Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở tại Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tôn giả Sāriputta, Tôn giả Mahà Cunda và Tôn giả Channa trú ở núi Gijjhakù.
Vi-n 3 Lúc bấy giờ, Tôn giả Channa bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.
Vi-n 4 Rồi Tôn giả Sāriputta, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Cunda; sau khi đến nói với Tôn giả Mahà Cunda:
—Này Hiền giả Cunda, chúng ta hãy đi đến Tôn giả Channa để hỏi thăm về bệnh hoạn.
—Thưa vâng, Hiền giả.
Tôn giả Mahà Cunda vâng đáp Tôn giả Sāriputta.
Vi-n 5 Rồi Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahà Cunda đi đến Tôn giả Channa, sau khi đến ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
Vi-n 6-7. Sau khi ngồi, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Channa:
—Này Hiền giả Channa, Hiền giả có kham nhẫn được chăng? Có chịu đựng được chăng? Có phải khổ thọ giảm thiểu, không có tăng trưởng? Có phải có triệu chứng giảm thiểu, không phải tăng trưởng?
—Thưa Hiền giả Sāriputta tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng. Mãnh liệt là các khổ thọ tôi cảm giác! Chúng tăng trưởng, không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không phải giảm thiểu.
Vi-n 8 Này Hiền giả, ví như một người lực sĩ chém đầu một người khác với một thanh kiếm sắc. Cũng vậy, này Hiền giả, những ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói trong đầu tôi. Thưa Hiền giả, tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng … không phải giảm thiểu.
Vi-n 9 Này Hiền giả, ví như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng quấn tròn quanh đầu rồi xiết mạnh. Cũng vậy, này Hiền giả, tôi cảm thấy đau đầu một cách kinh khủng. Này Hiền giả, tôi không thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng … không phải giảm thiểu.
Vi-n 10 Này Hiền giả, ví như một người đồ tể thiện xảo hay một đệ tử người đồ tể mổ bụng với một con dao cắt thịt bò sắc bén. Cũng vậy, này Hiền giả, những ngọn gió kinh khủng cắt mổ bụng của tôi. Thưa Hiền giả, tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng … không phải giảm thiểu.
Vi-n 11 Này Hiền giả, ví như hai người lực sĩ sau khi nắm một người yếu hơn với những cánh tay của mình, nướng người ấy, đốt người ấy trên một hố than hừng. Cũng vậy, này Hiền giả, một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân tôi. Này Hiền giả, tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng. Mãnh liệt là các khổ thọ tôi cảm giác! Chúng tăng trưởng, không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không phải giảm thiểu.
Vi-n 12 Thưa Hiền giả Sāriputta, tôi sẽ đem lại con dao. Tôi không muốn sống nữa.
Vi-n 13 —Tôn giả Channa, chớ có đem lại con dao! Tôn giả Channa, hãy chịu đựng! Chúng tôi muốn Tôn giả Channa chịu đựng. Nếu Tôn giả Channa không có các món ăn, không có các dược phẩm thích hợp, thời tôi sẽ tìm các dược phẩm thích hợp cho Tôn giả Channa. Nếu Tôn giả Channa không có người hầu hạ thích ứng, thời tôi sẽ hầu hạ Tôn giả Channa. Tôn giả Channa chớ có đem lại con dao. Tôn giả Channa hãy chịu đựng. Chúng tôi muốn Tôn giả Channa chịu đựng.
Vi-n 14 —Thưa Hiền giả Sāriputta, không phải tôi không có các món ăn thích hợp, tôi có các món ăn thích hợp. Không phải tôi không có các dược phẩm thích hợp, tôi có các dược phẩm thích hợp. Không phải tôi không có những người hầu hạ thích ứng, tôi có những người hầu hạ thích ứng. Ðã lâu ngày tôi hầu hạ bậc Ðạo Sư với tâm thích thú, không phải không thích thú. Ðây, thưa Hiền giả, là xứng đáng với người đệ tử. Vì rằng đã hầu hạ bậc Ðạo Sư với tâm thích thú, không phải không thích thú. Không có phạm tội, nếu Tỷ-kheo Channa đem lại con dao. Này Hiền giả Sāriputta, Hiền giả hãy thọ trì như vậy.
Vi-n 15 —Chúng tôi sẽ hỏi Tôn giả Channa một câu, nếu Tôn giả Channa kham nhẫn được hỏi và trả lời.
—Hãy hỏi đi, Hiền giả Sāriputta, sau khi nghe, chúng ta sẽ biết.
Vi-n 16 —Này Hiền giả Channa, mắt, nhãn thức, những pháp do nhãn thức nhận biết, Hiền giả có quán: ” Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”? … Tai … Mũi … Lưỡi … Thân … Này Hiền giả Channa, ý, ý thức, các pháp do ý thức nhận biết, Hiền giả có quán: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
Vi-n 17 —Này Hiền giả Sāriputta, mắt, nhãn thức, các pháp do nhãn thức nhận biết, tôi quán: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 18 —Này Hiền giả Channa, trong mắt, trong nhãn thức, trong các pháp do nhãn thức nhận biết, do thấy gì, do thắng tri gì mà Hiền giả quán: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”?
Vi-n 19 —Thưa Hiền giả Sāriputta, trong mắt, trong nhãn thức, trong các pháp do nhãn thức nhận biết, sau khi thấy đoạn diệt, sau khi thắng tri đoạn diệt, tôi quán: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Trong tai … Trong mũi … Trong lưỡi … Trong thân. Thưa Hiền giả … Trong ý, trong ý thức, trong các pháp do ý thức nhận biết, sau khi thấy đoạn diệt, sau khi thắng tri đoạn diệt, tôi quán: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 20 Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Mahà Cunda nói với Tôn giả Channa:
—Hiền giả Channa, Hiền giả cần phải luôn luôn chú ý đến lời dạy này của Thế Tôn: “Ai còn tham luyến, thời có dao động; ai không tham luyến, thời không dao động. Ai không dao động, thời được khinh an. Ai được khinh an, thời không thiên chấp. Ai không thiên chấp (nati), thời không có đến và đi. Ai không có đến và đi, thời không có diệt và sanh. Ai không có diệt và sanh, thời không có đời này, đời sau, không có giữa hai đời. Ðây là sự đoạn tận đau khổ”.
Vi-n 21 Rồi Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahà Cunda, sau khi giáo giới Tôn giả Channa với lời giáo giới này, từ chỗ ngồi đứng dậy, và ra đi.
Vi-n 22 Tôn giả Channa, sau khi hai vị Tôn giả ấy đi không bao lâu, liền đem lại con dao.
Vi-n 23 Rồi Tôn giả Sāriputta đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 24 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sāriputta bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Tôn giả Channa đã đem lại con dao. Sanh thú của vị ấy là gì? Ðời sau vị ấy sẽ như thế nào?
—Có phải trước mặt Ông, này Sāriputta, Tỷ-kheo Channa đã tuyên bố là không phạm tội?
Vi-n 25 —Thưa có, bạch Thế Tôn. Có một làng của dân tộc Vajjī tên là Pubbavijjhamam; tại đấy, có những gia đình thân hữu, có những gia đình thân thích với Tôn giả Channa, chính những gia đình ấy mới có lỗi.
Vi-n 26 —Này Sāriputta, những gia đình thân hữu và những gia đình thân thích ấy của Tôn giả Channa là những gia đình có lỗi. Tuy vậy, này Sāriputta, với sự việc như vậy, Ta không nói Channa là có lỗi. Này Sāriputta, ai bỏ thân này và chấp thủ thân khác; người ấy, Ta nói là có lỗi. Nhưng Tỷ-kheo Channa thời không vậy. Tỷ-kheo Channa không có tội lỗi khi đem lại con dao. Này Sàriputtra, Ông cần phải thọ trì như vậy.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Tena kho pana samayena āyasmā ca sāriputto āyasmā ca mahācundo āyasmā ca channo gijjhakūṭe pabbate viharanti.
Tena kho pana samayena yena āyasmā channo ābādhiko hoti dukkhito bāḷhagilāno.
Atha kho āyasmā sāriputto sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā mahācundo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ mahācundaṁ etadavoca:
“āyāmāvuso cunda, yenāyasmā channo tenupasaṅkamissāma gilānapucchakā”ti.
“Evamāvuso”ti kho āyasmā mahācundo āyasmato sāriputtassa paccassosi.
Atha kho āyasmā ca sāriputto āyasmā ca mahācundo yenāyasmā channo tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdiṁsu. Nisajja kho āyasmā sāriputto āyasmantaṁ channaṁ etadavoca:
“kacci te, āvuso channa, khamanīyaṁ, kacci yāpanīyaṁ, kacci dukkhā vedanā paṭikkamanti no abhikkamanti, paṭikkamosānaṁ paññāyati no abhikkamo”ti?
“Na me, āvuso sāriputta, khamanīyaṁ na yāpanīyaṁ, bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti no paṭikkamanti, abhikkamosānaṁ paññāyati no paṭikkamo.
Seyyathāpi, āvuso, balavā puriso tiṇhena sikharena muddhani abhimattheyya; evameva kho, āvuso, adhimattā vātā muddhani ūhananti.
Na me, āvuso, khamanīyaṁ, na yāpanīyaṁ …pe… no paṭikkamo.
Seyyathāpi, āvuso, balavā puriso daḷhena varattakkhaṇḍena sīse sīsaveṭhaṁ dadeyya; evameva kho, āvuso, adhimattā sīse sīsavedanā.
Na me, āvuso, khamanīyaṁ, na yāpanīyaṁ …pe… no paṭikkamo.
Seyyathāpi, āvuso, dakkho goghātako vā goghātakantevāsī vā tiṇhena govikantanena kucchiṁ parikanteyya; evameva kho adhimattā vātā kucchiṁ parikantanti.
Na me, āvuso, khamanīyaṁ, na yāpanīyaṁ …pe… no paṭikkamo.
Seyyathāpi, āvuso, dve balavanto purisā dubbalataraṁ purisaṁ nānābāhāsu gahetvā aṅgārakāsuyā santāpeyyuṁ samparitāpeyyuṁ; evameva kho, āvuso, adhimatto kāyasmiṁ ḍāho.
Na me, āvuso, khamanīyaṁ, na yāpanīyaṁ, bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti no paṭikkamanti, abhikkamosānaṁ paññāyati no paṭikkamo.
Satthaṁ, āvuso sāriputta, āharissāmi, nāvakaṅkhāmi jīvitan”ti.
“Mā āyasmā channo satthaṁ āharesi.
Yāpetāyasmā channo, yāpentaṁ mayaṁ āyasmantaṁ channaṁ icchāma.
Sace āyasmato channassa natthi sappāyāni bhojanāni, ahaṁ āyasmato channassa sappāyāni bhojanāni pariyesissāmi.
Sace āyasmato channassa natthi sappāyāni bhesajjāni, ahaṁ āyasmato channassa sappāyāni bhesajjāni pariyesissāmi.
Sace āyasmato channassa natthi patirūpā upaṭṭhākā, ahaṁ āyasmantaṁ channaṁ upaṭṭhahissāmi.
Mā āyasmā channo satthaṁ āharesi.
Yāpetāyasmā channo, yāpentaṁ mayaṁ āyasmantaṁ channaṁ icchāmā”ti.
“Na me, āvuso sāriputta, natthi sappāyāni bhojanāni;
atthi me sappāyāni bhojanāni.
Napi me natthi sappāyāni bhesajjāni;
atthi me sappāyāni bhesajjāni.
Napi me natthi patirūpā upaṭṭhākā;
atthi me patirūpā upaṭṭhākā.
Api ca me, āvuso, satthā pariciṇṇo dīgharattaṁ manāpeneva, no amanāpena.
Etañhi, āvuso, sāvakassa patirūpaṁ yaṁ satthāraṁ paricareyya manāpeneva, no amanāpena.
‘Anupavajjaṁ channo bhikkhu satthaṁ āharissatī’ti—evametaṁ, āvuso sāriputta, dhārehī”ti.
“Puccheyyāma mayaṁ āyasmantaṁ channaṁ kañcideva desaṁ, sace āyasmā channo okāsaṁ karoti pañhassa veyyākaraṇāyā”ti.
“Pucchāvuso sāriputta, sutvā vedissāmā”ti.
“Cakkhuṁ, āvuso channa, cakkhuviññāṇaṁ cakkhuviññāṇaviññātabbe dhamme ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassasi …pe…
jivhaṁ, āvuso channa, jivhāviññāṇaṁ jivhāviññāṇaviññātabbe dhamme ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassasi …pe…
manaṁ, āvuso channa, manoviññāṇaṁ manoviññāṇaviññātabbe dhamme ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassasī”ti?
“Cakkhuṁ, āvuso sāriputta, cakkhuviññāṇaṁ cakkhuviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassāmi …pe…
jivhaṁ, āvuso sāriputta, jivhāviññāṇaṁ jivhāviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassāmi …pe…
manaṁ, āvuso sāriputta, manoviññāṇaṁ manoviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassāmī”ti.
“Cakkhusmiṁ, āvuso channa, cakkhuviññāṇe cakkhuviññāṇaviññātabbesu dhammesu kiṁ disvā kiṁ abhiññāya cakkhuṁ cakkhuviññāṇaṁ cakkhuviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassasi …
jivhāya, āvuso channa, jivhāviññāṇe jivhāviññāṇaviññātabbesu dhammesu kiṁ disvā kiṁ abhiññāya jivhaṁ jivhāviññāṇaṁ jivhāviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassasi …
manasmiṁ, āvuso channa, manoviññāṇe manoviññāṇaviññātabbesu dhammesu kiṁ disvā kiṁ abhiññāya manaṁ manoviññāṇaṁ manoviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassasī”ti?
“Cakkhusmiṁ, āvuso sāriputta, cakkhuviññāṇe cakkhuviññāṇaviññātabbesu dhammesu nirodhaṁ disvā nirodhaṁ abhiññāya cakkhuṁ cakkhuviññāṇaṁ cakkhuviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassāmi …pe…
jivhāya, āvuso sāriputta, jivhāviññāṇe jivhāviññāṇaviññātabbesu dhammesu nirodhaṁ disvā nirodhaṁ abhiññāya jivhaṁ jivhāviññāṇaṁ jivhāviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassāmi …pe…
manasmiṁ, āvuso sāriputta, manoviññāṇe manoviññāṇaviññātabbesu dhammesu nirodhaṁ disvā nirodhaṁ abhiññāya manaṁ manoviññāṇaṁ manoviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassāmī”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā mahācundo āyasmantaṁ channaṁ etadavoca:
“tasmātiha, āvuso channa, idampi tassa bhagavato sāsanaṁ niccakappaṁ sādhukaṁ manasi kātabbaṁ:
‘nissitassa calitaṁ, anissitassa calitaṁ natthi.
Calite asati passaddhi hoti.
Passaddhiyā sati nati na hoti.
Natiyā asati āgatigati na hoti.
Āgatigatiyā asati cutūpapāto na hoti.
Cutūpapāte asati nevidha na huraṁ na ubhayamantarena.
Esevanto dukkhassā’”ti.
Atha kho āyasmā ca sāriputto āyasmā ca mahācundo āyasmantaṁ channaṁ iminā ovādena ovaditvā uṭṭhāyāsanā pakkamiṁsu.
Atha kho āyasmā channo acirapakkantesu tesu āyasmantesu satthaṁ āharesi.
Atha kho āyasmā sāriputto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto bhagavantaṁ etadavoca:
“āyasmatā, bhante, channena satthaṁ āharitaṁ.
Tassa kā gati ko abhisamparāyo”ti?
“Nanu te, sāriputta, channena bhikkhunā sammukhāyeva anupavajjatā byākatā”ti?
“Atthi, bhante, pubbavijjanaṁ nāma vajjigāmo.
Tatthāyasmato channassa mittakulāni suhajjakulāni upavajjakulānī”ti.
“Honti hete, sāriputta, channassa bhikkhuno mittakulāni suhajjakulāni upavajjakulāni.
Na kho panāhaṁ, sāriputta, ettāvatā saupavajjoti vadāmi.
Yo kho, sāriputta, tañca kāyaṁ nikkhipati, aññañca kāyaṁ upādiyati, tamahaṁ saupavajjoti vadāmi.
Taṁ channassa bhikkhuno natthi.
‘Anupavajjaṁ channena bhikkhunā satthaṁ āharitan’ti—
evametaṁ, sāriputta, dhārehī”ti.
Catutthaṁ.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling at Rajagaha in the Bamboo Grove, the Squirrel Sanctuary. Now on that occasion the Venerable Sāriputta, the Venerable Mahacunda, and the Venerable Channa were dwelling on Mount Vulture Peak, and the Venerable Channa was sick, afflicted, gravely ill. Then, in the evening, the Venerable Sāriputta sn.iv.56 emerged from seclusion, approached the Venerable Mahacunda, and said to him: “Come, friend Cunda, let us approach the Venerable Channa and ask about his illness.”
“Yes, friend,” the Venerable Mahacunda replied.
SC 2Then the Venerable Sāriputta and the Venerable Mahacunda approached the Venerable Channa and exchanged greetings with him, after which they sat down in the appointed seats. The Venerable Sāriputta then said to the Venerable Channa: “I hope you are bearing up, friend Channa, I hope you are getting better. I hope that your painful feelings are subsiding and not increasing, and that their subsiding, not their increase, is to be discerned.”
SC 3“Friend Sāriputta, I am not bearing up, I am not getting better. Strong painful feelings are increasing in me, not subsiding, and their increase, not their subsiding, is to be discerned. Just as if a strong man were to split my head open with a sharp sword, so too violent winds cut through my head. I am not bearing up…. Just as if a strong man were to tighten a tough leather strap around my head as a headband, so too there are violent pains in my head. I am not bearing up…. Just as if a skilled butcher or his apprentice were to carve up an ox’s belly with a sharp butcher’s knife, so too violent winds are carving up my belly. I am not bearing up…. Just as if two strong men were to seize a weaker man by both arms and roast him over a pit of hot coals, sn.iv.57 so too there is a violent burning in my body. I am not bearing up, I am not getting better. Strong painful feelings are increasing in me, not subsiding, and their increase, not their subsiding, is to be discerned. I will use the knife, friend Sāriputta, I have no desire to live.”
SC 4“Let the Venerable Channa not use the knife. Let the Venerable Channa live. We want the Venerable Channa to live. If the Venerable Channa lacks suitable food, I will go in search of suitable food for him; if he lacks suitable medicine, I will go in search of suitable medicine for him; if he lacks a proper attendant, I will attend on him. Let the Venerable Channa not use the knife. Let the Venerable Channa live. We want the Venerable Channa to live.”
SC 5“Friend Sāriputta, it is not that I lack suitable food; I have suitable food. It is not that I lack suitable medicine; I have suitable medicine. It is not that I lack proper attendants; I have proper attendants. Moreover, friend, for a long time the Teacher has been served by me in an agreeable way, not in a disagreeable way; for it is proper for a disciple to serve the Teacher in an agreeable way, not in a disagreeable way. Remember this, friend Sāriputta: the bhikkhu Channa will use the knife blamelessly.”
SC 6“We would ask the Venerable Channa about a certain point, if he would grant us the favour of answering our question.” sn.iv.58
SC 7“Ask, friend Sāriputta. When I have heard I shall know.”
SC 8“Friend Channa, do you regard the eye, eye-consciousness, and things cognizable with eye-consciousness thus: ‘This is mine, this I am, this is my self’? Do you regard the ear, ear-consciousness, and things cognizable with ear-consciousness thus…? Do you regard the mind, mind-consciousness, and things cognizable with mind-consciousness thus: ‘This is mine, this I am, this is my self’?
SC 9“Friend Sāriputta, I regard the eye, eye-consciousness, and things cognizable with eye-consciousness thus: ‘This is not mine, this I am not, this is not my self.’ I regard the ear, ear-consciousness, and things cognizable with ear-consciousness thus…I regard the mind, mind-consciousness, and things cognizable with mind-consciousness thus: ‘This is not mine, this I am not, this is not my self.’”
SC 10“Friend Channa, what have you seen and directly known in the eye, in eye-consciousness, and in things cognizable with eye-consciousness, that you regard them thus: ‘This is not mine, this I am not, this is not my self’? What have you seen and directly known in the ear … in the mind, in mind-consciousness, and in things cognizable with mind-consciousness, that you regard them thus: ‘This is not mine, this I am not, this is not my self’?”
SC 11“Friend Sāriputta, it is because I have seen and directly known cessation in the eye, in eye-consciousness, and in things cognizable with eye-consciousness, that I regard them thus: ‘This is not mine, this I am not, this is not my self.’ It is because I have seen and directly known cessation in the ear … sn.iv.59 … in the mind, in mind-consciousness, and in things cognizable with mind-consciousness, that I regard them thus: ‘This is not mine, this I am not, this is not my self.’”
SC 12When this was said, the Venerable Mahacunda said to the Venerable Channa: “Therefore, friend Channa, this teaching of the Blessed One is to be constantly given close attention: ‘For one who is dependent there is wavering; for one who is independent there is no wavering. When there is no wavering, there is tranquillity; when there is tranquillity, there is no inclination; when there is no inclination, there is no coming and going; when there is no coming and going, there is no passing away and being reborn; when there is no passing away and being reborn, there is neither here nor beyond nor in between the two. This itself is the end of suffering.’”
SC 13Then, when the Venerable Sāriputta and the Venerable Mahacunda had given the Venerable Channa this exhortation, they rose from their seats and departed. Then, soon after they had left, the Venerable Channa used the knife.
SC 14Then the Venerable Sāriputta approached the Blessed One, paid homage to him, sat down to one side, and said to him: “Venerable sir, the Venerable Channa has used the knife. What is his destination, what is his future bourn?”
SC 15“Sāriputta, didn’t the bhikkhu Channa declare his blameless-ness right in your presence?”
SC 16“Venerable sir, there is a Vajjian village named Pubbavijjhana. There the Venerable Channa had friendly families, intimate families, hospitable families.”
SC 17“The Venerable Channa did indeed have these friendly families, Sāriputta, intimate families, hospitable families; but I do not sn.iv.60 say that to this extent one is blameworthy. Sāriputta, when one lays down this body and takes up another body, then I say one is blameworthy. This did not happen in the case of the bhikkhu Channa. The bhikkhu Channa used the knife blamelessly. Thus, Sāriputta, should you remember it.”
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở tại Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tôn giả Sāriputta, Tôn giả Mahà Cunda và Tôn giả Channa trú ở núi Gijjhakù.
Vi-n 3 Lúc bấy giờ, Tôn giả Channa bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.
Vi-n 4 Rồi Tôn giả Sāriputta, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Cunda; sau khi đến nói với Tôn giả Mahà Cunda:
—Này Hiền giả Cunda, chúng ta hãy đi đến Tôn giả Channa để hỏi thăm về bệnh hoạn.
—Thưa vâng, Hiền giả.
Tôn giả Mahà Cunda vâng đáp Tôn giả Sāriputta.
Vi-n 5 Rồi Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahà Cunda đi đến Tôn giả Channa, sau khi đến ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
Vi-n 6-7. Sau khi ngồi, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Channa:
—Này Hiền giả Channa, Hiền giả có kham nhẫn được chăng? Có chịu đựng được chăng? Có phải khổ thọ giảm thiểu, không có tăng trưởng? Có phải có triệu chứng giảm thiểu, không phải tăng trưởng?
—Thưa Hiền giả Sāriputta tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng. Mãnh liệt là các khổ thọ tôi cảm giác! Chúng tăng trưởng, không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không phải giảm thiểu.
Vi-n 8 Này Hiền giả, ví như một người lực sĩ chém đầu một người khác với một thanh kiếm sắc. Cũng vậy, này Hiền giả, những ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói trong đầu tôi. Thưa Hiền giả, tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng … không phải giảm thiểu.
Vi-n 9 Này Hiền giả, ví như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng quấn tròn quanh đầu rồi xiết mạnh. Cũng vậy, này Hiền giả, tôi cảm thấy đau đầu một cách kinh khủng. Này Hiền giả, tôi không thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng … không phải giảm thiểu.
Vi-n 10 Này Hiền giả, ví như một người đồ tể thiện xảo hay một đệ tử người đồ tể mổ bụng với một con dao cắt thịt bò sắc bén. Cũng vậy, này Hiền giả, những ngọn gió kinh khủng cắt mổ bụng của tôi. Thưa Hiền giả, tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng … không phải giảm thiểu.
Vi-n 11 Này Hiền giả, ví như hai người lực sĩ sau khi nắm một người yếu hơn với những cánh tay của mình, nướng người ấy, đốt người ấy trên một hố than hừng. Cũng vậy, này Hiền giả, một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân tôi. Này Hiền giả, tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng. Mãnh liệt là các khổ thọ tôi cảm giác! Chúng tăng trưởng, không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không phải giảm thiểu.
Vi-n 12 Thưa Hiền giả Sāriputta, tôi sẽ đem lại con dao. Tôi không muốn sống nữa.
Vi-n 13 —Tôn giả Channa, chớ có đem lại con dao! Tôn giả Channa, hãy chịu đựng! Chúng tôi muốn Tôn giả Channa chịu đựng. Nếu Tôn giả Channa không có các món ăn, không có các dược phẩm thích hợp, thời tôi sẽ tìm các dược phẩm thích hợp cho Tôn giả Channa. Nếu Tôn giả Channa không có người hầu hạ thích ứng, thời tôi sẽ hầu hạ Tôn giả Channa. Tôn giả Channa chớ có đem lại con dao. Tôn giả Channa hãy chịu đựng. Chúng tôi muốn Tôn giả Channa chịu đựng.
Vi-n 14 —Thưa Hiền giả Sāriputta, không phải tôi không có các món ăn thích hợp, tôi có các món ăn thích hợp. Không phải tôi không có các dược phẩm thích hợp, tôi có các dược phẩm thích hợp. Không phải tôi không có những người hầu hạ thích ứng, tôi có những người hầu hạ thích ứng. Ðã lâu ngày tôi hầu hạ bậc Ðạo Sư với tâm thích thú, không phải không thích thú. Ðây, thưa Hiền giả, là xứng đáng với người đệ tử. Vì rằng đã hầu hạ bậc Ðạo Sư với tâm thích thú, không phải không thích thú. Không có phạm tội, nếu Tỷ-kheo Channa đem lại con dao. Này Hiền giả Sāriputta, Hiền giả hãy thọ trì như vậy.
Vi-n 15 —Chúng tôi sẽ hỏi Tôn giả Channa một câu, nếu Tôn giả Channa kham nhẫn được hỏi và trả lời.
—Hãy hỏi đi, Hiền giả Sāriputta, sau khi nghe, chúng ta sẽ biết.
Vi-n 16 —Này Hiền giả Channa, mắt, nhãn thức, những pháp do nhãn thức nhận biết, Hiền giả có quán: ” Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”? … Tai … Mũi … Lưỡi … Thân … Này Hiền giả Channa, ý, ý thức, các pháp do ý thức nhận biết, Hiền giả có quán: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
Vi-n 17 —Này Hiền giả Sāriputta, mắt, nhãn thức, các pháp do nhãn thức nhận biết, tôi quán: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 18 —Này Hiền giả Channa, trong mắt, trong nhãn thức, trong các pháp do nhãn thức nhận biết, do thấy gì, do thắng tri gì mà Hiền giả quán: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”?
Vi-n 19 —Thưa Hiền giả Sāriputta, trong mắt, trong nhãn thức, trong các pháp do nhãn thức nhận biết, sau khi thấy đoạn diệt, sau khi thắng tri đoạn diệt, tôi quán: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Trong tai … Trong mũi … Trong lưỡi … Trong thân. Thưa Hiền giả … Trong ý, trong ý thức, trong các pháp do ý thức nhận biết, sau khi thấy đoạn diệt, sau khi thắng tri đoạn diệt, tôi quán: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 20 Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Mahà Cunda nói với Tôn giả Channa:
—Hiền giả Channa, Hiền giả cần phải luôn luôn chú ý đến lời dạy này của Thế Tôn: “Ai còn tham luyến, thời có dao động; ai không tham luyến, thời không dao động. Ai không dao động, thời được khinh an. Ai được khinh an, thời không thiên chấp. Ai không thiên chấp (nati), thời không có đến và đi. Ai không có đến và đi, thời không có diệt và sanh. Ai không có diệt và sanh, thời không có đời này, đời sau, không có giữa hai đời. Ðây là sự đoạn tận đau khổ”.
Vi-n 21 Rồi Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahà Cunda, sau khi giáo giới Tôn giả Channa với lời giáo giới này, từ chỗ ngồi đứng dậy, và ra đi.
Vi-n 22 Tôn giả Channa, sau khi hai vị Tôn giả ấy đi không bao lâu, liền đem lại con dao.
Vi-n 23 Rồi Tôn giả Sāriputta đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 24 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sāriputta bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Tôn giả Channa đã đem lại con dao. Sanh thú của vị ấy là gì? Ðời sau vị ấy sẽ như thế nào?
—Có phải trước mặt Ông, này Sāriputta, Tỷ-kheo Channa đã tuyên bố là không phạm tội?
Vi-n 25 —Thưa có, bạch Thế Tôn. Có một làng của dân tộc Vajjī tên là Pubbavijjhamam; tại đấy, có những gia đình thân hữu, có những gia đình thân thích với Tôn giả Channa, chính những gia đình ấy mới có lỗi.
Vi-n 26 —Này Sāriputta, những gia đình thân hữu và những gia đình thân thích ấy của Tôn giả Channa là những gia đình có lỗi. Tuy vậy, này Sāriputta, với sự việc như vậy, Ta không nói Channa là có lỗi. Này Sāriputta, ai bỏ thân này và chấp thủ thân khác; người ấy, Ta nói là có lỗi. Nhưng Tỷ-kheo Channa thời không vậy. Tỷ-kheo Channa không có tội lỗi khi đem lại con dao. Này Sàriputtra, Ông cần phải thọ trì như vậy.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Tena kho pana samayena āyasmā ca sāriputto āyasmā ca mahācundo āyasmā ca channo gijjhakūṭe pabbate viharanti.
Tena kho pana samayena yena āyasmā channo ābādhiko hoti dukkhito bāḷhagilāno.
Atha kho āyasmā sāriputto sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā mahācundo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ mahācundaṁ etadavoca:
“āyāmāvuso cunda, yenāyasmā channo tenupasaṅkamissāma gilānapucchakā”ti.
“Evamāvuso”ti kho āyasmā mahācundo āyasmato sāriputtassa paccassosi.
Atha kho āyasmā ca sāriputto āyasmā ca mahācundo yenāyasmā channo tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdiṁsu. Nisajja kho āyasmā sāriputto āyasmantaṁ channaṁ etadavoca:
“kacci te, āvuso channa, khamanīyaṁ, kacci yāpanīyaṁ, kacci dukkhā vedanā paṭikkamanti no abhikkamanti, paṭikkamosānaṁ paññāyati no abhikkamo”ti?
“Na me, āvuso sāriputta, khamanīyaṁ na yāpanīyaṁ, bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti no paṭikkamanti, abhikkamosānaṁ paññāyati no paṭikkamo.
Seyyathāpi, āvuso, balavā puriso tiṇhena sikharena muddhani abhimattheyya; evameva kho, āvuso, adhimattā vātā muddhani ūhananti.
Na me, āvuso, khamanīyaṁ, na yāpanīyaṁ …pe… no paṭikkamo.
Seyyathāpi, āvuso, balavā puriso daḷhena varattakkhaṇḍena sīse sīsaveṭhaṁ dadeyya; evameva kho, āvuso, adhimattā sīse sīsavedanā.
Na me, āvuso, khamanīyaṁ, na yāpanīyaṁ …pe… no paṭikkamo.
Seyyathāpi, āvuso, dakkho goghātako vā goghātakantevāsī vā tiṇhena govikantanena kucchiṁ parikanteyya; evameva kho adhimattā vātā kucchiṁ parikantanti.
Na me, āvuso, khamanīyaṁ, na yāpanīyaṁ …pe… no paṭikkamo.
Seyyathāpi, āvuso, dve balavanto purisā dubbalataraṁ purisaṁ nānābāhāsu gahetvā aṅgārakāsuyā santāpeyyuṁ samparitāpeyyuṁ; evameva kho, āvuso, adhimatto kāyasmiṁ ḍāho.
Na me, āvuso, khamanīyaṁ, na yāpanīyaṁ, bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti no paṭikkamanti, abhikkamosānaṁ paññāyati no paṭikkamo.
Satthaṁ, āvuso sāriputta, āharissāmi, nāvakaṅkhāmi jīvitan”ti.
“Mā āyasmā channo satthaṁ āharesi.
Yāpetāyasmā channo, yāpentaṁ mayaṁ āyasmantaṁ channaṁ icchāma.
Sace āyasmato channassa natthi sappāyāni bhojanāni, ahaṁ āyasmato channassa sappāyāni bhojanāni pariyesissāmi.
Sace āyasmato channassa natthi sappāyāni bhesajjāni, ahaṁ āyasmato channassa sappāyāni bhesajjāni pariyesissāmi.
Sace āyasmato channassa natthi patirūpā upaṭṭhākā, ahaṁ āyasmantaṁ channaṁ upaṭṭhahissāmi.
Mā āyasmā channo satthaṁ āharesi.
Yāpetāyasmā channo, yāpentaṁ mayaṁ āyasmantaṁ channaṁ icchāmā”ti.
“Na me, āvuso sāriputta, natthi sappāyāni bhojanāni;
atthi me sappāyāni bhojanāni.
Napi me natthi sappāyāni bhesajjāni;
atthi me sappāyāni bhesajjāni.
Napi me natthi patirūpā upaṭṭhākā;
atthi me patirūpā upaṭṭhākā.
Api ca me, āvuso, satthā pariciṇṇo dīgharattaṁ manāpeneva, no amanāpena.
Etañhi, āvuso, sāvakassa patirūpaṁ yaṁ satthāraṁ paricareyya manāpeneva, no amanāpena.
‘Anupavajjaṁ channo bhikkhu satthaṁ āharissatī’ti—evametaṁ, āvuso sāriputta, dhārehī”ti.
“Puccheyyāma mayaṁ āyasmantaṁ channaṁ kañcideva desaṁ, sace āyasmā channo okāsaṁ karoti pañhassa veyyākaraṇāyā”ti.
“Pucchāvuso sāriputta, sutvā vedissāmā”ti.
“Cakkhuṁ, āvuso channa, cakkhuviññāṇaṁ cakkhuviññāṇaviññātabbe dhamme ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassasi …pe…
jivhaṁ, āvuso channa, jivhāviññāṇaṁ jivhāviññāṇaviññātabbe dhamme ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassasi …pe…
manaṁ, āvuso channa, manoviññāṇaṁ manoviññāṇaviññātabbe dhamme ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassasī”ti?
“Cakkhuṁ, āvuso sāriputta, cakkhuviññāṇaṁ cakkhuviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassāmi …pe…
jivhaṁ, āvuso sāriputta, jivhāviññāṇaṁ jivhāviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassāmi …pe…
manaṁ, āvuso sāriputta, manoviññāṇaṁ manoviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassāmī”ti.
“Cakkhusmiṁ, āvuso channa, cakkhuviññāṇe cakkhuviññāṇaviññātabbesu dhammesu kiṁ disvā kiṁ abhiññāya cakkhuṁ cakkhuviññāṇaṁ cakkhuviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassasi …
jivhāya, āvuso channa, jivhāviññāṇe jivhāviññāṇaviññātabbesu dhammesu kiṁ disvā kiṁ abhiññāya jivhaṁ jivhāviññāṇaṁ jivhāviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassasi …
manasmiṁ, āvuso channa, manoviññāṇe manoviññāṇaviññātabbesu dhammesu kiṁ disvā kiṁ abhiññāya manaṁ manoviññāṇaṁ manoviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassasī”ti?
“Cakkhusmiṁ, āvuso sāriputta, cakkhuviññāṇe cakkhuviññāṇaviññātabbesu dhammesu nirodhaṁ disvā nirodhaṁ abhiññāya cakkhuṁ cakkhuviññāṇaṁ cakkhuviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassāmi …pe…
jivhāya, āvuso sāriputta, jivhāviññāṇe jivhāviññāṇaviññātabbesu dhammesu nirodhaṁ disvā nirodhaṁ abhiññāya jivhaṁ jivhāviññāṇaṁ jivhāviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassāmi …pe…
manasmiṁ, āvuso sāriputta, manoviññāṇe manoviññāṇaviññātabbesu dhammesu nirodhaṁ disvā nirodhaṁ abhiññāya manaṁ manoviññāṇaṁ manoviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassāmī”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā mahācundo āyasmantaṁ channaṁ etadavoca:
“tasmātiha, āvuso channa, idampi tassa bhagavato sāsanaṁ niccakappaṁ sādhukaṁ manasi kātabbaṁ:
‘nissitassa calitaṁ, anissitassa calitaṁ natthi.
Calite asati passaddhi hoti.
Passaddhiyā sati nati na hoti.
Natiyā asati āgatigati na hoti.
Āgatigatiyā asati cutūpapāto na hoti.
Cutūpapāte asati nevidha na huraṁ na ubhayamantarena.
Esevanto dukkhassā’”ti.
Atha kho āyasmā ca sāriputto āyasmā ca mahācundo āyasmantaṁ channaṁ iminā ovādena ovaditvā uṭṭhāyāsanā pakkamiṁsu.
Atha kho āyasmā channo acirapakkantesu tesu āyasmantesu satthaṁ āharesi.
Atha kho āyasmā sāriputto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto bhagavantaṁ etadavoca:
“āyasmatā, bhante, channena satthaṁ āharitaṁ.
Tassa kā gati ko abhisamparāyo”ti?
“Nanu te, sāriputta, channena bhikkhunā sammukhāyeva anupavajjatā byākatā”ti?
“Atthi, bhante, pubbavijjanaṁ nāma vajjigāmo.
Tatthāyasmato channassa mittakulāni suhajjakulāni upavajjakulānī”ti.
“Honti hete, sāriputta, channassa bhikkhuno mittakulāni suhajjakulāni upavajjakulāni.
Na kho panāhaṁ, sāriputta, ettāvatā saupavajjoti vadāmi.
Yo kho, sāriputta, tañca kāyaṁ nikkhipati, aññañca kāyaṁ upādiyati, tamahaṁ saupavajjoti vadāmi.
Taṁ channassa bhikkhuno natthi.
‘Anupavajjaṁ channena bhikkhunā satthaṁ āharitan’ti—
evametaṁ, sāriputta, dhārehī”ti.
Catutthaṁ.