần giác ngộ, vì đưa đến giác ngộ. Tấn căn là pháp thuộc phần giác ngộ, vì đưa đến giác ngộ. Niệm căn là pháp thuộc phần giác ngộ, vì đưa đến giác ngộ. Ðịnh căn là pháp thuộc phần giác ngộ, vì đưa đến giác ngộ. Tuệ căn là pháp thuộc phần giác ngộ, vì đưa đến giác ngộ.
Vi-n 5 Ví như, này các Tỷ-kheo, trong các loài bàng sanh, con sư tử, vua các loài thú, được xem là tối thượng, tức là về sức mạnh, về tốc lực, về dõng mãnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong các pháp thuộc phần giác ngộ, tuệ căn được xem là tối thượng, tức là về giác ngộ.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu viharati sālāya brāhmaṇagāme.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“seyyathāpi, bhikkhave, ye keci tiracchānagatā pāṇā, sīho migarājā tesaṁ aggamakkhāyati, yadidaṁ—thāmena javena sūrena;
evameva kho, bhikkhave, ye keci bodhipakkhiyā dhammā, paññindriyaṁ tesaṁ aggamakkhāyati, yadidaṁ—bodhāya.
Katame ca, bhikkhave, bodhipakkhiyā dhammā?
Saddhindriyaṁ, bhikkhave, bodhipakkhiyo dhammo, taṁ bodhāya saṁvattati;
vīriyindriyaṁ bodhipakkhiyo dhammo, taṁ bodhāya saṁvattati;
satindriyaṁ bodhipakkhiyo dhammo, taṁ bodhāya saṁvattati;
samādhindriyaṁ bodhipakkhiyo dhammo, taṁ bodhāya saṁvattati;
paññindriyaṁ bodhipakkhiyo dhammo, taṁ bodhāya saṁvattati.
Seyyathāpi, bhikkhave, ye keci tiracchānagatā pāṇā, sīho migarājā tesaṁ aggamakkhāyati, yadidaṁ—thāmena javena sūrena;
evameva kho, bhikkhave, ye keci bodhipakkhiyā dhammā, paññindriyaṁ tesaṁ aggamakkhāyati, yadidaṁ—bodhāyā”ti.
Paṭhamaṁ.