Vi-n 1 Một thời Tôn giả Kàmabhù trú tại Macchikàsanda, tại rừng Ambāṭaka.
Vi-n 2 Rồi gia chủ Citta đi đến Tôn giả Kàmabhà; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Kàmabhù, rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi một bên, gia chủ Citta thưa Tôn giả Kàmabhù:
—Bạch Thượng tọa, có bao nhiêu hành tất cả?
—Này Gia chủ có ba hành: thân hành, khẩu hành và ý hành.
—Lành thay, bạch Thượng tọa.
Gia chủ Citta hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Kàmabhù nói, rồi hỏi thêm Tôn giả Kàmabhù một câu nữa:
—Bạch Thượng tọa, thế nào là thân hành? Thế nào là khẩu hành? Thế nào là ý hành?
—Hơi thở vô, hơi thở ra, này Gia chủ, là thân hành. Tầm và tứ là khẩu hành. Tưởng và thọ là ý hành.
—Lành thay, bạch Thượng tọa.
Gia chủ Citta hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Kàmabhù nói … hỏi thêm câu hỏi nữa:
Vi-n 5 —Vì sao, bạch Thượng tọa, thở vô thở ra là thân hành? Vì sao tầm và tứ là khẩu hành? Vì sao tưởng và thọ là ý hành?
—Thở vô thở ra, này Giả chủ, thuộc về thân. Các pháp này liên hệ đến thân; do vậy, thở vô thở ra là thân hành. Trước phải tầm cầu, tư sát, này Gia chủ, sau mới phát lời nói; do vậy, tầm và tứ là khẩu hành. Tưởng và thọ thuộc về ý. Những pháp này liên hệ đến tâm; do vậy, tưởng và thọ là ý hành.
—Lành thay, bạch Thượng tọa.
… hỏi thêm câu hỏi nữa:
Vi-n 6 —Như thế nào, bạch Thượng tọa, là chứng Diệt thọ tưởng định?
—Này Gia chủ, Tỷ-kheo chứng đạt Diệt thọ tưởng định không có nghĩ rằng: “Tôi sẽ chứng đạt Diệt thọ tưởng định”, hay: “Tôi đang chứng đạt Diệt thọ tưởng định”, hay: “Tôi đã chứng đạt Diệt thọ tưởng định”. Do tâm vị ấy trước đã được tu tập như vậy, nên đưa đến thành tựu như thật như vậy.
—Lành thay …
… hỏi thêm câu nữa:
Vi-n 7 —Tỷ-kheo chứng đạt Diệt thọ tưởng định, bạch Thượng tọa, những pháp nào được đoạn diệt trước, thân hành, hay khẩu hành, hay ý hành?
—Tỷ-kheo chứng đạt Diệt thọ tưởng định, này Gia chủ, khẩu hành được diệt trước, thứ đến thân hành, rồi đến ý hành.
—Lành thay …
… hỏi thêm câu hỏi nữa:
Vi-n 8 —Bạch Thượng tọa, người đã chết, đã mệnh chung, và Tỷ-kheo chứng đạt Diệt thọ tưởng định, giữa những người này có những sai khác gì?
—Ðối với người đã chết, đã mệnh chung, này Gia chủ, thân hành người ấy được đoạn diệt, được khinh an; khẩu hành được đoạn diệt, được khinh an; ý hành được đoạn diệt, được khinh an, thọ mạng được đoạn tận; sức nóng được tịnh chỉ; các căn bị hủy hoại. Còn Tỷ-kheo đã chứng đạt Diệt thọ tưởng định, này Gia chủ, thân hành được đoạn diệt, khinh an; khẩu hành được đoạn diệt, khinh an; ý hành được đoạn diệt, khinh an; thọ mạng không bị đoạn tận; sức nóng không bị tịnh chỉ; các căn được trong sáng. Này Gia chủ, người đã chết, đã mệnh chung và Tỷ-kheo chứng đạt Diệt thọ tưởng định, giữa những người này có những sai khác như vậy.
—Lành thay …
… hỏi thêm câu hỏi nữa.
Vi-n 9 —Như thế nào, bạch Thượng tọa, là ra khỏi Diệt thọ tưởng định?
—Này Gia chủ, Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định không có suy nghĩ: “Tôi sẽ ra khỏi Diệt thọ tưởng định”, hay: “Tôi đang ra khỏi Diệt thọ tưởng định”, hay: “Tôi đã ra khỏi Diệt thọ tưởng định”. Do tâm vị ấy trước đã được tu tập như vậy, nên đưa đến thành tựu như thật như vậy.
—Lành thay, bạch Thượng tọa …
… hỏi thêm câu hỏi nữa:
Vi-n 10 —Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định, bạch Thượng tọa, pháp nào khởi lên trước, thân hành, khẩu hành, hay ý hành?
—Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định, này Gia chủ, ý hành khởi lên trước, rồi đến thân hành, rồi đến khẩu hành.
—Lành thay, bạch Thượng tọa …
… hỏi thêm câu hỏi nữa:
Vi-n 11 —Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định, bạch Thượng tọa, cảm giác được bao nhiêu xúc?
—Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định cảm thọ được ba xúc: không xúc, vô tướng xúc, vô nguyện xúc.
—Lành thay, bạch Thượng tọa.
Gia chủ Citta hoan hỷ, tín thọ … và hỏi thêm câu hỏi nữa:
Vi-n 12 —Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định, bạch Thượng tọa, tâm thiên về đâu, hướng về đâu, nghiêng về đâu?
—Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định, này Gia chủ, tâm vị ấy thiên về viễn ly, hướng về viễn ly, nghiêng về viễn ly.
—Lành thay, bạch Thượng tọa.
Gia chủ Citta hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Kàmabhù nói rồi hỏi thêm câu hỏi nữa:
Vi-n 13 —Bạch Thượng tọa, có bao nhiêu pháp giúp đỡ nhiều cho sự chứng đắc Diệt thọ tưởng định?
—Thật sự, này Gia chủ, điều Gia chủ cần phải hỏi trước, Gia chủ lại hỏi sau. Tuy vậy, ta sẽ trả lời cho Gia chủ. Này Gia chủ, có hai pháp giúp đỡ rất nhiều cho Diệt thọ tưởng định được chứng đắc. Ðó là Chỉ và Quán.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā kāmabhū macchikāsaṇḍe viharati ambāṭakavane.
Atha kho citto gahapati yenāyasmā kāmabhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho citto gahapati āyasmantaṁ kāmabhuṁ etadavoca:
“kati nu kho, bhante, saṅkhārā”ti?
“Tayo kho, gahapati, saṅkhārā—
kāyasaṅkhāro, vacīsaṅkhāro, cittasaṅkhāro”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho citto gahapati āyasmato kāmabhussa bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā āyasmantaṁ kāmabhuṁ uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“katamo pana, bhante, kāyasaṅkhāro, katamo vacīsaṅkhāro, katamo cittasaṅkhāro”ti?
“Assāsapassāsā kho, gahapati, kāyasaṅkhāro, vitakkavicārā vacīsaṅkhāro, saññā ca vedanā ca cittasaṅkhāro”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho citto gahapati …pe… uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“kasmā pana, bhante, assāsapassāsā kāyasaṅkhāro, kasmā vitakkavicārā vacīsaṅkhāro, kasmā saññā ca vedanā ca cittasaṅkhāro”ti?
“Assāsapassāsā kho, gahapati, kāyikā. Ete dhammā kāyappaṭibaddhā, tasmā assāsapassāsā kāyasaṅkhāro.
Pubbe kho, gahapati, vitakketvā vicāretvā pacchā vācaṁ bhindati, tasmā vitakkavicārā vacīsaṅkhāro.
Saññā ca vedanā ca cetasikā. Ete dhammā cittappaṭibaddhā, tasmā saññā ca vedanā ca cittasaṅkhāro”ti.
“Sādhu …pe… uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“kathaṁ pana, bhante, saññāvedayitanirodhasamāpatti hotī”ti?
“Na kho, gahapati, saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjantassa bhikkhuno evaṁ hoti:
‘ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjissan’ti vā ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjāmī’ti vā ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno’ti vā.
Atha khvassa pubbeva tathā cittaṁ bhāvitaṁ hoti yaṁ taṁ tathattāya upanetī”ti.
“Sādhu …pe… uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjantassa pana, bhante, bhikkhuno katame dhammā paṭhamaṁ nirujjhanti, yadi vā kāyasaṅkhāro, yadi vā vacīsaṅkhāro, yadi vā cittasaṅkhāro”ti?
“Saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjantassa kho, gahapati, bhikkhuno vacīsaṅkhāro paṭhamaṁ nirujjhati, tato kāyasaṅkhāro, tato cittasaṅkhāro”ti.
“Sādhu …pe… uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“yvāyaṁ, bhante, mato kālaṅkato, yo cāyaṁ bhikkhu saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno, imesaṁ kiṁ nānākaraṇan”ti?
“Yvāyaṁ, gahapati, mato kālaṅkato tassa kāyasaṅkhāro niruddho paṭippassaddho, vacīsaṅkhāro niruddho paṭippassaddho, cittasaṅkhāro niruddho paṭippassaddho, āyu parikkhīṇo, usmā vūpasantā, indriyāni viparibhinnāni.
Yo ca khvāyaṁ, gahapati, bhikkhu saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno, tassapi kāyasaṅkhāro niruddho paṭippassaddho, vacīsaṅkhāro niruddho paṭippassaddho, cittasaṅkhāro niruddho paṭippassaddho, āyu aparikkhīṇo, usmā avūpasantā, indriyāni vippasannāni.
Yvāyaṁ, gahapati, mato kālaṅkato, yo cāyaṁ bhikkhu saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno, idaṁ nesaṁ nānākaraṇan”ti.
“Sādhu …pe… uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“kathaṁ pana, bhante, saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhānaṁ hotī”ti?
“Na kho, gahapati, saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahantassa bhikkhuno evaṁ hoti:
‘ahaṁ saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahissan’ti vā ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahāmī’ti vā ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhito’ti vā.
Atha khvassa pubbeva tathā cittaṁ bhāvitaṁ hoti, yaṁ taṁ tathattāya upanetī”ti.
“Sādhu, bhante …pe… uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahantassa pana, bhante, bhikkhuno katame dhammā paṭhamaṁ uppajjanti, yadi vā kāyasaṅkhāro, yadi vā vacīsaṅkhāro, yadi vā cittasaṅkhāro”ti?
“Saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahantassa, gahapati, bhikkhuno cittasaṅkhāro paṭhamaṁ uppajjati, tato kāyasaṅkhāro, tato vacīsaṅkhāro”ti.
“Sādhu …pe… uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhitaṁ pana, bhante, bhikkhuṁ kati phassā phusanti”?
“Saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhitaṁ kho, gahapati, bhikkhuṁ tayo phassā phusanti—
suññato phasso, animitto phasso, appaṇihito phasso”ti.
“Sādhu …pe… uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhitassa pana, bhante, bhikkhuno kiṁninnaṁ cittaṁ hoti, kiṁpoṇaṁ, kiṁpabbhāran”ti?
“Saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhitassa kho, gahapati, bhikkhuno vivekaninnaṁ cittaṁ hoti vivekapoṇaṁ vivekapabbhāran”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho citto gahapati āyasmato kāmabhussa bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā āyasmantaṁ kāmabhuṁ uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“saññāvedayitanirodhasamāpattiyā pana, bhante, kati dhammā bahūpakārā”ti?
“Addhā kho tvaṁ, gahapati, yaṁ paṭhamaṁ pucchitabbaṁ taṁ pucchasi.
Api ca tyāhaṁ byākarissāmi.
Saññāvedayitanirodhasamāpattiyā kho, gahapati, dve dhammā bahūpakārā—
samatho ca vipassanā cā”ti.
Chaṭṭhaṁ.
At one time Venerable Kāmabhū was staying near Macchikāsaṇḍa in the Wild Mango Grove.
Then Citta the householder went up to Venerable Kāmabhū, sat down to one side, and said to him:
“Sir, how many processes are there?”
“Householder, there are three processes.
The physical process, the verbal process, and the mental process.”
Saying “Good, sir,” Citta approved and agreed with what Kāmabhū said. Then he asked another question:
“But sir, what is the physical process? What’s the verbal process? What’s the mental process?”
“Breathing is a physical process. Placing the mind and keeping it connected are a verbal process. Perception and feeling are a mental process.”
Saying “Good, sir,” he asked another question:
“But sir, why is breathing a physical process? Why are placing the mind and keeping it connected a verbal process? Why are perception and feeling a mental process?”
“Breathing is physical. It’s tied up with the body, that’s why breathing is a physical process.
First you place the mind and keep it connected, then you break into speech. That’s why placing the mind and keeping it connected are a verbal process.
Perception and feeling are mental. They’re tied up with the mind, that’s why perception and feeling are a mental process.”
Saying “Good, sir,” he asked another question:
“But sir, how does someone attain the cessation of perception and feeling?”
“A mendicant who is entering such an attainment does not think:
‘I will enter the cessation of perception and feeling’ or ‘I am entering the cessation of perception and feeling’ or ‘I have entered the cessation of perception and feeling.’
Rather, their mind has been previously developed so as to lead to such a state.”
Saying “Good, sir,” he asked another question:
“But sir, which cease first for a mendicant who is entering the cessation of perception and feeling: the physical, verbal, or mental process?”
“The verbal process ceases first, then physical, then mental.”
Saying “Good, sir,” he asked another question:
“What’s the difference between someone who has passed away and a mendicant who has attained the cessation of perception and feeling?”
“When someone dies, their physical, verbal, and mental processes have ceased and stilled; their vitality is spent; their warmth is dissipated; and their faculties have disintegrated.
When a mendicant has attained the cessation of perception and feeling, their physical, verbal, and mental processes have ceased and stilled. But their vitality is not spent; their warmth is not dissipated; and their faculties are very clear.
That’s the difference between someone who has passed away and a mendicant who has attained the cessation of perception and feeling.”
Saying “Good, sir,” he asked another question:
“But sir, how does someone emerge from the cessation of perception and feeling?”
“A mendicant who is emerging from such an attainment does not think:
‘I will emerge from the cessation of perception and feeling’ or ‘I am emerging from the cessation of perception and feeling’ or ‘I have emerged from the cessation of perception and feeling.’
Rather, their mind has been previously developed so as to lead to such a state.”
Saying “Good, sir,” he asked another question:
“But sir, which arise first for a mendicant who is emerging from the cessation of perception and feeling: the physical, verbal, or mental process?”
“The mental process arises first, then physical, then verbal.”
Saying “Good, sir,” he asked another question:
“But sir, when a mendicant has emerged from the attainment of the cessation of perception and feeling, how many kinds of contact do they experience?”
“They experience three kinds of contact:
emptiness, signless, and undirected contacts.”
Saying “Good, sir,” he asked another question:
“But sir, when a mendicant has emerged from the attainment of the cessation of perception and feeling, what does their mind slant, slope, and incline to?”
“Their mind slants, slopes, and inclines to seclusion.”
Saying “Good, sir,” Citta approved and agreed with what Kāmabhū said. Then he asked another question:
“But sir, how many things are helpful for attaining the cessation of perception and feeling?”
“Well, householder, you’ve finally asked what you should have asked first!
Nevertheless, I will answer you.
Two things are helpful for attaining the cessation of perception and feeling:
serenity and discernment.”
Vi-n 1 Một thời Tôn giả Kàmabhù trú tại Macchikàsanda, tại rừng Ambāṭaka.
Vi-n 2 Rồi gia chủ Citta đi đến Tôn giả Kàmabhà; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Kàmabhù, rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi một bên, gia chủ Citta thưa Tôn giả Kàmabhù:
—Bạch Thượng tọa, có bao nhiêu hành tất cả?
—Này Gia chủ có ba hành: thân hành, khẩu hành và ý hành.
—Lành thay, bạch Thượng tọa.
Gia chủ Citta hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Kàmabhù nói, rồi hỏi thêm Tôn giả Kàmabhù một câu nữa:
—Bạch Thượng tọa, thế nào là thân hành? Thế nào là khẩu hành? Thế nào là ý hành?
—Hơi thở vô, hơi thở ra, này Gia chủ, là thân hành. Tầm và tứ là khẩu hành. Tưởng và thọ là ý hành.
—Lành thay, bạch Thượng tọa.
Gia chủ Citta hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Kàmabhù nói … hỏi thêm câu hỏi nữa:
Vi-n 5 —Vì sao, bạch Thượng tọa, thở vô thở ra là thân hành? Vì sao tầm và tứ là khẩu hành? Vì sao tưởng và thọ là ý hành?
—Thở vô thở ra, này Giả chủ, thuộc về thân. Các pháp này liên hệ đến thân; do vậy, thở vô thở ra là thân hành. Trước phải tầm cầu, tư sát, này Gia chủ, sau mới phát lời nói; do vậy, tầm và tứ là khẩu hành. Tưởng và thọ thuộc về ý. Những pháp này liên hệ đến tâm; do vậy, tưởng và thọ là ý hành.
—Lành thay, bạch Thượng tọa.
… hỏi thêm câu hỏi nữa:
Vi-n 6 —Như thế nào, bạch Thượng tọa, là chứng Diệt thọ tưởng định?
—Này Gia chủ, Tỷ-kheo chứng đạt Diệt thọ tưởng định không có nghĩ rằng: “Tôi sẽ chứng đạt Diệt thọ tưởng định”, hay: “Tôi đang chứng đạt Diệt thọ tưởng định”, hay: “Tôi đã chứng đạt Diệt thọ tưởng định”. Do tâm vị ấy trước đã được tu tập như vậy, nên đưa đến thành tựu như thật như vậy.
—Lành thay …
… hỏi thêm câu nữa:
Vi-n 7 —Tỷ-kheo chứng đạt Diệt thọ tưởng định, bạch Thượng tọa, những pháp nào được đoạn diệt trước, thân hành, hay khẩu hành, hay ý hành?
—Tỷ-kheo chứng đạt Diệt thọ tưởng định, này Gia chủ, khẩu hành được diệt trước, thứ đến thân hành, rồi đến ý hành.
—Lành thay …
… hỏi thêm câu hỏi nữa:
Vi-n 8 —Bạch Thượng tọa, người đã chết, đã mệnh chung, và Tỷ-kheo chứng đạt Diệt thọ tưởng định, giữa những người này có những sai khác gì?
—Ðối với người đã chết, đã mệnh chung, này Gia chủ, thân hành người ấy được đoạn diệt, được khinh an; khẩu hành được đoạn diệt, được khinh an; ý hành được đoạn diệt, được khinh an, thọ mạng được đoạn tận; sức nóng được tịnh chỉ; các căn bị hủy hoại. Còn Tỷ-kheo đã chứng đạt Diệt thọ tưởng định, này Gia chủ, thân hành được đoạn diệt, khinh an; khẩu hành được đoạn diệt, khinh an; ý hành được đoạn diệt, khinh an; thọ mạng không bị đoạn tận; sức nóng không bị tịnh chỉ; các căn được trong sáng. Này Gia chủ, người đã chết, đã mệnh chung và Tỷ-kheo chứng đạt Diệt thọ tưởng định, giữa những người này có những sai khác như vậy.
—Lành thay …
… hỏi thêm câu hỏi nữa.
Vi-n 9 —Như thế nào, bạch Thượng tọa, là ra khỏi Diệt thọ tưởng định?
—Này Gia chủ, Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định không có suy nghĩ: “Tôi sẽ ra khỏi Diệt thọ tưởng định”, hay: “Tôi đang ra khỏi Diệt thọ tưởng định”, hay: “Tôi đã ra khỏi Diệt thọ tưởng định”. Do tâm vị ấy trước đã được tu tập như vậy, nên đưa đến thành tựu như thật như vậy.
—Lành thay, bạch Thượng tọa …
… hỏi thêm câu hỏi nữa:
Vi-n 10 —Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định, bạch Thượng tọa, pháp nào khởi lên trước, thân hành, khẩu hành, hay ý hành?
—Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định, này Gia chủ, ý hành khởi lên trước, rồi đến thân hành, rồi đến khẩu hành.
—Lành thay, bạch Thượng tọa …
… hỏi thêm câu hỏi nữa:
Vi-n 11 —Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định, bạch Thượng tọa, cảm giác được bao nhiêu xúc?
—Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định cảm thọ được ba xúc: không xúc, vô tướng xúc, vô nguyện xúc.
—Lành thay, bạch Thượng tọa.
Gia chủ Citta hoan hỷ, tín thọ … và hỏi thêm câu hỏi nữa:
Vi-n 12 —Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định, bạch Thượng tọa, tâm thiên về đâu, hướng về đâu, nghiêng về đâu?
—Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định, này Gia chủ, tâm vị ấy thiên về viễn ly, hướng về viễn ly, nghiêng về viễn ly.
—Lành thay, bạch Thượng tọa.
Gia chủ Citta hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Kàmabhù nói rồi hỏi thêm câu hỏi nữa:
Vi-n 13 —Bạch Thượng tọa, có bao nhiêu pháp giúp đỡ nhiều cho sự chứng đắc Diệt thọ tưởng định?
—Thật sự, này Gia chủ, điều Gia chủ cần phải hỏi trước, Gia chủ lại hỏi sau. Tuy vậy, ta sẽ trả lời cho Gia chủ. Này Gia chủ, có hai pháp giúp đỡ rất nhiều cho Diệt thọ tưởng định được chứng đắc. Ðó là Chỉ và Quán.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā kāmabhū macchikāsaṇḍe viharati ambāṭakavane.
Atha kho citto gahapati yenāyasmā kāmabhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho citto gahapati āyasmantaṁ kāmabhuṁ etadavoca:
“kati nu kho, bhante, saṅkhārā”ti?
“Tayo kho, gahapati, saṅkhārā—
kāyasaṅkhāro, vacīsaṅkhāro, cittasaṅkhāro”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho citto gahapati āyasmato kāmabhussa bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā āyasmantaṁ kāmabhuṁ uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“katamo pana, bhante, kāyasaṅkhāro, katamo vacīsaṅkhāro, katamo cittasaṅkhāro”ti?
“Assāsapassāsā kho, gahapati, kāyasaṅkhāro, vitakkavicārā vacīsaṅkhāro, saññā ca vedanā ca cittasaṅkhāro”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho citto gahapati …pe… uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“kasmā pana, bhante, assāsapassāsā kāyasaṅkhāro, kasmā vitakkavicārā vacīsaṅkhāro, kasmā saññā ca vedanā ca cittasaṅkhāro”ti?
“Assāsapassāsā kho, gahapati, kāyikā. Ete dhammā kāyappaṭibaddhā, tasmā assāsapassāsā kāyasaṅkhāro.
Pubbe kho, gahapati, vitakketvā vicāretvā pacchā vācaṁ bhindati, tasmā vitakkavicārā vacīsaṅkhāro.
Saññā ca vedanā ca cetasikā. Ete dhammā cittappaṭibaddhā, tasmā saññā ca vedanā ca cittasaṅkhāro”ti.
“Sādhu …pe… uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“kathaṁ pana, bhante, saññāvedayitanirodhasamāpatti hotī”ti?
“Na kho, gahapati, saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjantassa bhikkhuno evaṁ hoti:
‘ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjissan’ti vā ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjāmī’ti vā ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno’ti vā.
Atha khvassa pubbeva tathā cittaṁ bhāvitaṁ hoti yaṁ taṁ tathattāya upanetī”ti.
“Sādhu …pe… uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjantassa pana, bhante, bhikkhuno katame dhammā paṭhamaṁ nirujjhanti, yadi vā kāyasaṅkhāro, yadi vā vacīsaṅkhāro, yadi vā cittasaṅkhāro”ti?
“Saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjantassa kho, gahapati, bhikkhuno vacīsaṅkhāro paṭhamaṁ nirujjhati, tato kāyasaṅkhāro, tato cittasaṅkhāro”ti.
“Sādhu …pe… uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“yvāyaṁ, bhante, mato kālaṅkato, yo cāyaṁ bhikkhu saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno, imesaṁ kiṁ nānākaraṇan”ti?
“Yvāyaṁ, gahapati, mato kālaṅkato tassa kāyasaṅkhāro niruddho paṭippassaddho, vacīsaṅkhāro niruddho paṭippassaddho, cittasaṅkhāro niruddho paṭippassaddho, āyu parikkhīṇo, usmā vūpasantā, indriyāni viparibhinnāni.
Yo ca khvāyaṁ, gahapati, bhikkhu saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno, tassapi kāyasaṅkhāro niruddho paṭippassaddho, vacīsaṅkhāro niruddho paṭippassaddho, cittasaṅkhāro niruddho paṭippassaddho, āyu aparikkhīṇo, usmā avūpasantā, indriyāni vippasannāni.
Yvāyaṁ, gahapati, mato kālaṅkato, yo cāyaṁ bhikkhu saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno, idaṁ nesaṁ nānākaraṇan”ti.
“Sādhu …pe… uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“kathaṁ pana, bhante, saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhānaṁ hotī”ti?
“Na kho, gahapati, saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahantassa bhikkhuno evaṁ hoti:
‘ahaṁ saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahissan’ti vā ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahāmī’ti vā ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhito’ti vā.
Atha khvassa pubbeva tathā cittaṁ bhāvitaṁ hoti, yaṁ taṁ tathattāya upanetī”ti.
“Sādhu, bhante …pe… uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahantassa pana, bhante, bhikkhuno katame dhammā paṭhamaṁ uppajjanti, yadi vā kāyasaṅkhāro, yadi vā vacīsaṅkhāro, yadi vā cittasaṅkhāro”ti?
“Saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahantassa, gahapati, bhikkhuno cittasaṅkhāro paṭhamaṁ uppajjati, tato kāyasaṅkhāro, tato vacīsaṅkhāro”ti.
“Sādhu …pe… uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhitaṁ pana, bhante, bhikkhuṁ kati phassā phusanti”?
“Saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhitaṁ kho, gahapati, bhikkhuṁ tayo phassā phusanti—
suññato phasso, animitto phasso, appaṇihito phasso”ti.
“Sādhu …pe… uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhitassa pana, bhante, bhikkhuno kiṁninnaṁ cittaṁ hoti, kiṁpoṇaṁ, kiṁpabbhāran”ti?
“Saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhitassa kho, gahapati, bhikkhuno vivekaninnaṁ cittaṁ hoti vivekapoṇaṁ vivekapabbhāran”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho citto gahapati āyasmato kāmabhussa bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā āyasmantaṁ kāmabhuṁ uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“saññāvedayitanirodhasamāpattiyā pana, bhante, kati dhammā bahūpakārā”ti?
“Addhā kho tvaṁ, gahapati, yaṁ paṭhamaṁ pucchitabbaṁ taṁ pucchasi.
Api ca tyāhaṁ byākarissāmi.
Saññāvedayitanirodhasamāpattiyā kho, gahapati, dve dhammā bahūpakārā—
samatho ca vipassanā cā”ti.
Chaṭṭhaṁ.