Vi-n 1 Tại Rājagaha, Veḷuvana.
Vi-n 2 Tôn giả Kassapa đi đến Thế Tôn…
Vi-n 3 Thế Tôn nói với Tôn giả Mahākassapa đang ngồi một bên:
—Này Kassapa, hãy giáo giới Tỷ-kheo! Này Kassapa, hãy nói pháp thoại cho các Tỷ-kheo! Này Kassapa, Ta hoặc ông phải giáo giới các Tỷ-kheo! ông hoặc Ta phải nói pháp thoại cho các Tỷ-kheo!
Vi-n 4 —Bạch Thế Tôn, khó nói là chúng Tỷ-kheo hiện tại. Họ ở trong tình trạng khó nói với họ. Họ không kham nhẫn. Họ không kính trọng lời giáo giới. Bạch Thế Tôn, ở đây, con thấy Tỷ-kheo Bhaṇḍa, đệ tử của Ānanda, và Tỷ-kheo Ābhiñjika, đệ tử của Anuruddha, hai vị ấy nói với nhau: “Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai sẽ nói nhiều hơn? Ai sẽ nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ nói dài hơn?”.
Vi-n 5 Rồi Thế Tôn gọi một Tỷ-kheo:
—Hãy đến, này Tỷ-kheo! Hãy nhân danh Ta nói với Tỷ-kheo Bhaṇḍa, đệ tử của Ānanda, và Tỷ-kheo Ābhiñjika, đệ tử của Anuruddha: “Bậc Ðạo Sư gọi chư Tôn giả”.
Vi-n 6 —Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến các Tỷ-kheo kia; sau khi đến, nói với họ:
—Bậc Ðạo Sư gọi chư Tôn giả.
Vi-n 7 —Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỷ-kheo kia vâng đáp Tỷ-kheo ấy, đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 8 Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ấy đang ngồi một bên:
—Có thật chăng, này các Tỷ-kheo, các ông nói với nhau như sau: “Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai là người sẽ nói nhiều hơn? Ai là người sẽ nói tốt đẹp hơn? Ai là người sẽ nói dài hơn?”
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Vi-n 9 —Này các Tỷ-kheo, các ông có biết là Ta đã thuyết pháp như vầy: “Hãy đến, này các Tỷ-kheo, hãy cùng nhau nói như sau: 'Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai là người sẽ nói nhiều hơn? Ai là người sẽ nói tốt đẹp hơn? Ai là người sẽ nói dài hơn?' chăng?”
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 10 —Này các Tỷ-kheo, nếu các ông được biết là Ta không có giảng như vậy, thời vì sao, này các Người ngu kia, do biết cái gì, thấy cái gì, các ông đã xuất gia trong Pháp và Luật khéo giảng này, các ông lại nói với nhau: “Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai sẽ là người nói nhiều hơn? Ai sẽ là người nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ là người nói dài hơn?” như vậy?
Vi-n 11 Rồi các Tỷ-kheo ấy cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, chúng con đã phạm tội, ngu đần như vậy, si mê như vậy, bất thiện như vậy; vì rằng chúng con đã xuất gia trong Pháp và Luật khéo nói như vậy, chúng con lại nói với nhau: “Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai sẽ là người nói nhiều hơn? Ai sẽ là người nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ là người nói dài hơn?”. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận tội lỗi ấy của chúng con là tội lỗi, để chúng con ngăn ngừa trong tương lai.
Vi-n 12 —Thật sự, này các Tỷ-kheo, các ông đã phạm tội, ngu đần như vậy, si mê như vậy, bất thiện như vậy! Vì rằng các ông đã xuất gia trong Pháp và Luật khéo nói này, các ông đã nói với nhau: “Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai sẽ là người nói nhiều hơn? Ai sẽ là người nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ là người nói dài hơn?”. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, các ông đã thấy tội lỗi là tội lỗi, như pháp sám hối, Ta chấp nhận tội lỗi ấy cho các ông!
Vi-n 13 Này các Tỷ-kheo, như vậy luật của bậc Thánh được tăng trưởng, khi nào có người sau khi thấy tội lỗi là tội lỗi, như pháp sám hối để ngăn ngừa trong tương lai!
Rājagahe veḷuvane.
Atha kho āyasmā mahākassapo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ mahākassapaṁ bhagavā etadavoca:
“ovada, kassapa, bhikkhū;
karohi, kassapa, bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ.
Ahaṁ vā, kassapa, bhikkhū ovadeyyaṁ tvaṁ vā;
ahaṁ vā bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ kareyyaṁ tvaṁ vā”ti.
“Dubbacā kho, bhante, etarahi bhikkhū, dovacassakaraṇehi dhammehi samannāgatā, akkhamā, appadakkhiṇaggāhino anusāsaniṁ.
Idhāhaṁ, bhante, addasaṁ bhaṇḍañca nāma bhikkhuṁ ānandassa saddhivihāriṁ abhijikañca nāma bhikkhuṁ anuruddhassa saddhivihāriṁ aññamaññaṁ sutena accāvadante:
‘ehi, bhikkhu, ko bahutaraṁ bhāsissati, ko sundarataraṁ bhāsissati, ko cirataraṁ bhāsissatī’”ti.
Atha kho bhagavā aññataraṁ bhikkhuṁ āmantesi:
“ehi tvaṁ, bhikkhu, mama vacanena bhaṇḍañca bhikkhuṁ ānandassa saddhivihāriṁ abhijikañca bhikkhuṁ anuruddhassa saddhivihāriṁ āmantehi:
‘satthā āyasmante āmantetī’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato paṭissutvā yena te bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te bhikkhū etadavoca:
“satthā āyasmante āmantetī”ti.
“Evamāvuso”ti kho te bhikkhū tassa bhikkhuno paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinne kho te bhikkhū bhagavā etadavoca:
“saccaṁ kira tumhe, bhikkhave, aññamaññaṁ sutena accāvadatha:
‘ehi, bhikkhu, ko bahutaraṁ bhāsissati, ko sundarataraṁ bhāsissati, ko cirataraṁ bhāsissatī’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Kiṁ nu kho me tumhe, bhikkhave, evaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānātha:
‘etha tumhe, bhikkhave, aññamaññaṁ sutena accāvadatha—
ehi, bhikkhu, ko bahutaraṁ bhāsissati, ko sundarataraṁ bhāsissati, ko cirataraṁ bhāsissatī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“No ce kira me tumhe, bhikkhave, evaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānātha, atha kiñcarahi tumhe, moghapurisā, kiṁ jānantā kiṁ passantā evaṁ svākkhāte dhammavinaye pabbajitā samānā aññamaññaṁ sutena accāvadatha:
‘ehi, bhikkhu, ko bahutaraṁ bhāsissati, ko sundarataraṁ bhāsissati, ko cirataraṁ bhāsissatī’”ti.
Atha kho te bhikkhū bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“accayo no, bhante, accagamā, yathābāle yathāmūḷhe yathāakusale, ye mayaṁ evaṁ svākkhāte dhammavinaye pabbajitā samānā aññamaññaṁ sutena accāvadimha:
‘ehi, bhikkhu, ko bahutaraṁ bhāsissati, ko sundarataraṁ bhāsissati, ko cirataraṁ bhāsissatī’ti.
Tesaṁ no, bhante, bhagavā accayaṁ accayato paṭiggaṇhātu āyatiṁ saṁvarāyā”ti.
“Taggha tumhe, bhikkhave, accayo accagamā yathābāle yathāmūḷhe yathāakusale, ye tumhe evaṁ svākkhāte dhammavinaye pabbajitā samānā aññamaññaṁ sutena accāvadittha:
‘ehi, bhikkhu, ko bahutaraṁ bhāsissati, ko sundarataraṁ bhāsissati, ko cirataraṁ bhāsissatī’ti.
Yato ca kho tumhe, bhikkhave, accayaṁ accayato disvā yathādhammaṁ paṭikarotha, taṁ vo mayaṁ paṭiggaṇhāma.
Vuddhi hesā, bhikkhave, ariyassa vinaye yo accayaṁ accayato disvā yathādhammaṁ paṭikaroti āyatiñca saṁvaraṁ āpajjatī”ti.
Chaṭṭhaṁ.
SC 1At Rajagaha in the Bamboo Grove. Then the Venerable Mahakassapa approached the Blessed One, paid homage to him, and sat down to one side. The Blessed One then said to him: “Exhort the bhikkhus, Kassapa, give them a Dhamma talk. Either I sn.ii.204 should exhort the bhikkhus, Kassapa, or you should. Either I should give them a Dhamma talk or you should.”
SC 2“Venerable sir, the bhikkhus are difficult to admonish now, and they have qualities which make them difficult to admonish. They are impatient and do not accept instruction respectfully. Here, venerable sir, I saw a bhikkhu named Bhaṇḍa, a pupil of Ānanda, and a bhikkhu named Abhiñjika, a pupil of Anuruddha, competing with each other in regard to their learning, saying: ‘Come, bhikkhu, who can speak more? Who can speak better? Who can speak longer?’”
SC 3Then the Blessed One addressed a certain bhikkhu thus: “Come, bhikkhu, tell the bhikkhu Bhaṇḍa and the bhikkhu Abhiñjika in my name that the Teacher calls them.”
SC 4“Yes, venerable sir,” that bhikkhu replied, and he went to those bhikkhus and told them: “The Teacher calls the venerable ones.”
SC 5“Yes, friend,” those bhikkhus replied, and they approached the Blessed One, paid homage to him, and sat down to one side. The Blessed One then said to them: “Is it true, bhikkhus, that you have been competing with each other in regard to your learning, as to who can speak more, who can speak better, who can speak longer?”
“Yes, venerable sir.”
SC 6“Have you ever known me to teach the Dhamma thus: ‘Come, bhikkhus, compete with each other in regard to your learning, and see who can speak more, who can speak better, who can speak longer’?” sn.ii.205
“No, venerable sir.”
SC 7“Then if you have never known me to teach the Dhamma thus, what do you senseless men know and see that, having gone forth in such a well-expounded Dhamma and Discipline, you compete with each other in regard to your learning, as to who can speak more, who can speak better, who can speak longer?”
SC 8Then those bhikkhus prostrated themselves with their heads at the Blessed One’s feet and said: “Venerable sir, we have committed a transgression—so foolish, so confused, so inept were we—in that, having gone forth in such a well-expounded Dhamma and Discipline, we competed with each other in regard to our learning, as to who can speak more, who can speak better, who can speak longer. Venerable sir, may the Blessed One pardon us for our transgression seen as a transgression for the sake of future restraint.”
SC 9“Surely, bhikkhus, you have committed a transgression—so foolish, so confused, so inept were you—in that, having gone forth in such a well-expounded Dhamma and Discipline, you competed with each other in regard to your learning…. But since you see your transgression as a transgression and make amends for it in accordance with the Dhamma, we pardon you for it. For it is growth in the Noble One’s Discipline when one sees one’s transgression as a transgression, makes amends for it in accordance with the Dhamma, and undertakes future restraint.”
Vi-n 1 Tại Rājagaha, Veḷuvana.
Vi-n 2 Tôn giả Kassapa đi đến Thế Tôn…
Vi-n 3 Thế Tôn nói với Tôn giả Mahākassapa đang ngồi một bên:
—Này Kassapa, hãy giáo giới Tỷ-kheo! Này Kassapa, hãy nói pháp thoại cho các Tỷ-kheo! Này Kassapa, Ta hoặc ông phải giáo giới các Tỷ-kheo! ông hoặc Ta phải nói pháp thoại cho các Tỷ-kheo!
Vi-n 4 —Bạch Thế Tôn, khó nói là chúng Tỷ-kheo hiện tại. Họ ở trong tình trạng khó nói với họ. Họ không kham nhẫn. Họ không kính trọng lời giáo giới. Bạch Thế Tôn, ở đây, con thấy Tỷ-kheo Bhaṇḍa, đệ tử của Ānanda, và Tỷ-kheo Ābhiñjika, đệ tử của Anuruddha, hai vị ấy nói với nhau: “Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai sẽ nói nhiều hơn? Ai sẽ nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ nói dài hơn?”.
Vi-n 5 Rồi Thế Tôn gọi một Tỷ-kheo:
—Hãy đến, này Tỷ-kheo! Hãy nhân danh Ta nói với Tỷ-kheo Bhaṇḍa, đệ tử của Ānanda, và Tỷ-kheo Ābhiñjika, đệ tử của Anuruddha: “Bậc Ðạo Sư gọi chư Tôn giả”.
Vi-n 6 —Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến các Tỷ-kheo kia; sau khi đến, nói với họ:
—Bậc Ðạo Sư gọi chư Tôn giả.
Vi-n 7 —Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỷ-kheo kia vâng đáp Tỷ-kheo ấy, đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 8 Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ấy đang ngồi một bên:
—Có thật chăng, này các Tỷ-kheo, các ông nói với nhau như sau: “Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai là người sẽ nói nhiều hơn? Ai là người sẽ nói tốt đẹp hơn? Ai là người sẽ nói dài hơn?”
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Vi-n 9 —Này các Tỷ-kheo, các ông có biết là Ta đã thuyết pháp như vầy: “Hãy đến, này các Tỷ-kheo, hãy cùng nhau nói như sau: 'Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai là người sẽ nói nhiều hơn? Ai là người sẽ nói tốt đẹp hơn? Ai là người sẽ nói dài hơn?' chăng?”
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 10 —Này các Tỷ-kheo, nếu các ông được biết là Ta không có giảng như vậy, thời vì sao, này các Người ngu kia, do biết cái gì, thấy cái gì, các ông đã xuất gia trong Pháp và Luật khéo giảng này, các ông lại nói với nhau: “Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai sẽ là người nói nhiều hơn? Ai sẽ là người nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ là người nói dài hơn?” như vậy?
Vi-n 11 Rồi các Tỷ-kheo ấy cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, chúng con đã phạm tội, ngu đần như vậy, si mê như vậy, bất thiện như vậy; vì rằng chúng con đã xuất gia trong Pháp và Luật khéo nói như vậy, chúng con lại nói với nhau: “Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai sẽ là người nói nhiều hơn? Ai sẽ là người nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ là người nói dài hơn?”. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận tội lỗi ấy của chúng con là tội lỗi, để chúng con ngăn ngừa trong tương lai.
Vi-n 12 —Thật sự, này các Tỷ-kheo, các ông đã phạm tội, ngu đần như vậy, si mê như vậy, bất thiện như vậy! Vì rằng các ông đã xuất gia trong Pháp và Luật khéo nói này, các ông đã nói với nhau: “Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai sẽ là người nói nhiều hơn? Ai sẽ là người nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ là người nói dài hơn?”. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, các ông đã thấy tội lỗi là tội lỗi, như pháp sám hối, Ta chấp nhận tội lỗi ấy cho các ông!
Vi-n 13 Này các Tỷ-kheo, như vậy luật của bậc Thánh được tăng trưởng, khi nào có người sau khi thấy tội lỗi là tội lỗi, như pháp sám hối để ngăn ngừa trong tương lai!
Rājagahe veḷuvane.
Atha kho āyasmā mahākassapo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ mahākassapaṁ bhagavā etadavoca:
“ovada, kassapa, bhikkhū;
karohi, kassapa, bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ.
Ahaṁ vā, kassapa, bhikkhū ovadeyyaṁ tvaṁ vā;
ahaṁ vā bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ kareyyaṁ tvaṁ vā”ti.
“Dubbacā kho, bhante, etarahi bhikkhū, dovacassakaraṇehi dhammehi samannāgatā, akkhamā, appadakkhiṇaggāhino anusāsaniṁ.
Idhāhaṁ, bhante, addasaṁ bhaṇḍañca nāma bhikkhuṁ ānandassa saddhivihāriṁ abhijikañca nāma bhikkhuṁ anuruddhassa saddhivihāriṁ aññamaññaṁ sutena accāvadante:
‘ehi, bhikkhu, ko bahutaraṁ bhāsissati, ko sundarataraṁ bhāsissati, ko cirataraṁ bhāsissatī’”ti.
Atha kho bhagavā aññataraṁ bhikkhuṁ āmantesi:
“ehi tvaṁ, bhikkhu, mama vacanena bhaṇḍañca bhikkhuṁ ānandassa saddhivihāriṁ abhijikañca bhikkhuṁ anuruddhassa saddhivihāriṁ āmantehi:
‘satthā āyasmante āmantetī’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato paṭissutvā yena te bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te bhikkhū etadavoca:
“satthā āyasmante āmantetī”ti.
“Evamāvuso”ti kho te bhikkhū tassa bhikkhuno paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinne kho te bhikkhū bhagavā etadavoca:
“saccaṁ kira tumhe, bhikkhave, aññamaññaṁ sutena accāvadatha:
‘ehi, bhikkhu, ko bahutaraṁ bhāsissati, ko sundarataraṁ bhāsissati, ko cirataraṁ bhāsissatī’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Kiṁ nu kho me tumhe, bhikkhave, evaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānātha:
‘etha tumhe, bhikkhave, aññamaññaṁ sutena accāvadatha—
ehi, bhikkhu, ko bahutaraṁ bhāsissati, ko sundarataraṁ bhāsissati, ko cirataraṁ bhāsissatī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“No ce kira me tumhe, bhikkhave, evaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānātha, atha kiñcarahi tumhe, moghapurisā, kiṁ jānantā kiṁ passantā evaṁ svākkhāte dhammavinaye pabbajitā samānā aññamaññaṁ sutena accāvadatha:
‘ehi, bhikkhu, ko bahutaraṁ bhāsissati, ko sundarataraṁ bhāsissati, ko cirataraṁ bhāsissatī’”ti.
Atha kho te bhikkhū bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“accayo no, bhante, accagamā, yathābāle yathāmūḷhe yathāakusale, ye mayaṁ evaṁ svākkhāte dhammavinaye pabbajitā samānā aññamaññaṁ sutena accāvadimha:
‘ehi, bhikkhu, ko bahutaraṁ bhāsissati, ko sundarataraṁ bhāsissati, ko cirataraṁ bhāsissatī’ti.
Tesaṁ no, bhante, bhagavā accayaṁ accayato paṭiggaṇhātu āyatiṁ saṁvarāyā”ti.
“Taggha tumhe, bhikkhave, accayo accagamā yathābāle yathāmūḷhe yathāakusale, ye tumhe evaṁ svākkhāte dhammavinaye pabbajitā samānā aññamaññaṁ sutena accāvadittha:
‘ehi, bhikkhu, ko bahutaraṁ bhāsissati, ko sundarataraṁ bhāsissati, ko cirataraṁ bhāsissatī’ti.
Yato ca kho tumhe, bhikkhave, accayaṁ accayato disvā yathādhammaṁ paṭikarotha, taṁ vo mayaṁ paṭiggaṇhāma.
Vuddhi hesā, bhikkhave, ariyassa vinaye yo accayaṁ accayato disvā yathādhammaṁ paṭikaroti āyatiñca saṁvaraṁ āpajjatī”ti.
Chaṭṭhaṁ.