Vi-n 1-2. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi … gọi các Tỷ-kheo … Thế Tôn nói như sau:
Vi-n 3 —Ví như, này các Tỷ-kheo, có bốn con rắn độc, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt. Rồi có người đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ. Người ta nói với người ấy: “Này Bạn, có bốn con rắn độc này, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt. Thỉnh thoảng hãy thức chúng dậy, thỉnh thoảng hãy tắm cho chúng, thỉnh thoảng hãy cho chúng ăn, thỉnh thoảng hãy cho chúng vào huyệt (để ngủ). Này Bạn, nếu một trong bốn con rắn độc này, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, tức giận, thời này Bạn, Bạn sẽ đi đến chết, hay đau khổ gần như chết. Vậy này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ cần phải làm”.
Vi-n 4 Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, chạy trốn chỗ này, chỗ kia. Người ta nói với người ấy: “Này Bạn, có năm kẻ sát nhân thù địch này, đang đi theo sau lưng Bạn. Chúng nói: ‘Khi nào chúng ta thấy nó, chúng ta sẽ giết nó ‘. Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm”.
Vi-n 5 Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc ấy, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, quá sợ hãi năm tên sát nhân thù địch ấy, chạy đi trốn chỗ này, chỗ kia. Người ta nói với người ấy: “Này Bạn, có một tên thứ sáu cướp nhà, giết người, với ngọn kiếm dơ lên, đang đi theo sau lưng Bạn. Nó nói: ‘Khi nào ta thấy nó, ta sẽ chém đầu nó'. Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm”.
Vi-n 6 Rồi, này các Tỷ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, quá sợ hãi năm tên sát nhân thù địch, quá sợ hãi tên thứ sáu cướp nhà, giết người với ngọn kiếm dơ lên, chạy đi trốn chỗ này, chỗ kia. Rồi người ấy thấy một ngôi làng trống không. Nhà nào người ấy đi vào, người ấy vào chỗ trống không, vào chỗ rỗng không, vào chỗ tuyệt không. Người ấy sờ đến đồ dùng nào, người ấy sờ chỗ trống không, người ấy sờ chỗ rỗng không, người ấy sờ chỗ tuyệt không. Người ta nói với người ấy: “Này Bạn, bọn cướp phá hoại làng, sẽ đánh cướp ngôi làng trống không này. Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm”.
Vi-n 7 Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, quá sợ hãi năm tên giết người thù địch, quá sợ hãi tên thứ sáu cướp nhà, giết người với ngọn kiếm dơ lên, quá sợ hãi các tên cướp làng, liền chạy đi trốn chỗ này, chỗ kia. Rồi người ấy thấy một đầm nước lớn, bờ bên này đầy những sợ hãi nguy hiểm, bờ bên kia được an ổn, không có sợ hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua, không có cầu để đi qua đi lại.
Vi-n 8 Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy suy nghĩ như sau: “Ðây là vùng nước đọng, bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, bờ bên kia an ổn, không kinh hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua, cũng không có cầu bắc qua từ bờ bên này đến bờ bên kia. Nay ta hãy thâu góp cỏ cây, nhành lá, cột lại thành chiếc bè, nhờ chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân, ta có thể vượt qua bờ bên kia một cách an toàn”.
Vi-n 9 Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy thâu góp cỏ cây, nhành lá, cột lại thành chiếc bè, nhờ chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân, người ấy vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Vị Bà-la-môn vượt qua bờ bên kia, đứng trên đất liền.
Vi-n 10 Ví dụ này, này các Tỷ-kheo, Ta làm để giải thích ý nghĩa. Và đây là ý nghĩa:
Vi-n 11 Bốn con rắn độc với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với bốn đại chủng: địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại.
Vi-n 12 Năm tên giết người thù địch, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với năm thủ uẩn: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.
Vi-n 13 Tên thứ sáu cướp nhà, giết người với cây kiếm giơ lên, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với dục tham.
Vi-n 14 Ngôi làng trống không, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ. Này các Tỷ-kheo, nếu một người hiền, kinh nghiệm, có trí, tìm hiểu nó với con mắt; vị ấy thấy nó là trống không, là rỗng không, là tuyệt không … Nếu tìm hiểu nó với ý; vị ấy thấy nó là trống không, là rỗng không, là tuyệt không.
Vi-n 15 Bọn cướp phá làng, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ. Này các Tỷ-kheo, mắt bị tàn hại trong các sắc khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, tai bị tàn hại trong các tiếng khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, mũi bị tàn hại trong các hương khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, lưỡi bị tàn hại trong các vị khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, thân bị tàn hại trong các xúc khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, ý bị tàn hại trong các pháp khả ái và không khả ái.
Vi-n 16 Vùng nước lớn, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với bốn bộc lưu: dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu và vô minh bộc lưu.
Vi-n 17 Bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với thân kiến này.
Vi-n 18 Bờ bên kia an ổn và không kinh hãi, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Niết-bàn.
Vi-n 19 Cái bè, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Thánh đạo Tám ngành.
Vi-n 20 Tinh tấn dùng tay và dùng chân, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với tinh tấn, tinh cần.
Vi-n 21 Vị Bà-la-môn vượt qua bờ bên kia và đứng trên đất liền, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với bậc A-la-hán.
“Seyyathāpi, bhikkhave, cattāro āsīvisā uggatejā ghoravisā.
Atha puriso āgaccheyya jīvitukāmo amaritukāmo sukhakāmo dukkhappaṭikūlo.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ:
‘ime te, ambho purisa, cattāro āsīvisā uggatejā ghoravisā kālena kālaṁ vuṭṭhāpetabbā, kālena kālaṁ nhāpetabbā, kālena kālaṁ bhojetabbā, kālena kālaṁ saṁvesetabbā.
Yadā ca kho te, ambho purisa, imesaṁ catunnaṁ āsīvisānaṁ uggatejānaṁ ghoravisānaṁ aññataro vā aññataro vā kuppissati, tato tvaṁ, ambho purisa, maraṇaṁ vā nigacchasi, maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ.
Yaṁ te, ambho purisa, karaṇīyaṁ taṁ karohī’ti.
Atha kho so, bhikkhave, puriso bhīto catunnaṁ āsīvisānaṁ uggatejānaṁ ghoravisānaṁ yena vā tena vā palāyetha.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ:
‘ime kho, ambho purisa, pañca vadhakā paccatthikā piṭṭhito piṭṭhito anubandhā, yattheva naṁ passissāma tattheva jīvitā voropessāmāti.
Yaṁ te, ambho purisa, karaṇīyaṁ taṁ karohī’ti.
Atha kho so, bhikkhave, puriso bhīto catunnaṁ āsīvisānaṁ uggatejānaṁ ghoravisānaṁ, bhīto pañcannaṁ vadhakānaṁ paccatthikānaṁ yena vā tena vā palāyetha.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ:
‘ayaṁ te, ambho purisa, chaṭṭho antaracaro vadhako ukkhittāsiko piṭṭhito piṭṭhito anubandho yattheva naṁ passissāmi tattheva siro pātessāmīti.
Yaṁ te, ambho purisa, karaṇīyaṁ taṁ karohī’ti.
Atha kho so, bhikkhave, puriso bhīto catunnaṁ āsīvisānaṁ uggatejānaṁ ghoravisānaṁ, bhīto pañcannaṁ vadhakānaṁ paccatthikānaṁ, bhīto chaṭṭhassa antaracarassa vadhakassa ukkhittāsikassa yena vā tena vā palāyetha.
So passeyya suññaṁ gāmaṁ.
Yaññadeva gharaṁ paviseyya rittakaññeva paviseyya tucchakaññeva paviseyya suññakaññeva paviseyya.
Yaññadeva bhājanaṁ parimaseyya rittakaññeva parimaseyya tucchakaññeva parimaseyya suññakaññeva parimaseyya.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ:
‘idāni, ambho purisa, imaṁ suññaṁ gāmaṁ corā gāmaghātakā pavisanti.
Yaṁ te, ambho purisa, karaṇīyaṁ taṁ karohī’ti.
Atha kho so, bhikkhave, puriso bhīto catunnaṁ āsīvisānaṁ uggatejānaṁ ghoravisānaṁ, bhīto pañcannaṁ vadhakānaṁ paccatthikānaṁ, bhīto chaṭṭhassa antaracarassa vadhakassa ukkhittāsikassa, bhīto corānaṁ gāmaghātakānaṁ yena vā tena vā palāyetha.
So passeyya mahantaṁ udakaṇṇavaṁ orimaṁ tīraṁ sāsaṅkaṁ sappaṭibhayaṁ, pārimaṁ tīraṁ khemaṁ appaṭibhayaṁ.
Na cassa nāvā santāraṇī uttarasetu vā apārā pāraṁ gamanāya.
Atha kho, bhikkhave, tassa purisassa evamassa:
‘ayaṁ kho mahāudakaṇṇavo orimaṁ tīraṁ sāsaṅkaṁ sappaṭibhayaṁ, pārimaṁ tīraṁ khemaṁ appaṭibhayaṁ, natthi ca nāvā santāraṇī uttarasetu vā apārā pāraṁ gamanāya.
Yannūnāhaṁ tiṇakaṭṭhasākhāpalāsaṁ saṅkaḍḍhitvā kullaṁ bandhitvā taṁ kullaṁ nissāya hatthehi ca pādehi ca vāyamamāno sotthinā pāraṁ gaccheyyan’ti.
Atha kho so, bhikkhave, puriso tiṇakaṭṭhasākhāpalāsaṁ saṅkaḍḍhitvā kullaṁ bandhitvā taṁ kullaṁ nissāya hatthehi ca pādehi ca vāyamamāno sotthinā pāraṁ gaccheyya, tiṇṇo pāraṅgato thale tiṭṭhati brāhmaṇo.
Upamā kho myāyaṁ, bhikkhave, katā atthassa viññāpanāya.
Ayañcettha attho—
cattāro āsīvisā uggatejā ghoravisāti kho, bhikkhave, catunnetaṁ mahābhūtānaṁ adhivacanaṁ—
pathavīdhātuyā, āpodhātuyā, tejodhātuyā, vāyodhātuyā.
Pañca vadhakā paccatthikāti kho, bhikkhave, pañcannetaṁ upādānakkhandhānaṁ adhivacanaṁ, seyyathidaṁ—
rūpupādānakkhandhassa, vedanupādānakkhandhassa, saññupādānakkhandhassa, saṅkhārupādānakkhandhassa, viññāṇupādānakkhandhassa.
Chaṭṭho antaracaro vadhako ukkhittāsikoti kho, bhikkhave, nandīrāgassetaṁ adhivacanaṁ.
Suñño gāmoti kho, bhikkhave, channetaṁ ajjhattikānaṁ āyatanānaṁ adhivacanaṁ.
Cakkhuto cepi naṁ, bhikkhave, paṇḍito byatto medhāvī upaparikkhati rittakaññeva khāyati, tucchakaññeva khāyati, suññakaññeva khāyati …pe…
jivhāto cepi naṁ, bhikkhave …pe…
manato cepi naṁ, bhikkhave, paṇḍito byatto medhāvī upaparikkhati rittakaññeva khāyati, tucchakaññeva khāyati, suññakaññeva khāyati.
Corā gāmaghātakāti kho, bhikkhave, channetaṁ bāhirānaṁ āyatanānaṁ adhivacanaṁ.
Cakkhu, bhikkhave, haññati manāpāmanāpesu rūpesu;
sotaṁ, bhikkhave …pe…
ghānaṁ, bhikkhave …pe…
jivhā, bhikkhave, haññati manāpāmanāpesu rasesu;
kāyo, bhikkhave …pe…
mano, bhikkhave, haññati manāpāmanāpesu dhammesu.
Mahā udakaṇṇavoti kho, bhikkhave, catunnetaṁ oghānaṁ adhivacanaṁ—
kāmoghassa, bhavoghassa, diṭṭhoghassa, avijjoghassa.
Orimaṁ tīraṁ sāsaṅkaṁ sappaṭibhayanti kho, bhikkhave, sakkāyassetaṁ adhivacanaṁ.
Pārimaṁ tīraṁ khemaṁ appaṭibhayanti kho, bhikkhave, nibbānassetaṁ adhivacanaṁ.
Kullanti kho, bhikkhave, ariyassetaṁ aṭṭhaṅgikassa maggassa adhivacanaṁ, seyyathidaṁ—
sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
Tassa hatthehi ca pādehi ca vāyāmoti kho, bhikkhave, vīriyārambhassetaṁ adhivacanaṁ.
Tiṇṇo pāraṅgato thale tiṭṭhati brāhmaṇoti kho, bhikkhave, arahato etaṁ adhivacanan”ti.
Paṭhamaṁ.
SC 1“Bhikkhus, suppose there were four vipers of fierce heat and deadly venom. Then a man would come along wanting to live, not wanting to die, desiring happiness and averse to suffering. They would tell him: ‘Good man, these four vipers are of fierce heat and deadly venom. sn.iv.173 From time to time they must be lifted up; from time to time they must be bathed; from time to time they must be fed; from time to time they must be laid to rest. But if one or another of these vipers ever becomes angry with you, then, good man, you will meet death or deadly suffering. Do whatever has to be done, good man!’
SC 2“Then, bhikkhus, afraid of the four vipers of fierce heat and deadly venom, that man would flee in one direction or another. They would tell him: ‘Good man, five murderous enemies are pursuing you, thinking, “Wherever we see him, we will take his life right on the spot.” Do whatever has to be done, good man!’
SC 3“Then, bhikkhus, afraid of the four vipers of fierce heat and deadly venom, and of the five murderous enemies, that man would flee in one direction or another. They would tell him: ‘Good man, a sixth murderer, an intimate companion, is pursuing you with drawn sword, thinking, “Wherever I see him I will cut off his head right on the spot.” Do whatever has to be done, good man!’
SC 4“Then, bhikkhus, afraid of the four vipers of fierce heat and deadly venom, and of the five murderous enemies, and of the sixth murderer, the intimate companion with drawn sword, that man would flee in one direction or another. He would see an empty village. Whatever house he enters is void, deserted, empty. Whatever pot he takes hold of is void, hollow, empty. They would tell him: ‘Good man, just now village-attacking dacoits will raid this empty village. Do whatever has to be done, good man!’ sn.iv.174
SC 5“Then, bhikkhus, afraid of the four vipers of fierce heat and deadly venom, and of the five murderous enemies, and of the sixth murderer—the intimate companion with drawn sword—and of the village-attacking dacoits, that man would flee in one direction or another. He would see a great expanse of water whose near shore was dangerous and fearful, and whose further shore was safe and free from danger, but there would be no ferryboat or bridge for crossing over from the near shore to the far shore.
SC 6“Then the man would think: ‘There is this great expanse of water whose near shore is dangerous and fearful, and whose further shore is safe and free from danger, but there is no ferryboat or bridge for crossing over. Let me collect grass, twigs, branches, and foliage, and bind them together into a raft, so that by means of that raft, making an effort with my hands and feet, I can get safely across to the far shore.’
SC 7“Then the man would collect grass, twigs, branches, and foliage, and bind them together into a raft, so that by means of that raft, making an effort with his hands and feet, he would get safely across to the far shore. Crossed over, gone beyond, the brahmin stands on high ground.
SC 8“I have made up this simile, bhikkhus, in order to convey a meaning. This is the meaning here: ‘The four vipers of fierce heat and deadly venom’: this is a designation for the four great elements—the earth element, the water element, the heat element, the air element.
SC 9“‘The five murderous enemies’: this is a designation for the five aggregates subject to clinging; that is, the material form aggregate subject to clinging, the feeling aggregate subject to clinging, the perception aggregate subject to clinging, the volitional formations aggregate subject to clinging, the consciousness aggregate subject to clinging.
SC 10“‘The sixth murderer, the intimate companion with drawn sword’: this is a designation for delight and lust.
SC 11“‘The empty village’: this is a designation for the six internal sense bases. If, bhikkhus, a wise, competent, intelligent person examines them by way of the eye, they appear to be void, hollow, sn.iv.175 empty. If he examines them by way of the ear… by way of the mind, they appear to be void, hollow, empty.
SC 12“‘Village-attacking dacoits’: this is a designation for the six external sense bases. The eye, bhikkhus, is attacked by agreeable and disagreeable forms. The ear … The nose … The tongue … The body … The mind is attacked by agreeable and disagreeable mental phenomena.
SC 13“‘The great expanse of water’: this is a designation for the four floods: the flood of sensuality, the flood of existence, the flood of views, and the flood of ignorance.
SC 14“‘The near shore, which is dangerous and fearful’: this is a designation for identity.
SC 15“‘The further shore, which is safe and free from danger’: this is a designation for Nibbāna.
SC 16“‘The raft’: this is a designation for the Noble Eightfold Path; that is, right view … right concentration.
SC 17“‘Making effort with hands and feet’: this is a designation for the arousing of energy.
SC 18“‘Crossed over, gone beyond, the brahmin stands on high ground’: this is a designation for the arahant.”
Vi-n 1-2. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi … gọi các Tỷ-kheo … Thế Tôn nói như sau:
Vi-n 3 —Ví như, này các Tỷ-kheo, có bốn con rắn độc, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt. Rồi có người đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ. Người ta nói với người ấy: “Này Bạn, có bốn con rắn độc này, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt. Thỉnh thoảng hãy thức chúng dậy, thỉnh thoảng hãy tắm cho chúng, thỉnh thoảng hãy cho chúng ăn, thỉnh thoảng hãy cho chúng vào huyệt (để ngủ). Này Bạn, nếu một trong bốn con rắn độc này, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, tức giận, thời này Bạn, Bạn sẽ đi đến chết, hay đau khổ gần như chết. Vậy này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ cần phải làm”.
Vi-n 4 Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, chạy trốn chỗ này, chỗ kia. Người ta nói với người ấy: “Này Bạn, có năm kẻ sát nhân thù địch này, đang đi theo sau lưng Bạn. Chúng nói: ‘Khi nào chúng ta thấy nó, chúng ta sẽ giết nó ‘. Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm”.
Vi-n 5 Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc ấy, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, quá sợ hãi năm tên sát nhân thù địch ấy, chạy đi trốn chỗ này, chỗ kia. Người ta nói với người ấy: “Này Bạn, có một tên thứ sáu cướp nhà, giết người, với ngọn kiếm dơ lên, đang đi theo sau lưng Bạn. Nó nói: ‘Khi nào ta thấy nó, ta sẽ chém đầu nó'. Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm”.
Vi-n 6 Rồi, này các Tỷ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, quá sợ hãi năm tên sát nhân thù địch, quá sợ hãi tên thứ sáu cướp nhà, giết người với ngọn kiếm dơ lên, chạy đi trốn chỗ này, chỗ kia. Rồi người ấy thấy một ngôi làng trống không. Nhà nào người ấy đi vào, người ấy vào chỗ trống không, vào chỗ rỗng không, vào chỗ tuyệt không. Người ấy sờ đến đồ dùng nào, người ấy sờ chỗ trống không, người ấy sờ chỗ rỗng không, người ấy sờ chỗ tuyệt không. Người ta nói với người ấy: “Này Bạn, bọn cướp phá hoại làng, sẽ đánh cướp ngôi làng trống không này. Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm”.
Vi-n 7 Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, quá sợ hãi năm tên giết người thù địch, quá sợ hãi tên thứ sáu cướp nhà, giết người với ngọn kiếm dơ lên, quá sợ hãi các tên cướp làng, liền chạy đi trốn chỗ này, chỗ kia. Rồi người ấy thấy một đầm nước lớn, bờ bên này đầy những sợ hãi nguy hiểm, bờ bên kia được an ổn, không có sợ hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua, không có cầu để đi qua đi lại.
Vi-n 8 Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy suy nghĩ như sau: “Ðây là vùng nước đọng, bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, bờ bên kia an ổn, không kinh hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua, cũng không có cầu bắc qua từ bờ bên này đến bờ bên kia. Nay ta hãy thâu góp cỏ cây, nhành lá, cột lại thành chiếc bè, nhờ chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân, ta có thể vượt qua bờ bên kia một cách an toàn”.
Vi-n 9 Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy thâu góp cỏ cây, nhành lá, cột lại thành chiếc bè, nhờ chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân, người ấy vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Vị Bà-la-môn vượt qua bờ bên kia, đứng trên đất liền.
Vi-n 10 Ví dụ này, này các Tỷ-kheo, Ta làm để giải thích ý nghĩa. Và đây là ý nghĩa:
Vi-n 11 Bốn con rắn độc với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với bốn đại chủng: địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại.
Vi-n 12 Năm tên giết người thù địch, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với năm thủ uẩn: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.
Vi-n 13 Tên thứ sáu cướp nhà, giết người với cây kiếm giơ lên, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với dục tham.
Vi-n 14 Ngôi làng trống không, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ. Này các Tỷ-kheo, nếu một người hiền, kinh nghiệm, có trí, tìm hiểu nó với con mắt; vị ấy thấy nó là trống không, là rỗng không, là tuyệt không … Nếu tìm hiểu nó với ý; vị ấy thấy nó là trống không, là rỗng không, là tuyệt không.
Vi-n 15 Bọn cướp phá làng, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ. Này các Tỷ-kheo, mắt bị tàn hại trong các sắc khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, tai bị tàn hại trong các tiếng khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, mũi bị tàn hại trong các hương khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, lưỡi bị tàn hại trong các vị khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, thân bị tàn hại trong các xúc khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, ý bị tàn hại trong các pháp khả ái và không khả ái.
Vi-n 16 Vùng nước lớn, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với bốn bộc lưu: dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu và vô minh bộc lưu.
Vi-n 17 Bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với thân kiến này.
Vi-n 18 Bờ bên kia an ổn và không kinh hãi, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Niết-bàn.
Vi-n 19 Cái bè, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Thánh đạo Tám ngành.
Vi-n 20 Tinh tấn dùng tay và dùng chân, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với tinh tấn, tinh cần.
Vi-n 21 Vị Bà-la-môn vượt qua bờ bên kia và đứng trên đất liền, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với bậc A-la-hán.
“Seyyathāpi, bhikkhave, cattāro āsīvisā uggatejā ghoravisā.
Atha puriso āgaccheyya jīvitukāmo amaritukāmo sukhakāmo dukkhappaṭikūlo.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ:
‘ime te, ambho purisa, cattāro āsīvisā uggatejā ghoravisā kālena kālaṁ vuṭṭhāpetabbā, kālena kālaṁ nhāpetabbā, kālena kālaṁ bhojetabbā, kālena kālaṁ saṁvesetabbā.
Yadā ca kho te, ambho purisa, imesaṁ catunnaṁ āsīvisānaṁ uggatejānaṁ ghoravisānaṁ aññataro vā aññataro vā kuppissati, tato tvaṁ, ambho purisa, maraṇaṁ vā nigacchasi, maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ.
Yaṁ te, ambho purisa, karaṇīyaṁ taṁ karohī’ti.
Atha kho so, bhikkhave, puriso bhīto catunnaṁ āsīvisānaṁ uggatejānaṁ ghoravisānaṁ yena vā tena vā palāyetha.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ:
‘ime kho, ambho purisa, pañca vadhakā paccatthikā piṭṭhito piṭṭhito anubandhā, yattheva naṁ passissāma tattheva jīvitā voropessāmāti.
Yaṁ te, ambho purisa, karaṇīyaṁ taṁ karohī’ti.
Atha kho so, bhikkhave, puriso bhīto catunnaṁ āsīvisānaṁ uggatejānaṁ ghoravisānaṁ, bhīto pañcannaṁ vadhakānaṁ paccatthikānaṁ yena vā tena vā palāyetha.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ:
‘ayaṁ te, ambho purisa, chaṭṭho antaracaro vadhako ukkhittāsiko piṭṭhito piṭṭhito anubandho yattheva naṁ passissāmi tattheva siro pātessāmīti.
Yaṁ te, ambho purisa, karaṇīyaṁ taṁ karohī’ti.
Atha kho so, bhikkhave, puriso bhīto catunnaṁ āsīvisānaṁ uggatejānaṁ ghoravisānaṁ, bhīto pañcannaṁ vadhakānaṁ paccatthikānaṁ, bhīto chaṭṭhassa antaracarassa vadhakassa ukkhittāsikassa yena vā tena vā palāyetha.
So passeyya suññaṁ gāmaṁ.
Yaññadeva gharaṁ paviseyya rittakaññeva paviseyya tucchakaññeva paviseyya suññakaññeva paviseyya.
Yaññadeva bhājanaṁ parimaseyya rittakaññeva parimaseyya tucchakaññeva parimaseyya suññakaññeva parimaseyya.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ:
‘idāni, ambho purisa, imaṁ suññaṁ gāmaṁ corā gāmaghātakā pavisanti.
Yaṁ te, ambho purisa, karaṇīyaṁ taṁ karohī’ti.
Atha kho so, bhikkhave, puriso bhīto catunnaṁ āsīvisānaṁ uggatejānaṁ ghoravisānaṁ, bhīto pañcannaṁ vadhakānaṁ paccatthikānaṁ, bhīto chaṭṭhassa antaracarassa vadhakassa ukkhittāsikassa, bhīto corānaṁ gāmaghātakānaṁ yena vā tena vā palāyetha.
So passeyya mahantaṁ udakaṇṇavaṁ orimaṁ tīraṁ sāsaṅkaṁ sappaṭibhayaṁ, pārimaṁ tīraṁ khemaṁ appaṭibhayaṁ.
Na cassa nāvā santāraṇī uttarasetu vā apārā pāraṁ gamanāya.
Atha kho, bhikkhave, tassa purisassa evamassa:
‘ayaṁ kho mahāudakaṇṇavo orimaṁ tīraṁ sāsaṅkaṁ sappaṭibhayaṁ, pārimaṁ tīraṁ khemaṁ appaṭibhayaṁ, natthi ca nāvā santāraṇī uttarasetu vā apārā pāraṁ gamanāya.
Yannūnāhaṁ tiṇakaṭṭhasākhāpalāsaṁ saṅkaḍḍhitvā kullaṁ bandhitvā taṁ kullaṁ nissāya hatthehi ca pādehi ca vāyamamāno sotthinā pāraṁ gaccheyyan’ti.
Atha kho so, bhikkhave, puriso tiṇakaṭṭhasākhāpalāsaṁ saṅkaḍḍhitvā kullaṁ bandhitvā taṁ kullaṁ nissāya hatthehi ca pādehi ca vāyamamāno sotthinā pāraṁ gaccheyya, tiṇṇo pāraṅgato thale tiṭṭhati brāhmaṇo.
Upamā kho myāyaṁ, bhikkhave, katā atthassa viññāpanāya.
Ayañcettha attho—
cattāro āsīvisā uggatejā ghoravisāti kho, bhikkhave, catunnetaṁ mahābhūtānaṁ adhivacanaṁ—
pathavīdhātuyā, āpodhātuyā, tejodhātuyā, vāyodhātuyā.
Pañca vadhakā paccatthikāti kho, bhikkhave, pañcannetaṁ upādānakkhandhānaṁ adhivacanaṁ, seyyathidaṁ—
rūpupādānakkhandhassa, vedanupādānakkhandhassa, saññupādānakkhandhassa, saṅkhārupādānakkhandhassa, viññāṇupādānakkhandhassa.
Chaṭṭho antaracaro vadhako ukkhittāsikoti kho, bhikkhave, nandīrāgassetaṁ adhivacanaṁ.
Suñño gāmoti kho, bhikkhave, channetaṁ ajjhattikānaṁ āyatanānaṁ adhivacanaṁ.
Cakkhuto cepi naṁ, bhikkhave, paṇḍito byatto medhāvī upaparikkhati rittakaññeva khāyati, tucchakaññeva khāyati, suññakaññeva khāyati …pe…
jivhāto cepi naṁ, bhikkhave …pe…
manato cepi naṁ, bhikkhave, paṇḍito byatto medhāvī upaparikkhati rittakaññeva khāyati, tucchakaññeva khāyati, suññakaññeva khāyati.
Corā gāmaghātakāti kho, bhikkhave, channetaṁ bāhirānaṁ āyatanānaṁ adhivacanaṁ.
Cakkhu, bhikkhave, haññati manāpāmanāpesu rūpesu;
sotaṁ, bhikkhave …pe…
ghānaṁ, bhikkhave …pe…
jivhā, bhikkhave, haññati manāpāmanāpesu rasesu;
kāyo, bhikkhave …pe…
mano, bhikkhave, haññati manāpāmanāpesu dhammesu.
Mahā udakaṇṇavoti kho, bhikkhave, catunnetaṁ oghānaṁ adhivacanaṁ—
kāmoghassa, bhavoghassa, diṭṭhoghassa, avijjoghassa.
Orimaṁ tīraṁ sāsaṅkaṁ sappaṭibhayanti kho, bhikkhave, sakkāyassetaṁ adhivacanaṁ.
Pārimaṁ tīraṁ khemaṁ appaṭibhayanti kho, bhikkhave, nibbānassetaṁ adhivacanaṁ.
Kullanti kho, bhikkhave, ariyassetaṁ aṭṭhaṅgikassa maggassa adhivacanaṁ, seyyathidaṁ—
sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
Tassa hatthehi ca pādehi ca vāyāmoti kho, bhikkhave, vīriyārambhassetaṁ adhivacanaṁ.
Tiṇṇo pāraṅgato thale tiṭṭhati brāhmaṇoti kho, bhikkhave, arahato etaṁ adhivacanan”ti.
Paṭhamaṁ.