Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi, tại Ðông Viên, ở lầu đài của mẹ Migāra.
Vi-n 2 Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Bao nhiêu căn được tu tập, được làm cho sung mãn, này các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc có thể trả lời với chánh trí rằng: “Sanh đã tận … không còn trở lui trạng thái này nữa”?
—Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản …
Vi-n 3 —Do tu tập, do làm cho sung mãn chỉ một căn, này các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, có thể trả lời với chánh trí rằng: “Sanh đã tận … không còn trở lui trạng thái này nữa”. Một căn ấy là căn gì?
Vi-n 4 Với vị Thánh đệ tử có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, tất nhiên (tadanvayà) tín được an trú, tất nhiên tinh tấn được an trú, tất nhiên niệm được an trú, tất nhiên định được an trú.
Vi-n 5 Do tu tập, do làm cho sung mãn chỉ một căn này, này các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, có thể trả lời với chánh trí rằng: “Sanh đã tận … không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati pubbārāme migāramātupāsāde.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“katinaṁ nu kho, bhikkhave, indriyānaṁ bhāvitattā bahulīkatattā khīṇāsavo bhikkhu aññaṁ byākaroti:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāmī”ti?
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā …pe…
“ekassa kho, bhikkhave, indriyassa bhāvitattā bahulīkatattā khīṇāsavo bhikkhu aññaṁ byākaroti:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāmīti.
Katamassa ekassa paññindriyassa paññavato, bhikkhave, ariyasāvakassa tadanvayā saddhā saṇṭhāti, tadanvayaṁ vīriyaṁ saṇṭhāti, tadanvayā sati saṇṭhāti, tadanvayo samādhi saṇṭhāti.
Imassa kho, bhikkhave, ekassa indriyassa bhāvitattā bahulīkatattā khīṇāsavo bhikkhu aññaṁ byākaroti:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāmī”ti.
Pañcamaṁ.
So I have heard.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in the stilt longhouse of Migāra’s mother in the Eastern Monastery.
There the Buddha addressed the mendicants:
“Mendicants, how many faculties must a mendicant develop and cultivate so that they can declare enlightenment:
‘I understand: “Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place”’?”
“Our teachings are rooted in the Buddha. …”
“A mendicant must develop and cultivate one faculty so that they can declare enlightenment.
What one? The faculty of wisdom. When a noble disciple has wisdom, the faith, energy, mindfulness, and immersion that follow along with that become stabilized.
This is the one faculty that a mendicant must develop and cultivate so that they can declare enlightenment:
‘I understand: “Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place”’.”
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi, tại Ðông Viên, ở lầu đài của mẹ Migāra.
Vi-n 2 Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Bao nhiêu căn được tu tập, được làm cho sung mãn, này các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc có thể trả lời với chánh trí rằng: “Sanh đã tận … không còn trở lui trạng thái này nữa”?
—Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản …
Vi-n 3 —Do tu tập, do làm cho sung mãn chỉ một căn, này các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, có thể trả lời với chánh trí rằng: “Sanh đã tận … không còn trở lui trạng thái này nữa”. Một căn ấy là căn gì?
Vi-n 4 Với vị Thánh đệ tử có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, tất nhiên (tadanvayà) tín được an trú, tất nhiên tinh tấn được an trú, tất nhiên niệm được an trú, tất nhiên định được an trú.
Vi-n 5 Do tu tập, do làm cho sung mãn chỉ một căn này, này các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, có thể trả lời với chánh trí rằng: “Sanh đã tận … không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati pubbārāme migāramātupāsāde.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“katinaṁ nu kho, bhikkhave, indriyānaṁ bhāvitattā bahulīkatattā khīṇāsavo bhikkhu aññaṁ byākaroti:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāmī”ti?
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā …pe…
“ekassa kho, bhikkhave, indriyassa bhāvitattā bahulīkatattā khīṇāsavo bhikkhu aññaṁ byākaroti:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāmīti.
Katamassa ekassa paññindriyassa paññavato, bhikkhave, ariyasāvakassa tadanvayā saddhā saṇṭhāti, tadanvayaṁ vīriyaṁ saṇṭhāti, tadanvayā sati saṇṭhāti, tadanvayo samādhi saṇṭhāti.
Imassa kho, bhikkhave, ekassa indriyassa bhāvitattā bahulīkatattā khīṇāsavo bhikkhu aññaṁ byākaroti:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāmī”ti.
Pañcamaṁ.