Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã, cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 4-6. Thọ, này các Tỷ-kheo, là vô thường … Tưởng, này các Tỷ-kheo, là vô thường … Các hành, này các Tỷ-kheo, là vô thường …
Vi-n 7 Thức, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã, cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 8 Do như thật quán với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy không có các tùy kiến về quá khứ. Do không có các tùy kiến về quá khứ nên không có các tùy kiến về tương lai. Do không có các tùy kiến về tương lai, kiên trì chấp thủ không có. Do không có kiên trì chấp thủ, đối với sắc … đối với thọ … đối với tưởng … đối với các hành … đối với thức, tâm ly tham, giải thoát, không chấp thủ các lậu hoặc. Do giải thoát, vị ấy an trú. Do an trú, vị ấy tri túc. Do tri túc, vị ấy không ưu não. Do không ưu não, vị ấy tự mình được tịch tịnh một cách viên mãn. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Sāvatthinidānaṁ.
“Rūpaṁ, bhikkhave, aniccaṁ.
Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ;
yaṁ dukkhaṁ tadanattā;
yadanattā taṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Vedanā aniccā …
saññā aniccā …
saṅkhārā aniccā …
viññāṇaṁ aniccaṁ.
Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ;
yaṁ dukkhaṁ tadanattā;
yadanattā taṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya passato pubbantānudiṭṭhiyo na honti.
Pubbantānudiṭṭhīnaṁ asati, aparantānudiṭṭhiyo na honti.
Aparantānudiṭṭhīnaṁ asati, thāmaso parāmāso na hoti.
Thāmase parāmāse asati rūpasmiṁ …
vedanāya …
saññāya …
saṅkhāresu …
viññāṇasmiṁ cittaṁ virajjati vimuccati anupādāya āsavehi.
Vimuttattā ṭhitaṁ. Ṭhitattā santusitaṁ. Santusitattā na paritassati. Aparitassaṁ paccattaññeva parinibbāyati.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Catutthaṁ.
SC 1At Savatthi. “Bhikkhus, form is impermanent…. Feeling is impermanent…. Perception is impermanent…. Volitional formations are impermanent…. Consciousness is impermanent. What is impermanent is suffering. What is suffering is nonself. What is nonself should be seen as it really is with correct wisdom thus: ‘This is not mine, this I am not, this is not my self.’
SC 2“When one sees this thus as it really is with correct wisdom, one holds no more views concerning the past. When one holds no more views concerning the past, sn.iii.46 one holds no more views concerning the future. When one holds no more views concerning the future, one has no more obstinate grasping. When one has no more obstinate grasping, the mind becomes dispassionate towards form, feeling, perception, volitional formations, and consciousness, and is liberated from the taints by nonclinging.
SC 3“By being liberated, it is steady; by being steady, it is content; by being content, one is not agitated. Being unagitated, one personally attains Nibbāna. One understands: ‘Destroyed is birth, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more for this state of being.’”
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã, cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 4-6. Thọ, này các Tỷ-kheo, là vô thường … Tưởng, này các Tỷ-kheo, là vô thường … Các hành, này các Tỷ-kheo, là vô thường …
Vi-n 7 Thức, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã, cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 8 Do như thật quán với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy không có các tùy kiến về quá khứ. Do không có các tùy kiến về quá khứ nên không có các tùy kiến về tương lai. Do không có các tùy kiến về tương lai, kiên trì chấp thủ không có. Do không có kiên trì chấp thủ, đối với sắc … đối với thọ … đối với tưởng … đối với các hành … đối với thức, tâm ly tham, giải thoát, không chấp thủ các lậu hoặc. Do giải thoát, vị ấy an trú. Do an trú, vị ấy tri túc. Do tri túc, vị ấy không ưu não. Do không ưu não, vị ấy tự mình được tịch tịnh một cách viên mãn. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Sāvatthinidānaṁ.
“Rūpaṁ, bhikkhave, aniccaṁ.
Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ;
yaṁ dukkhaṁ tadanattā;
yadanattā taṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Vedanā aniccā …
saññā aniccā …
saṅkhārā aniccā …
viññāṇaṁ aniccaṁ.
Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ;
yaṁ dukkhaṁ tadanattā;
yadanattā taṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya passato pubbantānudiṭṭhiyo na honti.
Pubbantānudiṭṭhīnaṁ asati, aparantānudiṭṭhiyo na honti.
Aparantānudiṭṭhīnaṁ asati, thāmaso parāmāso na hoti.
Thāmase parāmāse asati rūpasmiṁ …
vedanāya …
saññāya …
saṅkhāresu …
viññāṇasmiṁ cittaṁ virajjati vimuccati anupādāya āsavehi.
Vimuttattā ṭhitaṁ. Ṭhitattā santusitaṁ. Santusitattā na paritassati. Aparitassaṁ paccattaññeva parinibbāyati.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Catutthaṁ.