Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở tại Uruvelà trên bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây Ajapāla Nigrodha, khi Ngài mới thành đạo.
Vi-n 2 Và Thế Tôn trong khi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Thật là khó khăn, sống không có cung kính, không có vâng lời. Vậy Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào một Sa-môn hay Bà-la-môn”.
Vi-n 3 Rồi Thế Tôn, suy nghĩ: “Với mục đích làm cho đầy đủ giới uẩn chưa được đầy đủ, Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào một Sa-môn hay Bà-la-môn khác. Nhưng Ta không thấy một chỗ nào trong thế giới chư Thiên, Ác ma và Phạm thiên, giữa các Sa-môn, giữa quần chúng loài Trời hay loài Người, không có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác, với giới uẩn cụ túc, tốt đẹp hơn Ta mà Ta có thể cung kính, tôn trọng và sống y chỉ”.
Vi-n 4 “Với mục đích làm cho đầy đủ định uẩn chưa được đầy đủ, Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào một Sa-môn hay Bà-la-môn khác … ”
Vi-n 5 “Với mục đích làm cho đầy đủ tuệ uẩn chưa được đầy đủ … ”
Vi-n 6 “ Với mục đích làm cho đầy đủ giải thoát uẩn chưa được đầy đủ … ”
Vi-n 7 “Với mục đích làm cho đầy đủ giải thoát tri kiến uẩn chưa được đầy đủ, Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào một Sa-môn hay Bà-la-môn khác. Nhưng Ta không thấy một chỗ nào trong thế giới chư Thiên, Ác ma và Phạm thiên, giữa quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, giữa loài Trời hay loài Người, không có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác, với giải thoát tri kiến uẩn tốt đẹp hơn Ta mà Ta có thể cung kính, tôn trọng và sống y chỉ”.
Vi-n 8 “Với pháp này, Ta đã chánh đẳng giác, Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ pháp này”.
Vi-n 9 Rồi Phạm thiên Sahampati với tâm tư của mình biết được tâm tư của Thế Tôn, như một nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, vị ấy biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trước mặt Thế Tôn.
Vi-n 10 Rồi Phạm thiên Sahamapati đắp thượng y vào một bên vai, chấp tay hướng đến Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
Vi-n 11 —Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, trong thời quá khứ, các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, chư Thế Tôn ấy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào (Chánh) pháp. Bạch Thế Tôn, trong thời vị lai, các vị ấy sẽ thành A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, chư Thế Tôn ấy sẽ cung kính, tôn trọng và sẽ sống y chỉ vào (Chánh) pháp. Bạch Thế Tôn, mong rằng trong thời hiện tại, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác cũng cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào (Chánh) pháp.
Vi-n 12 Phạm thiên Sahampati nói như vậy, sau khi nói như vậy, lại nói thêm như sau:
Chư Phật thời quá khứ,
Chư Phật thời vị lai,
Và đức Phật hiện tại,
Ðoạn sầu muộn nhiều người.
Tất cả các vị ấy,
Ðã, đang và sẽ sống,
Cung kính và tôn trọng,
Pháp chơn chánh vi diệu,
Pháp nhĩ là như vậy,
Ðối với chư Phật-đà.
Do vậy, muốn lợi ích,
Ước vọng làm Ðại nhân,
Hãy cung kính, tôn trọng
Pháp chơn chánh vi diệu,
Hãy ghi nhớ giáo pháp,
Chư Phật Chánh Ðẳng Giác.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā uruvelāyaṁ viharati najjā nerañjarāya tīre ajapālanigrodhamūle paṭhamābhisambuddho.
Atha kho bhagavato rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi:
“dukkhaṁ kho agāravo viharati appatisso, kaṁ nu khvāhaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyan”ti?
Atha kho bhagavato etadahosi:
“aparipuṇṇassa kho sīlakkhandhassa pāripūriyā aññaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyaṁ.
Na kho panāhaṁ passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya attanā sīlasampannataraṁ aññaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā, yamahaṁ sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyaṁ.
Aparipuṇṇassa kho samādhikkhandhassa pāripūriyā aññaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyaṁ.
Na kho panāhaṁ passāmi sadevake loke …pe… attanā samādhisampannataraṁ aññaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā, yamahaṁ sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyaṁ.
Aparipuṇṇassa paññākkhandhassa pāripūriyā aññaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyaṁ.
Na kho panāhaṁ passāmi sadevake …pe… attanā paññāsampannataraṁ aññaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā, yamahaṁ sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyaṁ.
Aparipuṇṇassa kho vimuttikkhandhassa pāripūriyā aññaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyaṁ.
Na kho panāhaṁ passāmi sadevake …pe… attanā vimuttisampannataraṁ aññaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā, yamahaṁ sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyaṁ.
Aparipuṇṇassa kho vimuttiñāṇadassanakkhandhassa pāripūriyā aññaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyaṁ.
Na kho panāhaṁ passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya attanā vimuttiñāṇadassanasampannataraṁ aññaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā, yamahaṁ sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyaṁ.
Yannūnāhaṁ yvāyaṁ dhammo mayā abhisambuddho tameva dhammaṁ sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyan”ti.
Atha kho brahmā sahampati bhagavato cetasā cetoparivitakkamaññāya—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—brahmaloke antarahito bhagavato purato pāturahosi.
Atha kho brahmā sahampati ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca:
“evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugata.
Yepi te, bhante, ahesuṁ atītamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā, tepi bhagavanto dhammaññeva sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihariṁsu;
yepi te, bhante, bhavissanti anāgatamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā tepi bhagavanto dhammaññeva sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharissanti.
Bhagavāpi, bhante, etarahi arahaṁ sammāsambuddho dhammaññeva sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharatū”ti.
Idamavoca brahmā sahampati, idaṁ vatvā athāparaṁ etadavoca:
“Ye ca atītā sambuddhā,
ye ca buddhā anāgatā;
Yo cetarahi sambuddho,
bahūnaṁ sokanāsano.
Sabbe saddhammagaruno,
vihaṁsu viharanti ca;
Tathāpi viharissanti,
esā buddhāna dhammatā.
Tasmā hi attakāmena,
mahattamabhikaṅkhatā;
Saddhammo garukātabbo,
saraṁ buddhāna sāsanan”ti.
So I have heard.
At one time, when he was first awakened, the Buddha was staying in Uruvelā at the root of the goatherd’s banyan tree on the bank of the Nerañjarā River.
Then as he was in private retreat this thought came to his mind,
“One without respect and reverence lives in suffering. What ascetic or brahmin should I honor and respect and rely on?”
Then it occurred to him:
“I’d honor and respect and rely on another ascetic or brahmin so as to complete the entire spectrum of ethics, if it were incomplete.
But I don’t see any other ascetic or brahmin in this world—with its gods, Māras, and Divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans—who is more accomplished than myself in ethics, who I should honor and respect and rely on.
I’d honor and respect and rely on another ascetic or brahmin so as to complete the entire spectrum of immersion, if it were incomplete.
But I don’t see any other ascetic or brahmin … who is more accomplished than myself in immersion …
I’d honor and respect and rely on another ascetic or brahmin so as to complete the entire spectrum of wisdom, if it were incomplete.
But I don’t see any other ascetic or brahmin … who is more accomplished than myself in wisdom …
I’d honor and respect and rely on another ascetic or brahmin so as to complete the entire spectrum of freedom, if it were incomplete.
But I don’t see any other ascetic or brahmin … who is more accomplished than myself in freedom …
I’d honor and respect and rely on another ascetic or brahmin so as to complete the entire spectrum of the knowledge and vision of freedom, if it were incomplete.
But I don’t see any other ascetic or brahmin in this world—with its gods, Māras, and Divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans—who is more accomplished than myself in the knowledge and vision of freedom, who I should honor and respect and rely on.
Why don’t I honor and respect and rely on the same Dhamma to which I was awakened?”
Then the divinity Sahampati knew what the Buddha was thinking. As easily as a strong person would extend or contract their arm, he vanished from the realm of divinity and reappeared in front of the Buddha.
He arranged his robe over one shoulder, raised his joined palms toward the Buddha, and said:
“That’s so true, Blessed One! That’s so true, Holy One!
All the perfected ones, the fully awakened Buddhas who lived in the past honored and respected and relied on this same teaching.
All the perfected ones, the fully awakened Buddhas who will live in the future will honor and respect and rely on this same teaching.
May the Blessed One, who is the perfected one, the fully awakened Buddha at present, also honor and respect and rely on this same teaching.”
This is what the divinity Sahampati said. Then he went on to say:
“All Buddhas in the past,
the Buddhas of the future,
and the Buddha at present—
destroyer of the sorrows of many—
respecting the true teaching
they did live, they do live,
and they also will live.
This is the nature of the Buddhas.
Therefore someone who desires self-knowledge,
and aspires to greatness themselves,
should respect the true teaching,
remembering the instructions of the Buddhas.”
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở tại Uruvelà trên bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây Ajapāla Nigrodha, khi Ngài mới thành đạo.
Vi-n 2 Và Thế Tôn trong khi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Thật là khó khăn, sống không có cung kính, không có vâng lời. Vậy Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào một Sa-môn hay Bà-la-môn”.
Vi-n 3 Rồi Thế Tôn, suy nghĩ: “Với mục đích làm cho đầy đủ giới uẩn chưa được đầy đủ, Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào một Sa-môn hay Bà-la-môn khác. Nhưng Ta không thấy một chỗ nào trong thế giới chư Thiên, Ác ma và Phạm thiên, giữa các Sa-môn, giữa quần chúng loài Trời hay loài Người, không có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác, với giới uẩn cụ túc, tốt đẹp hơn Ta mà Ta có thể cung kính, tôn trọng và sống y chỉ”.
Vi-n 4 “Với mục đích làm cho đầy đủ định uẩn chưa được đầy đủ, Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào một Sa-môn hay Bà-la-môn khác … ”
Vi-n 5 “Với mục đích làm cho đầy đủ tuệ uẩn chưa được đầy đủ … ”
Vi-n 6 “ Với mục đích làm cho đầy đủ giải thoát uẩn chưa được đầy đủ … ”
Vi-n 7 “Với mục đích làm cho đầy đủ giải thoát tri kiến uẩn chưa được đầy đủ, Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào một Sa-môn hay Bà-la-môn khác. Nhưng Ta không thấy một chỗ nào trong thế giới chư Thiên, Ác ma và Phạm thiên, giữa quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, giữa loài Trời hay loài Người, không có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác, với giải thoát tri kiến uẩn tốt đẹp hơn Ta mà Ta có thể cung kính, tôn trọng và sống y chỉ”.
Vi-n 8 “Với pháp này, Ta đã chánh đẳng giác, Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ pháp này”.
Vi-n 9 Rồi Phạm thiên Sahampati với tâm tư của mình biết được tâm tư của Thế Tôn, như một nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, vị ấy biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trước mặt Thế Tôn.
Vi-n 10 Rồi Phạm thiên Sahamapati đắp thượng y vào một bên vai, chấp tay hướng đến Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
Vi-n 11 —Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, trong thời quá khứ, các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, chư Thế Tôn ấy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào (Chánh) pháp. Bạch Thế Tôn, trong thời vị lai, các vị ấy sẽ thành A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, chư Thế Tôn ấy sẽ cung kính, tôn trọng và sẽ sống y chỉ vào (Chánh) pháp. Bạch Thế Tôn, mong rằng trong thời hiện tại, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác cũng cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào (Chánh) pháp.
Vi-n 12 Phạm thiên Sahampati nói như vậy, sau khi nói như vậy, lại nói thêm như sau:
Chư Phật thời quá khứ,
Chư Phật thời vị lai,
Và đức Phật hiện tại,
Ðoạn sầu muộn nhiều người.
Tất cả các vị ấy,
Ðã, đang và sẽ sống,
Cung kính và tôn trọng,
Pháp chơn chánh vi diệu,
Pháp nhĩ là như vậy,
Ðối với chư Phật-đà.
Do vậy, muốn lợi ích,
Ước vọng làm Ðại nhân,
Hãy cung kính, tôn trọng
Pháp chơn chánh vi diệu,
Hãy ghi nhớ giáo pháp,
Chư Phật Chánh Ðẳng Giác.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā uruvelāyaṁ viharati najjā nerañjarāya tīre ajapālanigrodhamūle paṭhamābhisambuddho.
Atha kho bhagavato rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi:
“dukkhaṁ kho agāravo viharati appatisso, kaṁ nu khvāhaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyan”ti?
Atha kho bhagavato etadahosi:
“aparipuṇṇassa kho sīlakkhandhassa pāripūriyā aññaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyaṁ.
Na kho panāhaṁ passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya attanā sīlasampannataraṁ aññaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā, yamahaṁ sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyaṁ.
Aparipuṇṇassa kho samādhikkhandhassa pāripūriyā aññaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyaṁ.
Na kho panāhaṁ passāmi sadevake loke …pe… attanā samādhisampannataraṁ aññaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā, yamahaṁ sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyaṁ.
Aparipuṇṇassa paññākkhandhassa pāripūriyā aññaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyaṁ.
Na kho panāhaṁ passāmi sadevake …pe… attanā paññāsampannataraṁ aññaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā, yamahaṁ sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyaṁ.
Aparipuṇṇassa kho vimuttikkhandhassa pāripūriyā aññaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyaṁ.
Na kho panāhaṁ passāmi sadevake …pe… attanā vimuttisampannataraṁ aññaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā, yamahaṁ sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyaṁ.
Aparipuṇṇassa kho vimuttiñāṇadassanakkhandhassa pāripūriyā aññaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyaṁ.
Na kho panāhaṁ passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya attanā vimuttiñāṇadassanasampannataraṁ aññaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā, yamahaṁ sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyaṁ.
Yannūnāhaṁ yvāyaṁ dhammo mayā abhisambuddho tameva dhammaṁ sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihareyyan”ti.
Atha kho brahmā sahampati bhagavato cetasā cetoparivitakkamaññāya—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—brahmaloke antarahito bhagavato purato pāturahosi.
Atha kho brahmā sahampati ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca:
“evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugata.
Yepi te, bhante, ahesuṁ atītamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā, tepi bhagavanto dhammaññeva sakkatvā garuṁ katvā upanissāya vihariṁsu;
yepi te, bhante, bhavissanti anāgatamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā tepi bhagavanto dhammaññeva sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharissanti.
Bhagavāpi, bhante, etarahi arahaṁ sammāsambuddho dhammaññeva sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharatū”ti.
Idamavoca brahmā sahampati, idaṁ vatvā athāparaṁ etadavoca:
“Ye ca atītā sambuddhā,
ye ca buddhā anāgatā;
Yo cetarahi sambuddho,
bahūnaṁ sokanāsano.
Sabbe saddhammagaruno,
vihaṁsu viharanti ca;
Tathāpi viharissanti,
esā buddhāna dhammatā.
Tasmā hi attakāmena,
mahattamabhikaṅkhatā;
Saddhammo garukātabbo,
saraṁ buddhāna sāsanan”ti.