Vi-n 1-2. …
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào đối với các sắc do mắt nhận thức có khởi lên dục (chanda), tham, sân, si hay hận tâm; hãy ngăn chận tâm đừng cho khởi lên như vậy. Con đường này là con đường đầy sợ hãi, đầy kinh khủng, đầy gai góc, đầy rừng rậm, con đường ác, con đường tà, con đường đầy trộm cướp. Con đường này là con đường do phi thiện nhân dùng, không phải con đường do thiện nhân dùng. Như vậy, với ý nghĩ: “Ðây không phải con đường xứng đáng cho ta”. Hãy ngăn chận tâm đừng cho khởi lên như vậy đối với các sắc do mắt nhận thức … Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào đối với các vị do lưỡi nhận thức … đối với các pháp do ý nhận thức, có khởi lên dục, tham, sân, si hay hận tâm; hãy ngăn chận tâm đừng cho khởi lên như vậy. Con đường này là con đường đầy sợ hãi, đầy kinh khủng, đầy gai góc, đầy rừng rậm, con đường ác, con đường tà, con đường đầy trộm cướp. Con đường này là con đường do phi thiện nhân dùng, không phải con đường do thiện nhân dùng. Như vậy với ý nghĩ: “Ðây không phải con đường xứng đáng cho ta”, hãy ngăn chận tâm đừng cho khởi lên như vậy đối với các pháp do ý nhận thức.
Vi-n 4 Ví như, này các Tỷ-kheo, lúa mì đã chín và một người giữ lúa mì phóng dật (lơ đãng). Có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy và mê say ăn một cách thỏa thích. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không hộ trì đối với sáu xúc xứ, mê say thọ dụng một cách thỏa thích đối với năm dục công đức.
Vi-n 5 Ví như, này các Tỷ-kheo, lúa mì đã chín và một người giữ lúa mì không phóng dật. Có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy. Người giữ lúa mì nắm chắc cái lỗ mũi của con bò; sau khi nắm chắc cái lỗ mũi, người ấy rị chặt trên cái trán. Sau khi rị chặt trên cái trán, với cái gậy, người ấy đánh con bò một trận nên thân. Sau khi lấy gậy đánh cho một trận nên thân, người ấy thả con bò đi.
Lần thứ hai, này các Tỷ-kheo …
Lần thứ ba, này các Tỷ-kheo, có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy. Người giữ lúa mì nắm chặt cái mũi con bò; sau khi nắm chắc cái mũi, người ấy rị chặt trên cái trán. Sau khi rị chặt trên cái trán, với cái gậy, người ấy đánh con bò một trận nên thân. Sau khi lấy gậy đánh con bò một trận nên thân, người ấy thả con bò đi. Như vậy, này các Tỷ-kheo, con bò ăn lúa mì ấy đi vào làng, hay đi vào rừng, hay khi đứng, hay ngồi, nó không xâm phạm lúa mì ấy, vì nó nhớ đến cảm xúc cái gậy lần trước. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo có tâm chơn trực, chánh trực đối với sáu xúc xứ, thời nội tâm được an trú, tịnh chỉ, nhứt tâm, Thiền định.
Vi-n 6 Ví như, này các Tỷ-kheo, một vị vua hay đại thần của vua từ trước chưa từng được nghe tiếng đàn tỳ bà, nay được nghe tiếng đàn tỳ bà, vị ấy nói: “Này Bạn, tiếng ấy là tiếng gì, khả ái như vậy, khả lạc như vậy, mê ly như vậy, say đắm như vậy, hấp dẫn như vậy?” Họ nói với vị ấy: “Thưa Tôn giả, đây là đàn tỳ bà, với tiếng khả ái như vậy, mê ly như vậy, khả lạc như vậy, say đắm như vậy, hấp dẫn như vậy”. Vị ấy nói như sau: “Hãy đi và đem đàn tỳ bà ấy về cho ta”. Họ đem đàn tỳ bà về cho vị ấy, và nói như sau: “Thưa Tôn giả, đàn tỳ bà này với tiếng khả ái như vậy, khả lạc như vậy, mê ly như vậy, say đắm như vậy, hấp dẫn như vậy”. Vị ấy bèn nói: “Thôi vừa rồi đối với ta về đàn tỳ bà này. Hãy đem tiếng lại cho ta”. Họ thưa với vị ấy: “Thưa Tôn giả, cái này được gọi là đàn tỳ bà, gồm có nhiều thành phần, gồm có số lớn thành phần. Nhờ nhiều thành phần này nên đàn phát âm. Như duyên cái bầu, duyên cái da, duyên cái cán, duyên cái đầu, duyên cái dây, duyên cái cung, duyên nỗ lực thích nghi của người. Như vậy, thưa Tôn giả, cái này gọi là đàn tỳ bà, gồm có nhiều thành phần, gồm có số lớn thành phần. Nhờ gồm nhiều thành phần này nên đàn phát âm”. Rồi vua ấy đập đàn tỳ bà ấy ra thành 10 mảnh, 100 mảnh; sau khi đập bể đàn tỳ bà ấy ra thành 10 mảnh, 100 mảnh, vị ấy chẻ thành từng miếng nhỏ; sau khi chẻ thành từng miếng nhỏ, vị ấy lấy lửa đốt; sau khi lấy lửa đốt, vị ấy vun lại thành đống tro; sau khi vun lại thành đống tro, vị ấy đem quạt đống tro lớn ấy trước làn gió mạnh, hay để chúng trôi theo dòng nước sông chảy mạnh. Rồi vị ấy nói: “Thật là hạ liệt, cái gọi đàn tỳ bà này, dầu cho tỳ bà là cái gì. Ở đây, đại chúng thường phóng dật, bị hướng dẫn sai lạc”.
Vi-n 7 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát sắc cho đến sở thú của sắc, quán sát thọ … quán sát tưởng … quán sát các hành … quán sát thức cho đến sở thú của thức. Trong tất cả quán sát này, không có cái gì là “Tôi”, là “Của tôi”, là “Tôi là” cả.
“Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā cakkhuviññeyyesu rūpesu uppajjeyya chando vā rāgo vā doso vā moho vā paṭighaṁ vāpi cetaso, tato cittaṁ nivāreyya.
Sabhayo ceso maggo sappaṭibhayo ca sakaṇṭako ca sagahano ca ummaggo ca kummaggo ca duhitiko ca.
Asappurisasevito ceso maggo, na ceso maggo sappurisehi sevito.
Na tvaṁ etaṁ arahasīti.
Tato cittaṁ nivāraye cakkhuviññeyyehi rūpehi …pe…
yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā jivhāviññeyyesu rasesu …pe…
manoviññeyyesu dhammesu uppajjeyya chando vā rāgo vā doso vā moho vā paṭighaṁ vāpi cetaso tato cittaṁ nivāreyya.
Sabhayo ceso maggo sappaṭibhayo ca sakaṇṭako ca sagahano ca ummaggo ca kummaggo ca duhitiko ca.
Asappurisasevito ceso maggo, na ceso maggo sappurisehi sevito.
Na tvaṁ etaṁ arahasīti.
Tato cittaṁ nivāraye manoviññeyyehi dhammehi.
Seyyathāpi, bhikkhave, kiṭṭhaṁ sampannaṁ.
Kiṭṭhārakkho ca pamatto, goṇo ca kiṭṭhādo aduṁ kiṭṭhaṁ otaritvā yāvadatthaṁ madaṁ āpajjeyya pamādaṁ āpajjeyya;
evameva kho, bhikkhave, assutavā puthujjano chasu phassāyatanesu asaṁvutakārī pañcasu kāmaguṇesu yāvadatthaṁ madaṁ āpajjati pamādaṁ āpajjati.
Seyyathāpi, bhikkhave, kiṭṭhaṁ sampannaṁ kiṭṭhārakkho ca appamatto goṇo ca kiṭṭhādo aduṁ kiṭṭhaṁ otareyya.
Tamenaṁ kiṭṭhārakkho nāsāyaṁ suggahitaṁ gaṇheyya.
Nāsāyaṁ suggahitaṁ gahetvā uparighaṭāyaṁ suniggahitaṁ niggaṇheyya.
Uparighaṭāyaṁ suniggahitaṁ niggahetvā daṇḍena sutāḷitaṁ tāḷeyya.
Daṇḍena sutāḷitaṁ tāḷetvā osajjeyya.
Dutiyampi kho, bhikkhave …pe…
tatiyampi kho, bhikkhave, goṇo kiṭṭhādo aduṁ kiṭṭhaṁ otareyya.
Tamenaṁ kiṭṭhārakkho nāsāyaṁ suggahitaṁ gaṇheyya.
Nāsāyaṁ suggahitaṁ gahetvā uparighaṭāyaṁ suniggahitaṁ niggaṇheyya.
Uparighaṭāyaṁ suniggahitaṁ niggahetvā daṇḍena sutāḷitaṁ tāḷeyya.
Daṇḍena sutāḷitaṁ tāḷetvā osajjeyya.
Evañhi so, bhikkhave, goṇo kiṭṭhādo gāmagato vā araññagato vā, ṭhānabahulo vā assa nisajjabahulo vā na taṁ kiṭṭhaṁ puna otareyya—
tameva purimaṁ daṇḍasamphassaṁ samanussaranto.
Evameva kho, bhikkhave, yato kho bhikkhuno chasu phassāyatanesu cittaṁ udujitaṁ hoti sudujitaṁ, ajjhattameva santiṭṭhati, sannisīdati, ekodi hoti, samādhiyati.
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño vā rājamahāmattassa vā vīṇāya saddo assutapubbo assa.
So vīṇāsaddaṁ suṇeyya.
So evaṁ vadeyya:
‘ambho, kassa nu kho eso saddo evaṁrajanīyo evaṅkamanīyo evaṁmadanīyo evaṁmucchanīyo evambandhanīyo’ti?
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ:
‘esā, kho, bhante, vīṇā nāma, yassā eso saddo evaṁrajanīyo evaṅkamanīyo evaṁmadanīyo evaṁmucchanīyo evambandhanīyo’ti.
So evaṁ vadeyya:
‘gacchatha me, bho, taṁ vīṇaṁ āharathā’ti.
Tassa taṁ vīṇaṁ āhareyyuṁ.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ:
‘ayaṁ kho sā, bhante, vīṇā yassā eso saddo evaṁrajanīyo evaṅkamanīyo evaṁmadanīyo evaṁmucchanīyo evambandhanīyo’ti.
So evaṁ vadeyya:
‘alaṁ me, bho, tāya vīṇāya, tameva me saddaṁ āharathā’ti.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ:
‘ayaṁ kho, bhante, vīṇā nāma anekasambhārā mahāsambhārā.
Anekehi sambhārehi samāraddhā vadati, seyyathidaṁ—
doṇiñca paṭicca cammañca paṭicca daṇḍañca paṭicca upadhāraṇe ca paṭicca tantiyo ca paṭicca koṇañca paṭicca purisassa ca tajjaṁ vāyāmaṁ paṭicca evāyaṁ, bhante, vīṇā nāma anekasambhārā mahāsambhārā.
Anekehi sambhārehi samāraddhā vadatī’ti.
So taṁ vīṇaṁ dasadhā vā satadhā vā phāleyya, dasadhā vā satadhā vā taṁ phāletvā sakalikaṁ sakalikaṁ kareyya.
Sakalikaṁ sakalikaṁ karitvā agginā ḍaheyya, agginā ḍahitvā masiṁ kareyya.
Masiṁ karitvā mahāvāte vā ophuneyya, nadiyā vā sīghasotāya pavāheyya.
So evaṁ vadeyya:
‘asatī kirāyaṁ, bho, vīṇā nāma, yathevaṁ yaṁ kiñci vīṇā nāma ettha ca panāyaṁ jano ativelaṁ pamatto palaḷito’ti.
Evameva kho, bhikkhave, bhikkhu rūpaṁ samanvesati yāvatā rūpassa gati, vedanaṁ samanvesati yāvatā vedanāya gati, saññaṁ samanvesati yāvatā saññāya gati, saṅkhāre samanvesati yāvatā saṅkhārānaṁ gati, viññāṇaṁ samanvesati yāvatā viññāṇassa gati.
Tassa rūpaṁ samanvesato yāvatā rūpassa gati, vedanaṁ samanvesato …pe…
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ samanvesato yāvatā viññāṇassa gati.
Yampissa taṁ hoti ahanti vā mamanti vā asmīti vā tampi tassa na hotī”ti.
Navamaṁ.
SC 1“Bhikkhus, if in any bhikkhu or bhikkhunī desire or lust or hatred or delusion or aversion of mind should arise in regard to forms cognizable by the eye, such a one should rein in the mind from them thus: ‘This path is fearful, dangerous, strewn with thorns, covered by jungle, a deviant path, an evil path, a way beset by scarcity. This is a path followed by inferior people; it is not the path followed by superior people. This is not for you.’ In this way the mind should be reined in from these states regarding forms cognizable by the eye. So too regarding sounds cognizable by the ear … regarding mental phenomena cognizable by the mind.
SC 2“Suppose, bhikkhus, that the barley has ripened and the watchman is negligent. If a bull fond of barley enters the barley field, he might indulge himself as much as he likes. sn.iv.196 So too, bhikkhus, the uninstructed worldling who does not exercise restraint over the six bases for contact indulges himself as much as he likes in the five cords of sensual pleasure.
SC 3“Suppose, bhikkhus, that the barley has ripened and the watchman is vigilant. If a bull fond of barley enters the barley field, the watchman would catch hold of him firmly by the muzzle. While holding him firmly by the muzzle, he would get a secure grip on the locks between his horns and, keeping him in check there, would give him a sound beating with his staff. After giving him that beating, he would drive the bull away. This might happen a second time and a third time. Thus that bull fond of barley, whether he has gone to the village or the forest, whether he is accustomed to standing or to sitting, remembering the previous beating he got from the staff, would not enter that barley field again.
SC 4“So too, bhikkhus, when a bhikkhu’s mind has been subdued, well subdued, regarding the six bases for contact, it then becomes inwardly steady, settled, unified, and concentrated.
SC 5“Suppose, bhikkhus, there was a king or a royal minister who had never before heard the sound of a lute. He might hear the sound of a lute and say: ‘Good man, what is making this sound—so tantalizing, so lovely, so intoxicating, sn.iv.197 so entrancing, so enthralling?’ They would say to him: ‘Sire, it is a lute that is making this sound—so tantalizing, so lovely, so intoxicating, so entrancing, so enthralling.’ He would reply: ‘Go, man, bring me that lute.’
SC 6“They would bring him the lute and tell him: ‘Sire, this is that lute, the sound of which was so tantalizing, so lovely, so intoxicating, so entrancing, so enthralling.’ The king would say: ‘I’ve had enough with this lute, man. Bring me just that sound.’ The men would reply: ‘This lute, sire, consists of numerous components, of a great many components, and it gives off a sound when it is played upon with its numerous components; that is, in dependence on the parchment sounding board, the belly, the arm, the head, the strings, the plectrum, and the appropriate effort of the musician. So it is, sire, that this lute consisting of numerous components, of a great many components, gives off a sound when it is played upon with its numerous components.’
SC 7“The king would split the lute into ten or a hundred pieces, then he would reduce these to splinters. Having reduced them to splinters, he would burn them in a fire and reduce them to ashes, and he would winnow the ashes in a strong wind or let them be carried away by the swift current of a river. Then he would say: ‘A poor thing, indeed sir, is this so-called lute, as well as anything else called a lute. How the multitude are utterly heedless about it, utterly taken in by it!’
SC 8“So too, bhikkhus, a bhikkhu investigates form to the extent that there is a range for form, he investigates feeling to the extent that there is a range for feeling, he investigates perception to the extent that there is a range for perception, he investigates volitional formations to the extent that there is a range for volitional formations, he investigates consciousness to the extent that there is a range for consciousness. sn.iv.198 As he investigates form to the extent that there is a range for form … consciousness to the extent that there is a range for consciousness, whatever notions of ‘I’ or ‘mine’ or ‘I am’ had occurred to him before no longer occur to him.”
Vi-n 1-2. …
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào đối với các sắc do mắt nhận thức có khởi lên dục (chanda), tham, sân, si hay hận tâm; hãy ngăn chận tâm đừng cho khởi lên như vậy. Con đường này là con đường đầy sợ hãi, đầy kinh khủng, đầy gai góc, đầy rừng rậm, con đường ác, con đường tà, con đường đầy trộm cướp. Con đường này là con đường do phi thiện nhân dùng, không phải con đường do thiện nhân dùng. Như vậy, với ý nghĩ: “Ðây không phải con đường xứng đáng cho ta”. Hãy ngăn chận tâm đừng cho khởi lên như vậy đối với các sắc do mắt nhận thức … Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào đối với các vị do lưỡi nhận thức … đối với các pháp do ý nhận thức, có khởi lên dục, tham, sân, si hay hận tâm; hãy ngăn chận tâm đừng cho khởi lên như vậy. Con đường này là con đường đầy sợ hãi, đầy kinh khủng, đầy gai góc, đầy rừng rậm, con đường ác, con đường tà, con đường đầy trộm cướp. Con đường này là con đường do phi thiện nhân dùng, không phải con đường do thiện nhân dùng. Như vậy với ý nghĩ: “Ðây không phải con đường xứng đáng cho ta”, hãy ngăn chận tâm đừng cho khởi lên như vậy đối với các pháp do ý nhận thức.
Vi-n 4 Ví như, này các Tỷ-kheo, lúa mì đã chín và một người giữ lúa mì phóng dật (lơ đãng). Có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy và mê say ăn một cách thỏa thích. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không hộ trì đối với sáu xúc xứ, mê say thọ dụng một cách thỏa thích đối với năm dục công đức.
Vi-n 5 Ví như, này các Tỷ-kheo, lúa mì đã chín và một người giữ lúa mì không phóng dật. Có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy. Người giữ lúa mì nắm chắc cái lỗ mũi của con bò; sau khi nắm chắc cái lỗ mũi, người ấy rị chặt trên cái trán. Sau khi rị chặt trên cái trán, với cái gậy, người ấy đánh con bò một trận nên thân. Sau khi lấy gậy đánh cho một trận nên thân, người ấy thả con bò đi.
Lần thứ hai, này các Tỷ-kheo …
Lần thứ ba, này các Tỷ-kheo, có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy. Người giữ lúa mì nắm chặt cái mũi con bò; sau khi nắm chắc cái mũi, người ấy rị chặt trên cái trán. Sau khi rị chặt trên cái trán, với cái gậy, người ấy đánh con bò một trận nên thân. Sau khi lấy gậy đánh con bò một trận nên thân, người ấy thả con bò đi. Như vậy, này các Tỷ-kheo, con bò ăn lúa mì ấy đi vào làng, hay đi vào rừng, hay khi đứng, hay ngồi, nó không xâm phạm lúa mì ấy, vì nó nhớ đến cảm xúc cái gậy lần trước. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo có tâm chơn trực, chánh trực đối với sáu xúc xứ, thời nội tâm được an trú, tịnh chỉ, nhứt tâm, Thiền định.
Vi-n 6 Ví như, này các Tỷ-kheo, một vị vua hay đại thần của vua từ trước chưa từng được nghe tiếng đàn tỳ bà, nay được nghe tiếng đàn tỳ bà, vị ấy nói: “Này Bạn, tiếng ấy là tiếng gì, khả ái như vậy, khả lạc như vậy, mê ly như vậy, say đắm như vậy, hấp dẫn như vậy?” Họ nói với vị ấy: “Thưa Tôn giả, đây là đàn tỳ bà, với tiếng khả ái như vậy, mê ly như vậy, khả lạc như vậy, say đắm như vậy, hấp dẫn như vậy”. Vị ấy nói như sau: “Hãy đi và đem đàn tỳ bà ấy về cho ta”. Họ đem đàn tỳ bà về cho vị ấy, và nói như sau: “Thưa Tôn giả, đàn tỳ bà này với tiếng khả ái như vậy, khả lạc như vậy, mê ly như vậy, say đắm như vậy, hấp dẫn như vậy”. Vị ấy bèn nói: “Thôi vừa rồi đối với ta về đàn tỳ bà này. Hãy đem tiếng lại cho ta”. Họ thưa với vị ấy: “Thưa Tôn giả, cái này được gọi là đàn tỳ bà, gồm có nhiều thành phần, gồm có số lớn thành phần. Nhờ nhiều thành phần này nên đàn phát âm. Như duyên cái bầu, duyên cái da, duyên cái cán, duyên cái đầu, duyên cái dây, duyên cái cung, duyên nỗ lực thích nghi của người. Như vậy, thưa Tôn giả, cái này gọi là đàn tỳ bà, gồm có nhiều thành phần, gồm có số lớn thành phần. Nhờ gồm nhiều thành phần này nên đàn phát âm”. Rồi vua ấy đập đàn tỳ bà ấy ra thành 10 mảnh, 100 mảnh; sau khi đập bể đàn tỳ bà ấy ra thành 10 mảnh, 100 mảnh, vị ấy chẻ thành từng miếng nhỏ; sau khi chẻ thành từng miếng nhỏ, vị ấy lấy lửa đốt; sau khi lấy lửa đốt, vị ấy vun lại thành đống tro; sau khi vun lại thành đống tro, vị ấy đem quạt đống tro lớn ấy trước làn gió mạnh, hay để chúng trôi theo dòng nước sông chảy mạnh. Rồi vị ấy nói: “Thật là hạ liệt, cái gọi đàn tỳ bà này, dầu cho tỳ bà là cái gì. Ở đây, đại chúng thường phóng dật, bị hướng dẫn sai lạc”.
Vi-n 7 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát sắc cho đến sở thú của sắc, quán sát thọ … quán sát tưởng … quán sát các hành … quán sát thức cho đến sở thú của thức. Trong tất cả quán sát này, không có cái gì là “Tôi”, là “Của tôi”, là “Tôi là” cả.
“Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā cakkhuviññeyyesu rūpesu uppajjeyya chando vā rāgo vā doso vā moho vā paṭighaṁ vāpi cetaso, tato cittaṁ nivāreyya.
Sabhayo ceso maggo sappaṭibhayo ca sakaṇṭako ca sagahano ca ummaggo ca kummaggo ca duhitiko ca.
Asappurisasevito ceso maggo, na ceso maggo sappurisehi sevito.
Na tvaṁ etaṁ arahasīti.
Tato cittaṁ nivāraye cakkhuviññeyyehi rūpehi …pe…
yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā jivhāviññeyyesu rasesu …pe…
manoviññeyyesu dhammesu uppajjeyya chando vā rāgo vā doso vā moho vā paṭighaṁ vāpi cetaso tato cittaṁ nivāreyya.
Sabhayo ceso maggo sappaṭibhayo ca sakaṇṭako ca sagahano ca ummaggo ca kummaggo ca duhitiko ca.
Asappurisasevito ceso maggo, na ceso maggo sappurisehi sevito.
Na tvaṁ etaṁ arahasīti.
Tato cittaṁ nivāraye manoviññeyyehi dhammehi.
Seyyathāpi, bhikkhave, kiṭṭhaṁ sampannaṁ.
Kiṭṭhārakkho ca pamatto, goṇo ca kiṭṭhādo aduṁ kiṭṭhaṁ otaritvā yāvadatthaṁ madaṁ āpajjeyya pamādaṁ āpajjeyya;
evameva kho, bhikkhave, assutavā puthujjano chasu phassāyatanesu asaṁvutakārī pañcasu kāmaguṇesu yāvadatthaṁ madaṁ āpajjati pamādaṁ āpajjati.
Seyyathāpi, bhikkhave, kiṭṭhaṁ sampannaṁ kiṭṭhārakkho ca appamatto goṇo ca kiṭṭhādo aduṁ kiṭṭhaṁ otareyya.
Tamenaṁ kiṭṭhārakkho nāsāyaṁ suggahitaṁ gaṇheyya.
Nāsāyaṁ suggahitaṁ gahetvā uparighaṭāyaṁ suniggahitaṁ niggaṇheyya.
Uparighaṭāyaṁ suniggahitaṁ niggahetvā daṇḍena sutāḷitaṁ tāḷeyya.
Daṇḍena sutāḷitaṁ tāḷetvā osajjeyya.
Dutiyampi kho, bhikkhave …pe…
tatiyampi kho, bhikkhave, goṇo kiṭṭhādo aduṁ kiṭṭhaṁ otareyya.
Tamenaṁ kiṭṭhārakkho nāsāyaṁ suggahitaṁ gaṇheyya.
Nāsāyaṁ suggahitaṁ gahetvā uparighaṭāyaṁ suniggahitaṁ niggaṇheyya.
Uparighaṭāyaṁ suniggahitaṁ niggahetvā daṇḍena sutāḷitaṁ tāḷeyya.
Daṇḍena sutāḷitaṁ tāḷetvā osajjeyya.
Evañhi so, bhikkhave, goṇo kiṭṭhādo gāmagato vā araññagato vā, ṭhānabahulo vā assa nisajjabahulo vā na taṁ kiṭṭhaṁ puna otareyya—
tameva purimaṁ daṇḍasamphassaṁ samanussaranto.
Evameva kho, bhikkhave, yato kho bhikkhuno chasu phassāyatanesu cittaṁ udujitaṁ hoti sudujitaṁ, ajjhattameva santiṭṭhati, sannisīdati, ekodi hoti, samādhiyati.
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño vā rājamahāmattassa vā vīṇāya saddo assutapubbo assa.
So vīṇāsaddaṁ suṇeyya.
So evaṁ vadeyya:
‘ambho, kassa nu kho eso saddo evaṁrajanīyo evaṅkamanīyo evaṁmadanīyo evaṁmucchanīyo evambandhanīyo’ti?
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ:
‘esā, kho, bhante, vīṇā nāma, yassā eso saddo evaṁrajanīyo evaṅkamanīyo evaṁmadanīyo evaṁmucchanīyo evambandhanīyo’ti.
So evaṁ vadeyya:
‘gacchatha me, bho, taṁ vīṇaṁ āharathā’ti.
Tassa taṁ vīṇaṁ āhareyyuṁ.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ:
‘ayaṁ kho sā, bhante, vīṇā yassā eso saddo evaṁrajanīyo evaṅkamanīyo evaṁmadanīyo evaṁmucchanīyo evambandhanīyo’ti.
So evaṁ vadeyya:
‘alaṁ me, bho, tāya vīṇāya, tameva me saddaṁ āharathā’ti.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ:
‘ayaṁ kho, bhante, vīṇā nāma anekasambhārā mahāsambhārā.
Anekehi sambhārehi samāraddhā vadati, seyyathidaṁ—
doṇiñca paṭicca cammañca paṭicca daṇḍañca paṭicca upadhāraṇe ca paṭicca tantiyo ca paṭicca koṇañca paṭicca purisassa ca tajjaṁ vāyāmaṁ paṭicca evāyaṁ, bhante, vīṇā nāma anekasambhārā mahāsambhārā.
Anekehi sambhārehi samāraddhā vadatī’ti.
So taṁ vīṇaṁ dasadhā vā satadhā vā phāleyya, dasadhā vā satadhā vā taṁ phāletvā sakalikaṁ sakalikaṁ kareyya.
Sakalikaṁ sakalikaṁ karitvā agginā ḍaheyya, agginā ḍahitvā masiṁ kareyya.
Masiṁ karitvā mahāvāte vā ophuneyya, nadiyā vā sīghasotāya pavāheyya.
So evaṁ vadeyya:
‘asatī kirāyaṁ, bho, vīṇā nāma, yathevaṁ yaṁ kiñci vīṇā nāma ettha ca panāyaṁ jano ativelaṁ pamatto palaḷito’ti.
Evameva kho, bhikkhave, bhikkhu rūpaṁ samanvesati yāvatā rūpassa gati, vedanaṁ samanvesati yāvatā vedanāya gati, saññaṁ samanvesati yāvatā saññāya gati, saṅkhāre samanvesati yāvatā saṅkhārānaṁ gati, viññāṇaṁ samanvesati yāvatā viññāṇassa gati.
Tassa rūpaṁ samanvesato yāvatā rūpassa gati, vedanaṁ samanvesato …pe…
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ samanvesato yāvatā viññāṇassa gati.
Yampissa taṁ hoti ahanti vā mamanti vā asmīti vā tampi tassa na hotī”ti.
Navamaṁ.