Vi-n 1 Trú ở Sāvatthī.
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, do duyên vô minh có hành; do duyên hành có thức… như vậy là tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Vi-n 3 —Bạch Thế Tôn, thế nào là già chết? Và già chết này là của ai?
Thế Tôn đáp:
—Câu hỏi không thích hợp. Này Tỷ-kheo, ông có thể nói: “Thế nào là già chết, và già chết này là của ai?”, hay này Tỷ-kheo, ông có thể nói: “Già chết là khác và người già và chết là khác”, hai câu hỏi này nghĩa là một, chỉ có văn sai khác. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là một”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là khác”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan này, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo và nói: “Do duyên sanh nên có già chết”.
Vi-n 4 —Bạch Thế Tôn, thế nào là sanh và sanh này là của ai?
Thế Tôn đáp:
—Câu hỏi không thích hợp. Này Tỷ-kheo, ông có thể nói: “Thế nào là sanh, và sanh này là của ai?”, hay này Tỷ-kheo, ông có thể nói: “Sanh là khác và người sanh là khác”, hai câu hỏi này có nghĩa là một, chỉ có văn sai khác. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có tà kiến: “Sinh mạng và thân thể là một”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có tà kiến: “Sinh mạng và thân thể là khác”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan này, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo và nói: “Do duyên hữu nên có sanh”.
Vi-n 5 —Bạch Thế Tôn, thế nào là hữu và hữu này của ai?
Thế Tôn nói:
—Câu hỏi không thích hợp. Này Tỷ-kheo, ông có thể hỏi: “Thế nào là hữu và hữu này của ai?”, hay ông có thể nói: “Hữu khác và người có hữu này khác”, hai câu hỏi này là một, chỉ có văn sai khác. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có tà kiến: “Sinh mạng và thân thể là một”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có tà kiến: “Sinh mạng và thân thể là khác”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan này, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo và nói: “Do duyên thủ nên có hữu”.
Vi-n 6 —Bạch Thế Tôn, thế nào là thủ và thủ này của ai?… “Do duyên ái nên có thủ”.
Vi-n 7 … “Do duyên thọ nên có ái”.
Vi-n 8 … “Do duyên xúc nên có thọ”.
Vi-n 9 … “Do duyên sáu xứ nên có xúc”.
Vi-n 10 … “Do duyên danh sắc nên có sáu xứ”.
Vi-n 11 … “Do duyên thức nên có danh sắc”.
Vi-n 12 … “Do duyên hành nên có thức”.
Vi-n 13 —Bạch Thế Tôn, thế nào là các hành, và các hành này là của ai?
Thế Tôn đáp:
—Câu hỏi không thích hợp. Này Tỷ-kheo, ông có thể nói: “Thế nào là các hành và các hành này là của ai?”, hay này Tỷ-kheo, ông có thể nói: “Các hành là khác và người có các hành này là khác”, hai câu hỏi này là một, chỉ có văn sai khác. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là một”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là khác”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan này, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo và nói: “Do duyên vô minh nên có các hành”. Này Tỷ-kheo, do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, các tạp luận (hý luận), dị thuyết, xuyên tạc liên hệ ấy hay bất cứ loại nào… sẽ được đoạn tận.
Vi-n 14 Như câu hỏi: “Thế nào là già chết và già chết này là của ai?”. Hay “Già chết là khác và người có già chết là khác?” hay “Sinh mạng và thân thể này là một”, hay “Sinh mạng và thân thể là khác”, tất cả đều được đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, khiến cho tương lai không thể sanh khởi. Này Tỷ-kheo, do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, các tạp luận, dị thuyết, xuyên tạc liên hệ ấy hay bất cứ loại nào… sẽ được đoạn tận.
Vi-n 15 Như câu hỏi: “Thế nào là sanh và sanh này là của ai?”. Hay “Sanh là khác và người có sanh là khác”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng và thân thể là khác”, tất cả đều được đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, khiến trong tương lai không thể sanh khởi. Này các Tỷ-kheo, do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, các tạp luận, dị thuyết, xuyên tạc liên hệ ấy hay bất cứ loại nào… sẽ được đoạn tận.
Vi-n 16 Thế nào là hữu…
Vi-n 17 Thế nào là thủ…
Vi-n 18 Thế nào là ái…
Vi-n 19 Thế nào là thọ…
Vi-n 20 Thế nào là xúc…
Vi-n 21 Thế nào là sáu xứ…
Vi-n 22 Thế nào là danh sắc…
Vi-n 23 Thế nào là thức… Này các Tỷ-kheo, do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, các tạp luận, dị thuyết, xuyên tạc liên hệ ấy hay bất cứ loại nào… sẽ được đoạn tận.
Vi-n 24 Như câu hỏi: “Thế nào là các hành và các hành này là của ai?”. Hay “Các hành là khác và người có các hành này là khác”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng và thân thể là khác”; tất cả đều được đoạn tận cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, khiến cho trong tương lai không thể sanh khởi.
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Avijjāpaccayā, bhikkhave, saṅkhārā;
saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hotī”ti.
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“‘katamaṁ nu kho, bhante, jarāmaraṇaṁ, kassa ca panidaṁ jarāmaraṇan’ti?
‘No kallo pañho’ti bhagavā avoca, ‘katamaṁ jarāmaraṇaṁ, kassa ca panidaṁ jarāmaraṇan’ti iti vā, bhikkhu, yo vadeyya, ‘aññaṁ jarāmaraṇaṁ aññassa ca panidaṁ jarāmaraṇan’ti, iti vā, bhikkhu, yo vadeyya, ubhayametaṁ ekatthaṁ byañjanameva nānaṁ.
Taṁ jīvaṁ taṁ sarīranti vā, bhikkhu, diṭṭhiyā sati brahmacariyavāso na hoti.
Aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīranti vā, bhikkhu, diṭṭhiyā sati brahmacariyavāso na hoti.
Ete te, bhikkhu, ubho ante anupagamma majjhena tathāgato dhammaṁ deseti:
‘jātipaccayā jarāmaraṇan’”ti.
“Katamā nu kho, bhante, jāti, kassa ca panāyaṁ jātī”ti?
“No kallo pañho”ti bhagavā avoca, “‘katamā jāti, kassa ca panāyaṁ jātī’ti iti vā, bhikkhu, yo vadeyya, ‘aññā jāti aññassa ca panāyaṁ jātī’ti iti vā, bhikkhu, yo vadeyya, ubhayametaṁ ekatthaṁ byañjanameva nānaṁ.
Taṁ jīvaṁ taṁ sarīranti vā, bhikkhu, diṭṭhiyā sati brahmacariyavāso na hoti.
Aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīranti vā, bhikkhu, diṭṭhiyā sati brahmacariyavāso na hoti.
Ete te, bhikkhu, ubho ante anupagamma majjhena tathāgato dhammaṁ deseti:
‘bhavapaccayā jātī’”ti.
“Katamo nu kho, bhante, bhavo, kassa ca panāyaṁ bhavo”ti?
“No kallo pañho”ti bhagavā avoca, “‘katamo bhavo, kassa ca panāyaṁ bhavo’ti iti vā, bhikkhu, yo vadeyya, ‘añño bhavo aññassa ca panāyaṁ bhavo’ti iti vā, bhikkhu, yo vadeyya, ubhayametaṁ ekatthaṁ byañjanameva nānaṁ.
Taṁ jīvaṁ taṁ sarīranti vā, bhikkhu, diṭṭhiyā sati brahmacariyavāso na hoti;
aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīranti vā, bhikkhu, diṭṭhiyā sati brahmacariyavāso na hoti.
Ete te, bhikkhu, ubho ante anupagamma majjhena tathāgato dhammaṁ deseti:
‘upādānapaccayā bhavo’ti …pe…
‘taṇhāpaccayā upādānanti …
vedanāpaccayā taṇhāti …
phassapaccayā vedanāti …
saḷāyatanapaccayā phassoti …
nāmarūpapaccayā saḷāyatananti …
viññāṇapaccayā nāmarūpanti …
saṅkhārapaccayā viññāṇan’”ti.
“Katame nu kho, bhante, saṅkhārā, kassa ca panime saṅkhārā”ti?
“No kallo pañho”ti bhagavā avoca, “‘katame saṅkhārā kassa ca panime saṅkhārā’ti iti vā, bhikkhu, yo vadeyya, ‘aññe saṅkhārā aññassa ca panime saṅkhārā’ti iti vā, bhikkhu, yo vadeyya, ubhayametaṁ ekatthaṁ byañjanameva nānaṁ.
Taṁ jīvaṁ taṁ sarīranti vā, bhikkhu, diṭṭhiyā sati brahmacariyavāso na hoti;
aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīranti vā, bhikkhu, diṭṭhiyā sati brahmacariyavāso na hoti.
Ete te, bhikkhu, ubho ante anupagamma majjhena tathāgato dhammaṁ deseti:
‘avijjāpaccayā saṅkhārā’”ti.
“Avijjāya tveva, bhikkhu, asesavirāganirodhā yānissa tāni visūkāyikāni visevitāni vipphanditāni kānici kānici.
‘Katamaṁ jarāmaraṇaṁ, kassa ca panidaṁ jarāmaraṇaṁ’ iti vā, ‘aññaṁ jarāmaraṇaṁ, aññassa ca panidaṁ jarāmaraṇaṁ’ iti vā, ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīraṁ’ iti vā, ‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīraṁ’ iti vā.
Sabbānissa tāni pahīnāni bhavanti ucchinnamūlāni tālāvatthukatāni anabhāvaṅkatāni āyatiṁ anuppādadhammāni.
Avijjāya tveva, bhikkhu, asesavirāganirodhā yānissa tāni visūkāyikāni visevitāni vipphanditāni kānici kānici.
‘Katamā jāti, kassa ca panāyaṁ jāti’ iti vā, ‘aññā jāti, aññassa ca panāyaṁ jāti’ iti vā, ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīraṁ’ iti vā, ‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīraṁ’ iti vā.
Sabbānissa tāni pahīnāni bhavanti ucchinnamūlāni tālāvatthukatāni anabhāvaṅkatāni āyatiṁ anuppādadhammāni.
Avijjāya tveva, bhikkhu, asesavirāganirodhā yānissa tāni visūkāyikāni visevitāni vipphanditāni kānici kānici.
Katamo bhavo …pe…
katamaṁ upādānaṁ …
katamā taṇhā …
katamā vedanā …
katamo phasso …
katamaṁ saḷāyatanaṁ …
katamaṁ nāmarūpaṁ …
katamaṁ viññāṇaṁ …pe….
Avijjāya tveva, bhikkhu, asesavirāganirodhā yānissa tāni visūkāyikāni visevitāni vipphanditāni kānici kānici.
‘Katame saṅkhārā, kassa ca panime saṅkhārā’ iti vā, ‘aññe saṅkhārā, aññassa ca panime saṅkhārā’ iti vā, ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīraṁ’ iti vā, ‘aññaṁ jīvaṁ, aññaṁ sarīraṁ’ iti vā.
Sabbānissa tāni pahīnāni bhavanti ucchinnamūlāni tālāvatthukatāni anabhāvaṅkatāni āyatiṁ anuppādadhammānī”ti.
Pañcamaṁ.
SC 1At Savatthī. “Bhikkhus, with ignorance as condition, volitional formations come to be; with volitional formations as condition, consciousness…. Such is the origin of this whole mass of suffering.”
SC 2When he had said this, a certain bhikkhu said to the Blessed One: “Venerable sir, what now is aging-and-death, and for whom is there this aging-and-death?”
SC 3“Not a valid question,” the Blessed One replied. sn.ii.61 “Bhikkhu, whether one says, ‘What now is aging-and-death, and for whom is there this aging-and-death?’ or whether one says, ‘Aging-and-death is one thing, the one for whom there is this aging-and-death is another’—both these assertions are identical in meaning; they differ only in the phrasing. If there is the view, ‘The soul and the body are the same,’ there is no living of the holy life; and if there is the view, ‘The soul is one thing, the body is another,’ there is no living of the holy life. Without veering towards either of these extremes, the Tathagata teaches the Dhamma by the middle: ‘With birth as condition, aging-and-death. ’”
SC 4“Venerable sir, what now is birth, and for whom is there this birth?”
SC 5“Not a valid question,” the Blessed One replied. “Bhikkhu, whether one says, ‘What now is birth, and for whom is there this birth?’ or whether one says, ‘Birth is one thing, the one for whom there is this birth is another’—both these assertions are identical in meaning; they differ only in the phrasing…. Without veering towards either of these extremes, the Tathagata teaches the Dhamma by the middle: ‘With existence as condition, birth.’”
SC 6“Venerable sir, what now is existence, and for whom is there this existence?”
SC 7“Not a valid question,” the Blessed One replied. “Bhikkhu, whether one says, ‘What now is existence, and for whom is there this existence?’ or whether one says, ‘Existence is one thing, the one for whom there is this existence is another’—both these assertions are identical in meaning; they differ only in the phrasing…. Without veering towards either of these extremes, the Tathagata teaches the Dhamma by the middle: ‘With clinging as condition, existence…. With craving as condition, clinging…. With feeling as condition, craving…. With contact as condition, feeling…. With the six sense bases as condition, contact…. With name-and-form as condition, the six sense bases…. sn.ii.62 With consciousness as condition, name-and-form…. With volitional formations as condition, consciousness.’”
SC 8“Venerable sir, what now are volitional formations, and for whom are there these volitional formations?”
SC 9“Not a valid question,” the Blessed One replied. “Bhikkhu, whether one says, ‘What now are volitional formations, and for whom are there these volitional formations?’ or whether one says, ‘Volitional formations are one thing, the one for whom there are these volitional formations is another’—both these assertions are identical in meaning; they differ only in the phrasing. If there is the view, ‘The soul and the body are the same,’ there is no living of the holy life; and if there is the view, ‘The soul is one thing, the body is another,’ there is no living of the holy life. Without veering towards either of these extremes, the Tathagata teaches the Dhamma by the middle: ‘With ignorance as condition, volitional formations.’
SC 10“But with the remainderless fading away and cessation of ignorance, whatever kinds of contortions, manoeuvres, and vacillations there may be—‘What now is aging-and-death, and for whom is there this aging-and-death?’ or ‘Aging-and-death is one thing, the one for whom there is this aging-and-death is another,’ or ‘The soul and the body are the same,’ or ‘The soul is one thing, the body is another’—all these are abandoned, cut off at the root, made like a palm stump, obliterated so that they are no more subject to future arising.
SC 11“With the remainderless fading away and cessation of ignorance, whatever kinds of contortions, manoeuvres, and vacillations there may be—‘What now is birth, and for whom is there this birth?’… sn.ii.63 … ‘What now are volitional formations, and for whom are there these volitional formations?’ or ‘Volitional formations are one thing, the one for whom there are these volitional formations is another,’ or ‘The soul and the body are the same,’ or ‘The soul is one thing, the body is another’—all these are abandoned, cut off at the root, made like a palm stump, obliterated so that they are no more subject to future arising.”
Vi-n 1 Trú ở Sāvatthī.
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, do duyên vô minh có hành; do duyên hành có thức… như vậy là tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Vi-n 3 —Bạch Thế Tôn, thế nào là già chết? Và già chết này là của ai?
Thế Tôn đáp:
—Câu hỏi không thích hợp. Này Tỷ-kheo, ông có thể nói: “Thế nào là già chết, và già chết này là của ai?”, hay này Tỷ-kheo, ông có thể nói: “Già chết là khác và người già và chết là khác”, hai câu hỏi này nghĩa là một, chỉ có văn sai khác. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là một”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là khác”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan này, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo và nói: “Do duyên sanh nên có già chết”.
Vi-n 4 —Bạch Thế Tôn, thế nào là sanh và sanh này là của ai?
Thế Tôn đáp:
—Câu hỏi không thích hợp. Này Tỷ-kheo, ông có thể nói: “Thế nào là sanh, và sanh này là của ai?”, hay này Tỷ-kheo, ông có thể nói: “Sanh là khác và người sanh là khác”, hai câu hỏi này có nghĩa là một, chỉ có văn sai khác. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có tà kiến: “Sinh mạng và thân thể là một”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có tà kiến: “Sinh mạng và thân thể là khác”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan này, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo và nói: “Do duyên hữu nên có sanh”.
Vi-n 5 —Bạch Thế Tôn, thế nào là hữu và hữu này của ai?
Thế Tôn nói:
—Câu hỏi không thích hợp. Này Tỷ-kheo, ông có thể hỏi: “Thế nào là hữu và hữu này của ai?”, hay ông có thể nói: “Hữu khác và người có hữu này khác”, hai câu hỏi này là một, chỉ có văn sai khác. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có tà kiến: “Sinh mạng và thân thể là một”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có tà kiến: “Sinh mạng và thân thể là khác”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan này, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo và nói: “Do duyên thủ nên có hữu”.
Vi-n 6 —Bạch Thế Tôn, thế nào là thủ và thủ này của ai?… “Do duyên ái nên có thủ”.
Vi-n 7 … “Do duyên thọ nên có ái”.
Vi-n 8 … “Do duyên xúc nên có thọ”.
Vi-n 9 … “Do duyên sáu xứ nên có xúc”.
Vi-n 10 … “Do duyên danh sắc nên có sáu xứ”.
Vi-n 11 … “Do duyên thức nên có danh sắc”.
Vi-n 12 … “Do duyên hành nên có thức”.
Vi-n 13 —Bạch Thế Tôn, thế nào là các hành, và các hành này là của ai?
Thế Tôn đáp:
—Câu hỏi không thích hợp. Này Tỷ-kheo, ông có thể nói: “Thế nào là các hành và các hành này là của ai?”, hay này Tỷ-kheo, ông có thể nói: “Các hành là khác và người có các hành này là khác”, hai câu hỏi này là một, chỉ có văn sai khác. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là một”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là khác”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan này, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo và nói: “Do duyên vô minh nên có các hành”. Này Tỷ-kheo, do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, các tạp luận (hý luận), dị thuyết, xuyên tạc liên hệ ấy hay bất cứ loại nào… sẽ được đoạn tận.
Vi-n 14 Như câu hỏi: “Thế nào là già chết và già chết này là của ai?”. Hay “Già chết là khác và người có già chết là khác?” hay “Sinh mạng và thân thể này là một”, hay “Sinh mạng và thân thể là khác”, tất cả đều được đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, khiến cho tương lai không thể sanh khởi. Này Tỷ-kheo, do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, các tạp luận, dị thuyết, xuyên tạc liên hệ ấy hay bất cứ loại nào… sẽ được đoạn tận.
Vi-n 15 Như câu hỏi: “Thế nào là sanh và sanh này là của ai?”. Hay “Sanh là khác và người có sanh là khác”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng và thân thể là khác”, tất cả đều được đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, khiến trong tương lai không thể sanh khởi. Này các Tỷ-kheo, do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, các tạp luận, dị thuyết, xuyên tạc liên hệ ấy hay bất cứ loại nào… sẽ được đoạn tận.
Vi-n 16 Thế nào là hữu…
Vi-n 17 Thế nào là thủ…
Vi-n 18 Thế nào là ái…
Vi-n 19 Thế nào là thọ…
Vi-n 20 Thế nào là xúc…
Vi-n 21 Thế nào là sáu xứ…
Vi-n 22 Thế nào là danh sắc…
Vi-n 23 Thế nào là thức… Này các Tỷ-kheo, do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, các tạp luận, dị thuyết, xuyên tạc liên hệ ấy hay bất cứ loại nào… sẽ được đoạn tận.
Vi-n 24 Như câu hỏi: “Thế nào là các hành và các hành này là của ai?”. Hay “Các hành là khác và người có các hành này là khác”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng và thân thể là khác”; tất cả đều được đoạn tận cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, khiến cho trong tương lai không thể sanh khởi.
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Avijjāpaccayā, bhikkhave, saṅkhārā;
saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hotī”ti.
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“‘katamaṁ nu kho, bhante, jarāmaraṇaṁ, kassa ca panidaṁ jarāmaraṇan’ti?
‘No kallo pañho’ti bhagavā avoca, ‘katamaṁ jarāmaraṇaṁ, kassa ca panidaṁ jarāmaraṇan’ti iti vā, bhikkhu, yo vadeyya, ‘aññaṁ jarāmaraṇaṁ aññassa ca panidaṁ jarāmaraṇan’ti, iti vā, bhikkhu, yo vadeyya, ubhayametaṁ ekatthaṁ byañjanameva nānaṁ.
Taṁ jīvaṁ taṁ sarīranti vā, bhikkhu, diṭṭhiyā sati brahmacariyavāso na hoti.
Aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīranti vā, bhikkhu, diṭṭhiyā sati brahmacariyavāso na hoti.
Ete te, bhikkhu, ubho ante anupagamma majjhena tathāgato dhammaṁ deseti:
‘jātipaccayā jarāmaraṇan’”ti.
“Katamā nu kho, bhante, jāti, kassa ca panāyaṁ jātī”ti?
“No kallo pañho”ti bhagavā avoca, “‘katamā jāti, kassa ca panāyaṁ jātī’ti iti vā, bhikkhu, yo vadeyya, ‘aññā jāti aññassa ca panāyaṁ jātī’ti iti vā, bhikkhu, yo vadeyya, ubhayametaṁ ekatthaṁ byañjanameva nānaṁ.
Taṁ jīvaṁ taṁ sarīranti vā, bhikkhu, diṭṭhiyā sati brahmacariyavāso na hoti.
Aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīranti vā, bhikkhu, diṭṭhiyā sati brahmacariyavāso na hoti.
Ete te, bhikkhu, ubho ante anupagamma majjhena tathāgato dhammaṁ deseti:
‘bhavapaccayā jātī’”ti.
“Katamo nu kho, bhante, bhavo, kassa ca panāyaṁ bhavo”ti?
“No kallo pañho”ti bhagavā avoca, “‘katamo bhavo, kassa ca panāyaṁ bhavo’ti iti vā, bhikkhu, yo vadeyya, ‘añño bhavo aññassa ca panāyaṁ bhavo’ti iti vā, bhikkhu, yo vadeyya, ubhayametaṁ ekatthaṁ byañjanameva nānaṁ.
Taṁ jīvaṁ taṁ sarīranti vā, bhikkhu, diṭṭhiyā sati brahmacariyavāso na hoti;
aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīranti vā, bhikkhu, diṭṭhiyā sati brahmacariyavāso na hoti.
Ete te, bhikkhu, ubho ante anupagamma majjhena tathāgato dhammaṁ deseti:
‘upādānapaccayā bhavo’ti …pe…
‘taṇhāpaccayā upādānanti …
vedanāpaccayā taṇhāti …
phassapaccayā vedanāti …
saḷāyatanapaccayā phassoti …
nāmarūpapaccayā saḷāyatananti …
viññāṇapaccayā nāmarūpanti …
saṅkhārapaccayā viññāṇan’”ti.
“Katame nu kho, bhante, saṅkhārā, kassa ca panime saṅkhārā”ti?
“No kallo pañho”ti bhagavā avoca, “‘katame saṅkhārā kassa ca panime saṅkhārā’ti iti vā, bhikkhu, yo vadeyya, ‘aññe saṅkhārā aññassa ca panime saṅkhārā’ti iti vā, bhikkhu, yo vadeyya, ubhayametaṁ ekatthaṁ byañjanameva nānaṁ.
Taṁ jīvaṁ taṁ sarīranti vā, bhikkhu, diṭṭhiyā sati brahmacariyavāso na hoti;
aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīranti vā, bhikkhu, diṭṭhiyā sati brahmacariyavāso na hoti.
Ete te, bhikkhu, ubho ante anupagamma majjhena tathāgato dhammaṁ deseti:
‘avijjāpaccayā saṅkhārā’”ti.
“Avijjāya tveva, bhikkhu, asesavirāganirodhā yānissa tāni visūkāyikāni visevitāni vipphanditāni kānici kānici.
‘Katamaṁ jarāmaraṇaṁ, kassa ca panidaṁ jarāmaraṇaṁ’ iti vā, ‘aññaṁ jarāmaraṇaṁ, aññassa ca panidaṁ jarāmaraṇaṁ’ iti vā, ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīraṁ’ iti vā, ‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīraṁ’ iti vā.
Sabbānissa tāni pahīnāni bhavanti ucchinnamūlāni tālāvatthukatāni anabhāvaṅkatāni āyatiṁ anuppādadhammāni.
Avijjāya tveva, bhikkhu, asesavirāganirodhā yānissa tāni visūkāyikāni visevitāni vipphanditāni kānici kānici.
‘Katamā jāti, kassa ca panāyaṁ jāti’ iti vā, ‘aññā jāti, aññassa ca panāyaṁ jāti’ iti vā, ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīraṁ’ iti vā, ‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīraṁ’ iti vā.
Sabbānissa tāni pahīnāni bhavanti ucchinnamūlāni tālāvatthukatāni anabhāvaṅkatāni āyatiṁ anuppādadhammāni.
Avijjāya tveva, bhikkhu, asesavirāganirodhā yānissa tāni visūkāyikāni visevitāni vipphanditāni kānici kānici.
Katamo bhavo …pe…
katamaṁ upādānaṁ …
katamā taṇhā …
katamā vedanā …
katamo phasso …
katamaṁ saḷāyatanaṁ …
katamaṁ nāmarūpaṁ …
katamaṁ viññāṇaṁ …pe….
Avijjāya tveva, bhikkhu, asesavirāganirodhā yānissa tāni visūkāyikāni visevitāni vipphanditāni kānici kānici.
‘Katame saṅkhārā, kassa ca panime saṅkhārā’ iti vā, ‘aññe saṅkhārā, aññassa ca panime saṅkhārā’ iti vā, ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīraṁ’ iti vā, ‘aññaṁ jīvaṁ, aññaṁ sarīraṁ’ iti vā.
Sabbānissa tāni pahīnāni bhavanti ucchinnamūlāni tālāvatthukatāni anabhāvaṅkatāni āyatiṁ anuppādadhammānī”ti.
Pañcamaṁ.