Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Do duyên cả hai, này các Tỷ-kheo, thức hiện hữu. Này các Tỷ-kheo, thế nào là do duyên cả hai, thức hiện hữu?
Vi-n 3 Do duyên mắt và các sắc, khởi lên nhãn thức. Mắt là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Các sắc là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Như vậy, cả hai này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Nhãn thức là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Do nhân nào, do duyên nào, nhãn thức khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, nhãn thức này khởi lên từ một duyên vô thường, từ đâu sẽ thành thường còn được? Này các Tỷ-kheo, sự hợp hội, tụ tập, hòa hợp của ba pháp này, này các Tỷ-kheo, đây gọi là nhãn xúc. Nhãn xúc cũng vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Do nhân nào, do duyên nào, nhãn xúc khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, nhãn xúc này khởi lên từ một duyên vô thường, từ đâu sẽ trở thành thường còn được? Do xúc nên có cảm thọ, do xúc nên có tư lường, do xúc nên có hay biết. Ở đây, các pháp này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác.
Vi-n 4 Và do duyên tai và các tiếng khởi lên nhĩ thức …
Vi-n 5 Và do duyên mũi và các hương khởi lên tỷ thức …
Vi-n 6 Và do duyên lưỡi và các vị khởi lên thiệt thức …
Vi-n 7 Và do duyên thân và các xúc khởi lên thân thức …
Vi-n 8 Và do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức. Ý là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Các pháp là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Ở đây, cả hai cái này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Ý thức là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho ý thức khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, ý thức khởi lên do duyên vô thường, thời từ đâu sẽ thường còn được? Này các Tỷ-kheo, sự hợp hội, tụ tập, hòa hợp của ba pháp này, này các Tỷ-kheo, đây gọi là ý xúc. Ý xúc cũng vô thường, biến hoại, tự tánh là đổi khác. Do nhân gì, duyên gì khiến ý xúc sanh khởi; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, ý xúc khởi lên do duyên vô thường, từ đâu sẽ là thường còn được? Này các Tỷ-kheo, do xúc nên có cảm thọ, do xúc nên có tư lường, do xúc nên có hay biết. Ở đây, các pháp này là biến động, tiêu tan, vô thường biến hoại, tự tánh đổi khác.
Vi-n 9 Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên cả hai, thức hiện hữu.
“Dvayaṁ, bhikkhave, paṭicca viññāṇaṁ sambhoti.
Kathañca, bhikkhave, dvayaṁ paṭicca viññāṇaṁ sambhoti?
Cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ.
Cakkhu aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi.
Rūpā aniccā vipariṇāmino aññathābhāvino.
Itthetaṁ dvayaṁ calañceva byathañca aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi.
Cakkhuviññāṇaṁ aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi.
Yopi hetu yopi paccayo cakkhuviññāṇassa uppādāya, sopi hetu sopi paccayo anicco vipariṇāmī aññathābhāvī.
Aniccaṁ kho pana, bhikkhave, paccayaṁ paṭicca uppannaṁ cakkhuviññāṇaṁ kuto niccaṁ bhavissati.
Yā kho, bhikkhave, imesaṁ tiṇṇaṁ dhammānaṁ saṅgati sannipāto samavāyo, ayaṁ vuccati cakkhusamphasso.
Cakkhusamphassopi anicco vipariṇāmī aññathābhāvī.
Yopi hetu yopi paccayo cakkhusamphassassa uppādāya, sopi hetu sopi paccayo anicco vipariṇāmī aññathābhāvī.
Aniccaṁ kho pana, bhikkhave, paccayaṁ paṭicca uppanno cakkhusamphasso kuto nicco bhavissati.
Phuṭṭho, bhikkhave, vedeti, phuṭṭho ceteti, phuṭṭho sañjānāti.
Itthetepi dhammā calā ceva byathā ca aniccā vipariṇāmino aññathābhāvino …pe…
Jivhañca paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṁ.
Jivhā aniccā vipariṇāmī aññathābhāvī.
Rasā aniccā vipariṇāmino aññathābhāvino.
Itthetaṁ dvayaṁ calañceva byathañca aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi.
Jivhāviññāṇaṁ aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi.
Yopi hetu yopi paccayo jivhāviññāṇassa uppādāya, sopi hetu sopi paccayo anicco vipariṇāmī aññathābhāvī.
Aniccaṁ kho pana, bhikkhave, paccayaṁ paṭicca uppannaṁ jivhāviññāṇaṁ, kuto niccaṁ bhavissati.
Yā kho, bhikkhave, imesaṁ tiṇṇaṁ dhammānaṁ saṅgati sannipāto samavāyo, ayaṁ vuccati jivhāsamphasso.
Jivhāsamphassopi anicco vipariṇāmī aññathābhāvī.
Yopi hetu yopi paccayo jivhāsamphassassa uppādāya, sopi hetu sopi paccayo anicco vipariṇāmī aññathābhāvī.
Aniccaṁ kho pana, bhikkhave, paccayaṁ paṭicca uppanno jivhāsamphasso, kuto nicco bhavissati.
Phuṭṭho, bhikkhave, vedeti, phuṭṭho ceteti, phuṭṭho sañjānāti.
Itthetepi dhammā calā ceva byathā ca aniccā vipariṇāmino aññathābhāvino …pe…
Manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ.
Mano anicco vipariṇāmī aññathābhāvī.
Dhammā aniccā vipariṇāmino aññathābhāvino.
Itthetaṁ dvayaṁ calañceva byathañca aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi.
Manoviññāṇaṁ aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi.
Yopi hetu yopi paccayo manoviññāṇassa uppādāya, sopi hetu sopi paccayo anicco vipariṇāmī aññathābhāvī.
Aniccaṁ kho pana, bhikkhave, paccayaṁ paṭicca uppannaṁ manoviññāṇaṁ, kuto niccaṁ bhavissati.
Yā kho, bhikkhave, imesaṁ tiṇṇaṁ dhammānaṁ saṅgati sannipāto samavāyo, ayaṁ vuccati manosamphasso.
Manosamphassopi anicco vipariṇāmī aññathābhāvī.
Yopi hetu yopi paccayo manosamphassassa uppādāya, sopi hetu sopi paccayo anicco vipariṇāmī aññathābhāvī.
Aniccaṁ kho pana, bhikkhave, paccayaṁ paṭicca uppanno manosamphasso, kuto nicco bhavissati.
Phuṭṭho, bhikkhave, vedeti, phuṭṭho ceteti, phuṭṭho sañjānāti.
Itthetepi dhammā calā ceva byathā ca aniccā vipariṇāmino aññathābhāvino.
Evaṁ kho, bhikkhave, dvayaṁ paṭicca viññāṇaṁ sambhotī”ti.
Dasamaṁ.
Channavaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Palokasuññā saṅkhittaṁ,
channo puṇṇo ca bāhiyo;
Ejena ca duve vuttā,
dvayehi apare duveti.
SC 1“Bhikkhus, consciousness comes to be in dependence on a dyad. And how, bhikkhus, does consciousness come to be in dependence on a dyad? In dependence on the eye and forms there arises eye-consciousness. The eye is impermanent, changing, becoming otherwise; sn.iv.68 forms are impermanent, changing, becoming otherwise. Thus this dyad is moving and tottering, impermanent, changing, becoming otherwise.
SC 2“Eye-consciousness is impermanent, changing, becoming otherwise. The cause and condition for the arising of eye-consciousness is also impermanent, changing, becoming otherwise. When, bhikkhus, eye-consciousness has arisen in dependence on a condition that is impermanent, how could it be permanent?
SC 3“The meeting, the encounter, the concurrence of these three things is called eye-contact. Eye-contact too is impermanent, changing, becoming otherwise. The cause and condition for the arising of eye-contact is also impermanent, changing, becoming otherwise. When, bhikkhus, eye-contact has arisen in dependence on a condition that is impermanent, how could it be permanent?
SC 4“Contacted, bhikkhus, one feels, contacted one intends, contacted one perceives. Thus these things too are moving and tottering, impermanent, changing, becoming otherwise.
SC 5“In dependence on the ear and sounds there arises ear-consciousness … sn.iv.69 … In dependence on the mind and mental phenomena there arises mind-consciousness. The mind is impermanent, changing, becoming otherwise; mental phenomena are impermanent, changing, becoming otherwise. Thus this dyad is moving and tottering, impermanent, changing, becoming otherwise.
SC 6“Mind-consciousness is impermanent, changing, becoming otherwise. The cause and condition for the arising of mind-consciousness is also impermanent, changing, becoming otherwise. When, bhikkhus, mind-consciousness has arisen in dependence on a condition that is impermanent, how could it be permanent?
SC 7“The meeting, the encounter, the concurrence of these three things is called mind-contact. Mind-contact too is impermanent, changing, becoming otherwise. The cause and condition for the arising of mind-contact is also impermanent, changing, becoming otherwise. When, bhikkhus, mind-contact has arisen in dependence on a condition that is impermanent, how could it be permanent?
SC 8“Contacted, bhikkhus, one feels, contacted one intends, contacted one perceives. Thus these things too are moving and tottering, impermanent, changing, becoming otherwise.
SC 9“It is in such a way, bhikkhus, that consciousness comes to be in dependence on a dyad.”
sn.iv.70
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Do duyên cả hai, này các Tỷ-kheo, thức hiện hữu. Này các Tỷ-kheo, thế nào là do duyên cả hai, thức hiện hữu?
Vi-n 3 Do duyên mắt và các sắc, khởi lên nhãn thức. Mắt là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Các sắc là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Như vậy, cả hai này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Nhãn thức là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Do nhân nào, do duyên nào, nhãn thức khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, nhãn thức này khởi lên từ một duyên vô thường, từ đâu sẽ thành thường còn được? Này các Tỷ-kheo, sự hợp hội, tụ tập, hòa hợp của ba pháp này, này các Tỷ-kheo, đây gọi là nhãn xúc. Nhãn xúc cũng vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Do nhân nào, do duyên nào, nhãn xúc khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, nhãn xúc này khởi lên từ một duyên vô thường, từ đâu sẽ trở thành thường còn được? Do xúc nên có cảm thọ, do xúc nên có tư lường, do xúc nên có hay biết. Ở đây, các pháp này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác.
Vi-n 4 Và do duyên tai và các tiếng khởi lên nhĩ thức …
Vi-n 5 Và do duyên mũi và các hương khởi lên tỷ thức …
Vi-n 6 Và do duyên lưỡi và các vị khởi lên thiệt thức …
Vi-n 7 Và do duyên thân và các xúc khởi lên thân thức …
Vi-n 8 Và do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức. Ý là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Các pháp là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Ở đây, cả hai cái này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Ý thức là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho ý thức khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, ý thức khởi lên do duyên vô thường, thời từ đâu sẽ thường còn được? Này các Tỷ-kheo, sự hợp hội, tụ tập, hòa hợp của ba pháp này, này các Tỷ-kheo, đây gọi là ý xúc. Ý xúc cũng vô thường, biến hoại, tự tánh là đổi khác. Do nhân gì, duyên gì khiến ý xúc sanh khởi; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, ý xúc khởi lên do duyên vô thường, từ đâu sẽ là thường còn được? Này các Tỷ-kheo, do xúc nên có cảm thọ, do xúc nên có tư lường, do xúc nên có hay biết. Ở đây, các pháp này là biến động, tiêu tan, vô thường biến hoại, tự tánh đổi khác.
Vi-n 9 Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên cả hai, thức hiện hữu.
“Dvayaṁ, bhikkhave, paṭicca viññāṇaṁ sambhoti.
Kathañca, bhikkhave, dvayaṁ paṭicca viññāṇaṁ sambhoti?
Cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ.
Cakkhu aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi.
Rūpā aniccā vipariṇāmino aññathābhāvino.
Itthetaṁ dvayaṁ calañceva byathañca aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi.
Cakkhuviññāṇaṁ aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi.
Yopi hetu yopi paccayo cakkhuviññāṇassa uppādāya, sopi hetu sopi paccayo anicco vipariṇāmī aññathābhāvī.
Aniccaṁ kho pana, bhikkhave, paccayaṁ paṭicca uppannaṁ cakkhuviññāṇaṁ kuto niccaṁ bhavissati.
Yā kho, bhikkhave, imesaṁ tiṇṇaṁ dhammānaṁ saṅgati sannipāto samavāyo, ayaṁ vuccati cakkhusamphasso.
Cakkhusamphassopi anicco vipariṇāmī aññathābhāvī.
Yopi hetu yopi paccayo cakkhusamphassassa uppādāya, sopi hetu sopi paccayo anicco vipariṇāmī aññathābhāvī.
Aniccaṁ kho pana, bhikkhave, paccayaṁ paṭicca uppanno cakkhusamphasso kuto nicco bhavissati.
Phuṭṭho, bhikkhave, vedeti, phuṭṭho ceteti, phuṭṭho sañjānāti.
Itthetepi dhammā calā ceva byathā ca aniccā vipariṇāmino aññathābhāvino …pe…
Jivhañca paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṁ.
Jivhā aniccā vipariṇāmī aññathābhāvī.
Rasā aniccā vipariṇāmino aññathābhāvino.
Itthetaṁ dvayaṁ calañceva byathañca aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi.
Jivhāviññāṇaṁ aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi.
Yopi hetu yopi paccayo jivhāviññāṇassa uppādāya, sopi hetu sopi paccayo anicco vipariṇāmī aññathābhāvī.
Aniccaṁ kho pana, bhikkhave, paccayaṁ paṭicca uppannaṁ jivhāviññāṇaṁ, kuto niccaṁ bhavissati.
Yā kho, bhikkhave, imesaṁ tiṇṇaṁ dhammānaṁ saṅgati sannipāto samavāyo, ayaṁ vuccati jivhāsamphasso.
Jivhāsamphassopi anicco vipariṇāmī aññathābhāvī.
Yopi hetu yopi paccayo jivhāsamphassassa uppādāya, sopi hetu sopi paccayo anicco vipariṇāmī aññathābhāvī.
Aniccaṁ kho pana, bhikkhave, paccayaṁ paṭicca uppanno jivhāsamphasso, kuto nicco bhavissati.
Phuṭṭho, bhikkhave, vedeti, phuṭṭho ceteti, phuṭṭho sañjānāti.
Itthetepi dhammā calā ceva byathā ca aniccā vipariṇāmino aññathābhāvino …pe…
Manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ.
Mano anicco vipariṇāmī aññathābhāvī.
Dhammā aniccā vipariṇāmino aññathābhāvino.
Itthetaṁ dvayaṁ calañceva byathañca aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi.
Manoviññāṇaṁ aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi.
Yopi hetu yopi paccayo manoviññāṇassa uppādāya, sopi hetu sopi paccayo anicco vipariṇāmī aññathābhāvī.
Aniccaṁ kho pana, bhikkhave, paccayaṁ paṭicca uppannaṁ manoviññāṇaṁ, kuto niccaṁ bhavissati.
Yā kho, bhikkhave, imesaṁ tiṇṇaṁ dhammānaṁ saṅgati sannipāto samavāyo, ayaṁ vuccati manosamphasso.
Manosamphassopi anicco vipariṇāmī aññathābhāvī.
Yopi hetu yopi paccayo manosamphassassa uppādāya, sopi hetu sopi paccayo anicco vipariṇāmī aññathābhāvī.
Aniccaṁ kho pana, bhikkhave, paccayaṁ paṭicca uppanno manosamphasso, kuto nicco bhavissati.
Phuṭṭho, bhikkhave, vedeti, phuṭṭho ceteti, phuṭṭho sañjānāti.
Itthetepi dhammā calā ceva byathā ca aniccā vipariṇāmino aññathābhāvino.
Evaṁ kho, bhikkhave, dvayaṁ paṭicca viññāṇaṁ sambhotī”ti.
Dasamaṁ.
Channavaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Palokasuññā saṅkhittaṁ,
channo puṇṇo ca bāhiyo;
Ejena ca duve vuttā,
dvayehi apare duveti.