Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Tôn giả Ānanda ở Sāvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anāthapiṇḍika.
Vi-n 2 Ở đây, Tôn giả Ānanda gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo.
—Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ānanda. Tôn giả Ānanda nói như sau:
Vi-n 3 —Chư Hiền giả, Tôn giả Puñña Mantāniputta, lúc chúng ta mới tu học, đã giúp đỡ chúng ta nhiều. Vị ấy giáo giới chúng ta với lời giáo giới này: Này Hiền giả Ānanda, do chấp thủ, khởi lên (tư tưởng) “Tôi là”, không phải không chấp thủ.
Vi-n 4 Do chấp thủ gì, khởi lên (tư tưởng) “Tôi là”, không phải không chấp thủ. Do chấp thủ sắc, khởi lên (tư tưởng) “Tôi là”, không phải không chấp thủ. Do chấp thủ thọ … tưởng … các hành … Do chấp thủ thức, khởi lên (tư tưởng) “Tôi là”, không phải không chấp thủ.
Vi-n 5 Này Hiền giả Ānanda, ví như một người đàn bà hay người đàn ông, hay người trẻ tuổi, ưa thích trang điểm, ngắm bóng mặt của mình trong một tấm gương sạch sẽ, trong sáng, hay trong một bát nước trong, thấy được do duyên chấp thủ, không phải không chấp thủ. Cũng vậy, này Hiền giả Ānanda, do chấp thủ sắc, nên có (tư tưởng) “Tôi là”, không phải không chấp thủ. Do chấp thủ thọ … tưởng … các hành … do chấp thủ thức, nên có (tư tưởng) “Tôi là”, không phải không chấp thủ.
Vi-n 6 Hiền giả Ānanda, Hiền giả nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?
—Là vô thường, Hiền giả.
Vi-n 7-10. —Thọ … tưởng … các hành … thức là thường hay vô thường?
—Là vô thường, Hiền giả.
Vi-n 11-12. —Do thấy vậy … vị ấy biết ” … không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vi-n 13 Chư Hiền giả, Tôn giả Puñña Mantāniputta, khi chúng tôi mới tu học, đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều. Tôn giả ấy giảng cho chúng tôi lời giáo giới này. Sau khi nghe Tôn giả Puñña Mantāniputta thuyết pháp, chúng tôi hoàn toàn chứng tri (Chánh) pháp.
Sāvatthinidānaṁ.
Tatra kho āyasmā ānando bhikkhū āmantesi:
“āvuso bhikkhave”ti.
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato ānandassa paccassosuṁ.
Āyasmā ānando etadavoca:
“Puṇṇo nāma, āvuso, āyasmā mantāṇiputto amhākaṁ navakānaṁ sataṁ bahūpakāro hoti.
So amhe iminā ovādena ovadati:
‘upādāya, āvuso ānanda, asmīti hoti, no anupādāya.
Kiñca upādāya asmīti hoti, no anupādāya?
Rūpaṁ upādāya asmīti hoti, no anupādāya.
Vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ upādāya asmīti hoti, no anupādāya.
Seyyathāpi, āvuso ānanda, itthī vā puriso vā daharo yuvā maṇḍanakajātiko ādāse vā parisuddhe pariyodāte acche vā udakapatte sakaṁ mukhanimittaṁ paccavekkhamāno upādāya passeyya, no anupādāya;
evameva kho, āvuso ānanda, rūpaṁ upādāya asmīti hoti, no anupādāya.
Vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ upādāya asmīti hoti, no anupādāya.
Taṁ kiṁ maññasi, āvuso ānanda,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā’ti?
‘Aniccaṁ, āvuso’.
‘Vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā’ti?
‘Aniccaṁ, āvuso’ …pe….
Tasmātiha …pe…
evaṁ passaṁ …pe…
nāparaṁ itthattāyāti pajānātīti.
Puṇṇo nāma, āvuso, āyasmā mantāṇiputto amhākaṁ navakānaṁ sataṁ bahūpakāro hoti.
So amhe iminā ovādena ovadati.
Idañca pana me āyasmato puṇṇassa mantāṇiputtassa dhammadesanaṁ sutvā dhammo abhisamito”ti.
Paṭhamaṁ.
SC 1At Savatthi. There the Venerable Ānanda addressed the bhikkhus thus: “Friends, bhikkhus!”
SC 2“Friend!” those bhikkhus replied. The Venerable Ānanda said this:
SC 3“Friends, the Venerable Puṇṇa Mantaniputta was very helpful to us when we were newly ordained. He exhorted us with the following exhortation:
SC 4“It is by clinging, Ānanda, that the notion ‘I am’ occurs, not without clinging. And by clinging to what does ‘I am’ occur, not without clinging? It is by clinging to form that ‘I am’ occurs, not without clinging. It is by clinging to feeling … to perception … to volitional formations … to consciousness that ‘I am’ occurs, not without clinging.
SC 5“Suppose, friend Ānanda, a young woman—or a man—youthful and fond of ornaments, would examine her own facial image in a mirror or in a bowl filled with pure, clear, clean water: she would look at it with clinging, not without clinging. So too, it is by clinging to form that ‘I am’ occurs, not without clinging. It is by clinging to feeling … to perception … to volitional formations … to consciousness that ‘I am’ occurs, not without clinging.
SC 6“What do you think, friend Ānanda, is form permanent or impermanent?”… as in preceding sutta … “Seeing thus … He understands: ‘… there is no more for this state of being.’”
SC 7“Friends, the Venerable Puṇṇa Mantaniputta sn.iii.106 was very helpful to us when we were newly ordained. He exhorted us with that exhortation. And when I heard his Dhamma teaching I made the breakthrough to the Dhamma.”
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Tôn giả Ānanda ở Sāvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anāthapiṇḍika.
Vi-n 2 Ở đây, Tôn giả Ānanda gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo.
—Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ānanda. Tôn giả Ānanda nói như sau:
Vi-n 3 —Chư Hiền giả, Tôn giả Puñña Mantāniputta, lúc chúng ta mới tu học, đã giúp đỡ chúng ta nhiều. Vị ấy giáo giới chúng ta với lời giáo giới này: Này Hiền giả Ānanda, do chấp thủ, khởi lên (tư tưởng) “Tôi là”, không phải không chấp thủ.
Vi-n 4 Do chấp thủ gì, khởi lên (tư tưởng) “Tôi là”, không phải không chấp thủ. Do chấp thủ sắc, khởi lên (tư tưởng) “Tôi là”, không phải không chấp thủ. Do chấp thủ thọ … tưởng … các hành … Do chấp thủ thức, khởi lên (tư tưởng) “Tôi là”, không phải không chấp thủ.
Vi-n 5 Này Hiền giả Ānanda, ví như một người đàn bà hay người đàn ông, hay người trẻ tuổi, ưa thích trang điểm, ngắm bóng mặt của mình trong một tấm gương sạch sẽ, trong sáng, hay trong một bát nước trong, thấy được do duyên chấp thủ, không phải không chấp thủ. Cũng vậy, này Hiền giả Ānanda, do chấp thủ sắc, nên có (tư tưởng) “Tôi là”, không phải không chấp thủ. Do chấp thủ thọ … tưởng … các hành … do chấp thủ thức, nên có (tư tưởng) “Tôi là”, không phải không chấp thủ.
Vi-n 6 Hiền giả Ānanda, Hiền giả nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?
—Là vô thường, Hiền giả.
Vi-n 7-10. —Thọ … tưởng … các hành … thức là thường hay vô thường?
—Là vô thường, Hiền giả.
Vi-n 11-12. —Do thấy vậy … vị ấy biết ” … không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vi-n 13 Chư Hiền giả, Tôn giả Puñña Mantāniputta, khi chúng tôi mới tu học, đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều. Tôn giả ấy giảng cho chúng tôi lời giáo giới này. Sau khi nghe Tôn giả Puñña Mantāniputta thuyết pháp, chúng tôi hoàn toàn chứng tri (Chánh) pháp.
Sāvatthinidānaṁ.
Tatra kho āyasmā ānando bhikkhū āmantesi:
“āvuso bhikkhave”ti.
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato ānandassa paccassosuṁ.
Āyasmā ānando etadavoca:
“Puṇṇo nāma, āvuso, āyasmā mantāṇiputto amhākaṁ navakānaṁ sataṁ bahūpakāro hoti.
So amhe iminā ovādena ovadati:
‘upādāya, āvuso ānanda, asmīti hoti, no anupādāya.
Kiñca upādāya asmīti hoti, no anupādāya?
Rūpaṁ upādāya asmīti hoti, no anupādāya.
Vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ upādāya asmīti hoti, no anupādāya.
Seyyathāpi, āvuso ānanda, itthī vā puriso vā daharo yuvā maṇḍanakajātiko ādāse vā parisuddhe pariyodāte acche vā udakapatte sakaṁ mukhanimittaṁ paccavekkhamāno upādāya passeyya, no anupādāya;
evameva kho, āvuso ānanda, rūpaṁ upādāya asmīti hoti, no anupādāya.
Vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ upādāya asmīti hoti, no anupādāya.
Taṁ kiṁ maññasi, āvuso ānanda,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā’ti?
‘Aniccaṁ, āvuso’.
‘Vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā’ti?
‘Aniccaṁ, āvuso’ …pe….
Tasmātiha …pe…
evaṁ passaṁ …pe…
nāparaṁ itthattāyāti pajānātīti.
Puṇṇo nāma, āvuso, āyasmā mantāṇiputto amhākaṁ navakānaṁ sataṁ bahūpakāro hoti.
So amhe iminā ovādena ovadati.
Idañca pana me āyasmato puṇṇassa mantāṇiputtassa dhammadesanaṁ sutvā dhammo abhisamito”ti.
Paṭhamaṁ.