Vi-n 1 Trú ở Rājagaha (Vương Xá), tại Veḷuvana (Trúc Lâm).
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Mahākassapa đi đến Thế Tôn…
Vi-n 3 Thế Tôn nói với Tôn giả Mahākassapa đang ngồi một bên:
—Này Kassapa hãy giáo giới các Tỷ-kheo! Hãy thuyết pháp thoại cho các Tỷ-kheo! Ta hay ông hãy giáo giới các Tỷ-kheo! ông hay Ta hãy thuyết pháp thoại cho các Tỷ-kheo!
Vi-n 4 —Bạch Thế Tôn, khó nói là chúng Tỷ-kheo hiện tại. Họ ở trong tình trạng khó nói với họ. Họ không kham nhẫn, họ không kính trọng lời giáo giới!
Vi-n 5 Bạch Thế Tôn, với ai không có lòng tin đối với thiện pháp, không có biết thẹn đối với thiện pháp, không có biết sợ đối với thiện pháp, không có tinh tấn đối với thiện pháp, không có trí tuệ đối với thiện pháp; đối với người ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tổn giảm đối với các thiện pháp, không phải là sự tăng trưởng!
Vi-n 6 Ví như mặt trăng, bạch Thế Tôn, trong thời kỳ tối trời, dầu là đêm hay là ngày, hình sắc tổn giảm dần, hình tròn tổn giảm dần, ánh sáng tổn giảm dần, đường quỹ đạo nó đi tổn giảm dần. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, đối với ai không có lòng tin đối vói thiện pháp, không có biết thẹn đối với thiện pháp, không biết sợ đối với thiện pháp, không có tinh tấn đối với thiện pháp, không có trí tuệ đối với thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tổn giảm đối với các thiện pháp, không phải là sự tăng trưởng!
Vi-n 7 Người không có lòng tin, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn giảm. Người không biết thẹn, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn giảm. Người không biết sợ, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn giảm. Người lười biếng, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn giảm. Người ác trí tuệ, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn giảm. Người phẫn nộ… Người sân hận, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn giảm. Nếu vị Tỷ-kheo không có giáo giới, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn giảm.
Vi-n 8 Với ai, bạch Thế Tôn, có lòng tin đối với thiện pháp, có biết thẹn đối với thiện pháp, có biết sợ đối với thiện pháp, có tinh tấn đối với thiện pháp, có trí tuệ đối với thiện pháp; với vị ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi sự tăng trưởng đối với thiện pháp, không phải sự tổn giảm.
Vi-n 9 Ví như mặt trăng, bạch Thế Tôn, trong thời kỳ sáng trời, dầu là đêm hay là ngày, hình sắc tăng trưởng dần, hình tròn tăng trưởng dần, ánh sáng tăng trưởng dần, quỹ đạo nó đi tăng trưởng dần. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, với ai có lòng tin đối với thiện pháp, có biết thẹn…có biết sợ… có tinh tấn… có trí tuệ đối với thiện pháp; với vị ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tăng trưởng đối với thiện pháp, không phải là tổn giảm.
Vi-n 10 Người có lòng tin, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn giảm. Người có biết thẹn, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn giảm. Người có biết sợ, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn giảm. Người tinh cần, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn giảm. Người không phẫn nộ, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn giảm. Người không sân hận, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn giảm. Có những Tỷ-kheo giáo giới, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn giảm.
Vi-n 11 —Lành thay, lành thay, này Kassapa! Với ai, này Kassapa, không có lòng tin đối với thiện pháp… không có biết thẹn… không có biết sợ… không có tinh tấn… không có trí tuệ đối với thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tổn giảm trong thiện pháp, không phải là tăng trưởng.
Vi-n 12 Ví như mặt trăng, này Kassapa, trong thời kỳ tối trời, dầu là đêm hay là ngày, hình sắc tổn giảm dần, hình tròn tổn giảm dần, ánh sáng tổn giảm dần, quỹ đạo nó đi tổn giảm dần. Cũng vậy, này Kassapa, với ai không có lòng tin đối với thiện pháp, không có biết thẹn… không có biết sợ… không có tinh tấn… không có trí tuệ đối với thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay ngày, chờ đợi là sự tổn giảm đối với thiện pháp, không phải là sự tăng trưởng.
Vi-n 13 Người không có lòng tin, này Kassapa, tức có nghĩa là tổn giảm. Người không biết thẹn… Người không biết sợ… Người biếng nhác… Người ác trí tuệ… Người phẫn nộ… Người sân hận, này Kassapa, tức có nghĩa là tổn giảm. Không có Tỷ-kheo giáo giới, này Kassapa, tức có nghĩa là tổn giảm.
Vi-n 14 Với ai, này Kassapa, có lòng tin đối với thiện pháp… có biết thẹn… có biết sợ… có tinh tấn… có trí tuệ đối với thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay ngày, chờ đợi là sự tăng trưởng đối với thiện pháp, không phải là tổn giảm.
Vi-n 15 Ví như mặt trăng, này Kassapa, trong thời kỳ sáng trời, dầu là đêm hay ngày, hình sắc tăng trưởng dần, hình tròn tăng trưởng dần, ánh sáng tăng trưởng dần, quỹ đạo nó đi tăng trưởng dần. Cũng vậy, này Kassapa, ai có lòng tin đối với thiện pháp, có biết thẹn… có biết sợ… có tinh tấn… có trí tuệ là sự tăng trưởng đối với thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay ngày, chờ đợi là sự tăng trưởng đối với thiện pháp, không phải là sự tổn giảm.
Vi-n 16 Người có lòng tin, này Kassapa, tức có nghĩa là không tổn giảm. Người biết thẹn… Người biết sợ… Người tinh tấn… Người có trí tuệ… Người không phẫn nộ… Người không sân hận, này Kassapa, tức có nghĩa là không tổn giảm. Có Tỷ-kheo giáo giới, này Kassapa, tức có nghĩa là không tổn giảm.
Rājagahe viharati veḷuvane.
Atha kho āyasmā mahākassapo yena bhagavā tenupasaṅkami …pe…
ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ mahākassapaṁ bhagavā etadavoca:
“ovada, kassapa, bhikkhū;
karohi, kassapa, bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ.
Ahaṁ vā, kassapa, bhikkhū ovadeyyaṁ tvaṁ vā;
ahaṁ vā bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ kareyyaṁ tvaṁ vā”ti.
“Dubbacā kho, bhante, etarahi bhikkhū, dovacassakaraṇehi dhammehi samannāgatā akkhamā appadakkhiṇaggāhino anusāsaniṁ.
Yassa kassaci, bhante, saddhā natthi kusalesu dhammesu, hirī natthi kusalesu dhammesu, ottappaṁ natthi kusalesu dhammesu, vīriyaṁ natthi kusalesu dhammesu, paññā natthi kusalesu dhammesu, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, hāniyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no vuddhi.
Seyyathāpi, bhante, kāḷapakkhe candassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, hāyateva vaṇṇena, hāyati maṇḍalena, hāyati ābhāya, hāyati ārohapariṇāhena.
Evameva kho, bhante, yassa kassaci saddhā natthi kusalesu dhammesu …pe…
hirī natthi …
ottappaṁ natthi …
vīriyaṁ natthi …
paññā natthi … kusalesu dhammesu tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, hāniyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no vuddhi.
‘Assaddho purisapuggalo’ti, bhante, parihānametaṁ;
‘ahiriko purisapuggalo’ti, bhante, parihānametaṁ;
‘anottappī purisapuggalo’ti, bhante, parihānametaṁ;
‘kusīto purisapuggalo’ti, bhante, parihānametaṁ;
‘duppañño purisapuggalo’ti, bhante, parihānametaṁ;
‘kodhano purisapuggalo’ti, bhante, parihānametaṁ;
‘upanāhī purisapuggalo’ti, bhante, parihānametaṁ;
‘na santi bhikkhū ovādakā’ti, bhante, parihānametaṁ.
Yassa kassaci, bhante, saddhā atthi kusalesu dhammesu, hirī atthi kusalesu dhammesu, ottappaṁ atthi kusalesu dhammesu, vīriyaṁ atthi kusalesu dhammesu, paññā atthi kusalesu dhammesu, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no parihāni.
Seyyathāpi, bhante, juṇhapakkhe candassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, vaḍḍhateva vaṇṇena, vaḍḍhati maṇḍalena, vaḍḍhati ābhāya, vaḍḍhati ārohapariṇāhena.
Evameva kho, bhante, yassa kassaci saddhā atthi kusalesu dhammesu …
hirī atthi …pe…
ottappaṁ atthi …
vīriyaṁ atthi …
paññā atthi kusalesu dhammesu tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no parihāni.
‘Saddho purisapuggalo’ti, bhante, aparihānametaṁ;
‘hirimā purisapuggalo’ti, bhante, aparihānametaṁ;
‘ottappī purisapuggalo’ti, bhante, aparihānametaṁ;
‘āraddhavīriyo purisapuggalo’ti, bhante, aparihānametaṁ;
‘paññavā purisapuggalo’ti, bhante, aparihānametaṁ;
‘akkodhano purisapuggalo’ti, bhante, aparihānametaṁ;
‘anupanāhī purisapuggalo’ti, bhante, aparihānametaṁ;
‘santi bhikkhū ovādakā’ti, bhante, aparihānametan”ti.
“Sādhu sādhu, kassapa.
Yassa kassaci, kassapa, saddhā natthi kusalesu dhammesu …pe…
hirī natthi …
ottappaṁ natthi …
vīriyaṁ natthi …
paññā natthi kusalesu dhammesu tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, hāniyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no vuddhi.
Seyyathāpi, kassapa, kāḷapakkhe candassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, hāyateva vaṇṇena …pe…
hāyati ārohapariṇāhena.
Evameva kho, kassapa, yassa kassaci saddhā natthi kusalesu dhammesu …pe…
hirī natthi …
ottappaṁ natthi …
vīriyaṁ natthi …
paññā natthi kusalesu dhammesu tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, hāniyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no vuddhi.
‘Assaddho purisapuggalo’ti, kassapa, parihānametaṁ;
ahiriko …pe…
anottappī …
kusīto …
duppañño …
kodhano …
‘upanāhī purisapuggalo’ti, kassapa, parihānametaṁ;
‘na santi bhikkhū ovādakā’ti, kassapa, parihānametaṁ.
Yassa kassaci, kassapa, saddhā atthi kusalesu dhammesu …pe…
hirī atthi …
ottappaṁ atthi …
vīriyaṁ atthi …
paññā atthi kusalesu dhammesu tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no parihāni.
Seyyathāpi, kassapa, juṇhapakkhe candassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, vaḍḍhateva vaṇṇena, vaḍḍhati maṇḍalena, vaḍḍhati ābhāya, vaḍḍhati ārohapariṇāhena.
Evameva kho, kassapa, yassa kassaci saddhā atthi kusalesu dhammesu hirī atthi …
ottappaṁ atthi …
vīriyaṁ atthi …
paññā atthi kusalesu dhammesu tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no parihāni.
‘Saddho purisapuggalo’ti, kassapa, aparihānametaṁ;
hirimā …pe…
ottappī …
āraddhavīriyo …
paññavā …
akkodhano …
‘anupanāhī purisapuggalo’ti, kassapa, aparihānametaṁ;
‘santi bhikkhū ovādakā’ti, kassapa, aparihānametan”ti.
Sattamaṁ.
SC 1At Rajagaha in the Bamboo Grove. Then the Venerable Mahakassapa approached the Blessed One, paid homage to him, and sat down to one side. The Blessed One then said to him: “Exhort the bhikkhus, Kassapa, give them a Dhamma talk. Either I should exhort the bhikkhus, Kassapa, sn.ii.206 or you should. Either I should give them a Dhamma talk or you should.”
SC 2“Venerable sir, the bhikkhus are difficult to admonish now, and they have qualities which make them difficult to admonish. They are impatient and do not accept instruction respectfully. Venerable sir, for one who has no faith in regard to wholesome states, no sense of shame, no fear of wrongdoing, no energy, and no wisdom, whether day or night comes only decline is to be expected in regard to wholesome states, not growth. Just as, during the dark fortnight, whether day or night comes the moon declines in colour, circularity, and luminosity, in diameter and circumference, so too, venerable sir, for one who has no faith in wholesome states, no sense of shame, no fear of wrongdoing, no energy, and no wisdom, whether day or night comes only decline is to be expected in regard to wholesome states, not growth.
SC 3“A person without faith, venerable sir: this is a case of decline. A person without a sense of shame … who is unafraid of wrongdoing … who is lazy … unwise … angry … malicious: this is a case of decline. When there are no bhikkhus who are exhorters: this is a case of decline.
SC 4“Venerable sir, for one who has faith in regard to wholesome states, a sense of shame, fear of wrongdoing, energy, and wisdom, whether day or night comes only growth is to be expected in regard to wholesome states, not decline. Just as, during the bright fortnight, whether day or night comes the moon grows in colour, circularity, sn.ii.207 and luminosity, in diameter and circumference, so too, venerable sir, for one who has faith in wholesome states, a sense of shame, fear of wrongdoing, energy, and wisdom, whether day or night comes only growth is to be expected in regard to wholesome states, not decline.
SC 5“A person with faith, venerable sir: this is a case of nondecline. A person with a sense of shame … who is afraid of wrongdoing … energetic … wise … without anger … without malice: this is a case of nondecline. When there are bhikkhus who are exhorters: this is a case of nondecline.”
“Good, good, Kassapa!”
SC 6The Buddha then repeats the entire statement of the Venerable Mahakassapa. sn.ii.208
Vi-n 1 Trú ở Rājagaha (Vương Xá), tại Veḷuvana (Trúc Lâm).
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Mahākassapa đi đến Thế Tôn…
Vi-n 3 Thế Tôn nói với Tôn giả Mahākassapa đang ngồi một bên:
—Này Kassapa hãy giáo giới các Tỷ-kheo! Hãy thuyết pháp thoại cho các Tỷ-kheo! Ta hay ông hãy giáo giới các Tỷ-kheo! ông hay Ta hãy thuyết pháp thoại cho các Tỷ-kheo!
Vi-n 4 —Bạch Thế Tôn, khó nói là chúng Tỷ-kheo hiện tại. Họ ở trong tình trạng khó nói với họ. Họ không kham nhẫn, họ không kính trọng lời giáo giới!
Vi-n 5 Bạch Thế Tôn, với ai không có lòng tin đối với thiện pháp, không có biết thẹn đối với thiện pháp, không có biết sợ đối với thiện pháp, không có tinh tấn đối với thiện pháp, không có trí tuệ đối với thiện pháp; đối với người ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tổn giảm đối với các thiện pháp, không phải là sự tăng trưởng!
Vi-n 6 Ví như mặt trăng, bạch Thế Tôn, trong thời kỳ tối trời, dầu là đêm hay là ngày, hình sắc tổn giảm dần, hình tròn tổn giảm dần, ánh sáng tổn giảm dần, đường quỹ đạo nó đi tổn giảm dần. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, đối với ai không có lòng tin đối vói thiện pháp, không có biết thẹn đối với thiện pháp, không biết sợ đối với thiện pháp, không có tinh tấn đối với thiện pháp, không có trí tuệ đối với thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tổn giảm đối với các thiện pháp, không phải là sự tăng trưởng!
Vi-n 7 Người không có lòng tin, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn giảm. Người không biết thẹn, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn giảm. Người không biết sợ, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn giảm. Người lười biếng, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn giảm. Người ác trí tuệ, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn giảm. Người phẫn nộ… Người sân hận, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn giảm. Nếu vị Tỷ-kheo không có giáo giới, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn giảm.
Vi-n 8 Với ai, bạch Thế Tôn, có lòng tin đối với thiện pháp, có biết thẹn đối với thiện pháp, có biết sợ đối với thiện pháp, có tinh tấn đối với thiện pháp, có trí tuệ đối với thiện pháp; với vị ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi sự tăng trưởng đối với thiện pháp, không phải sự tổn giảm.
Vi-n 9 Ví như mặt trăng, bạch Thế Tôn, trong thời kỳ sáng trời, dầu là đêm hay là ngày, hình sắc tăng trưởng dần, hình tròn tăng trưởng dần, ánh sáng tăng trưởng dần, quỹ đạo nó đi tăng trưởng dần. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, với ai có lòng tin đối với thiện pháp, có biết thẹn…có biết sợ… có tinh tấn… có trí tuệ đối với thiện pháp; với vị ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tăng trưởng đối với thiện pháp, không phải là tổn giảm.
Vi-n 10 Người có lòng tin, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn giảm. Người có biết thẹn, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn giảm. Người có biết sợ, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn giảm. Người tinh cần, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn giảm. Người không phẫn nộ, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn giảm. Người không sân hận, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn giảm. Có những Tỷ-kheo giáo giới, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn giảm.
Vi-n 11 —Lành thay, lành thay, này Kassapa! Với ai, này Kassapa, không có lòng tin đối với thiện pháp… không có biết thẹn… không có biết sợ… không có tinh tấn… không có trí tuệ đối với thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tổn giảm trong thiện pháp, không phải là tăng trưởng.
Vi-n 12 Ví như mặt trăng, này Kassapa, trong thời kỳ tối trời, dầu là đêm hay là ngày, hình sắc tổn giảm dần, hình tròn tổn giảm dần, ánh sáng tổn giảm dần, quỹ đạo nó đi tổn giảm dần. Cũng vậy, này Kassapa, với ai không có lòng tin đối với thiện pháp, không có biết thẹn… không có biết sợ… không có tinh tấn… không có trí tuệ đối với thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay ngày, chờ đợi là sự tổn giảm đối với thiện pháp, không phải là sự tăng trưởng.
Vi-n 13 Người không có lòng tin, này Kassapa, tức có nghĩa là tổn giảm. Người không biết thẹn… Người không biết sợ… Người biếng nhác… Người ác trí tuệ… Người phẫn nộ… Người sân hận, này Kassapa, tức có nghĩa là tổn giảm. Không có Tỷ-kheo giáo giới, này Kassapa, tức có nghĩa là tổn giảm.
Vi-n 14 Với ai, này Kassapa, có lòng tin đối với thiện pháp… có biết thẹn… có biết sợ… có tinh tấn… có trí tuệ đối với thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay ngày, chờ đợi là sự tăng trưởng đối với thiện pháp, không phải là tổn giảm.
Vi-n 15 Ví như mặt trăng, này Kassapa, trong thời kỳ sáng trời, dầu là đêm hay ngày, hình sắc tăng trưởng dần, hình tròn tăng trưởng dần, ánh sáng tăng trưởng dần, quỹ đạo nó đi tăng trưởng dần. Cũng vậy, này Kassapa, ai có lòng tin đối với thiện pháp, có biết thẹn… có biết sợ… có tinh tấn… có trí tuệ là sự tăng trưởng đối với thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay ngày, chờ đợi là sự tăng trưởng đối với thiện pháp, không phải là sự tổn giảm.
Vi-n 16 Người có lòng tin, này Kassapa, tức có nghĩa là không tổn giảm. Người biết thẹn… Người biết sợ… Người tinh tấn… Người có trí tuệ… Người không phẫn nộ… Người không sân hận, này Kassapa, tức có nghĩa là không tổn giảm. Có Tỷ-kheo giáo giới, này Kassapa, tức có nghĩa là không tổn giảm.
Rājagahe viharati veḷuvane.
Atha kho āyasmā mahākassapo yena bhagavā tenupasaṅkami …pe…
ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ mahākassapaṁ bhagavā etadavoca:
“ovada, kassapa, bhikkhū;
karohi, kassapa, bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ.
Ahaṁ vā, kassapa, bhikkhū ovadeyyaṁ tvaṁ vā;
ahaṁ vā bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ kareyyaṁ tvaṁ vā”ti.
“Dubbacā kho, bhante, etarahi bhikkhū, dovacassakaraṇehi dhammehi samannāgatā akkhamā appadakkhiṇaggāhino anusāsaniṁ.
Yassa kassaci, bhante, saddhā natthi kusalesu dhammesu, hirī natthi kusalesu dhammesu, ottappaṁ natthi kusalesu dhammesu, vīriyaṁ natthi kusalesu dhammesu, paññā natthi kusalesu dhammesu, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, hāniyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no vuddhi.
Seyyathāpi, bhante, kāḷapakkhe candassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, hāyateva vaṇṇena, hāyati maṇḍalena, hāyati ābhāya, hāyati ārohapariṇāhena.
Evameva kho, bhante, yassa kassaci saddhā natthi kusalesu dhammesu …pe…
hirī natthi …
ottappaṁ natthi …
vīriyaṁ natthi …
paññā natthi … kusalesu dhammesu tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, hāniyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no vuddhi.
‘Assaddho purisapuggalo’ti, bhante, parihānametaṁ;
‘ahiriko purisapuggalo’ti, bhante, parihānametaṁ;
‘anottappī purisapuggalo’ti, bhante, parihānametaṁ;
‘kusīto purisapuggalo’ti, bhante, parihānametaṁ;
‘duppañño purisapuggalo’ti, bhante, parihānametaṁ;
‘kodhano purisapuggalo’ti, bhante, parihānametaṁ;
‘upanāhī purisapuggalo’ti, bhante, parihānametaṁ;
‘na santi bhikkhū ovādakā’ti, bhante, parihānametaṁ.
Yassa kassaci, bhante, saddhā atthi kusalesu dhammesu, hirī atthi kusalesu dhammesu, ottappaṁ atthi kusalesu dhammesu, vīriyaṁ atthi kusalesu dhammesu, paññā atthi kusalesu dhammesu, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no parihāni.
Seyyathāpi, bhante, juṇhapakkhe candassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, vaḍḍhateva vaṇṇena, vaḍḍhati maṇḍalena, vaḍḍhati ābhāya, vaḍḍhati ārohapariṇāhena.
Evameva kho, bhante, yassa kassaci saddhā atthi kusalesu dhammesu …
hirī atthi …pe…
ottappaṁ atthi …
vīriyaṁ atthi …
paññā atthi kusalesu dhammesu tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no parihāni.
‘Saddho purisapuggalo’ti, bhante, aparihānametaṁ;
‘hirimā purisapuggalo’ti, bhante, aparihānametaṁ;
‘ottappī purisapuggalo’ti, bhante, aparihānametaṁ;
‘āraddhavīriyo purisapuggalo’ti, bhante, aparihānametaṁ;
‘paññavā purisapuggalo’ti, bhante, aparihānametaṁ;
‘akkodhano purisapuggalo’ti, bhante, aparihānametaṁ;
‘anupanāhī purisapuggalo’ti, bhante, aparihānametaṁ;
‘santi bhikkhū ovādakā’ti, bhante, aparihānametan”ti.
“Sādhu sādhu, kassapa.
Yassa kassaci, kassapa, saddhā natthi kusalesu dhammesu …pe…
hirī natthi …
ottappaṁ natthi …
vīriyaṁ natthi …
paññā natthi kusalesu dhammesu tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, hāniyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no vuddhi.
Seyyathāpi, kassapa, kāḷapakkhe candassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, hāyateva vaṇṇena …pe…
hāyati ārohapariṇāhena.
Evameva kho, kassapa, yassa kassaci saddhā natthi kusalesu dhammesu …pe…
hirī natthi …
ottappaṁ natthi …
vīriyaṁ natthi …
paññā natthi kusalesu dhammesu tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, hāniyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no vuddhi.
‘Assaddho purisapuggalo’ti, kassapa, parihānametaṁ;
ahiriko …pe…
anottappī …
kusīto …
duppañño …
kodhano …
‘upanāhī purisapuggalo’ti, kassapa, parihānametaṁ;
‘na santi bhikkhū ovādakā’ti, kassapa, parihānametaṁ.
Yassa kassaci, kassapa, saddhā atthi kusalesu dhammesu …pe…
hirī atthi …
ottappaṁ atthi …
vīriyaṁ atthi …
paññā atthi kusalesu dhammesu tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no parihāni.
Seyyathāpi, kassapa, juṇhapakkhe candassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, vaḍḍhateva vaṇṇena, vaḍḍhati maṇḍalena, vaḍḍhati ābhāya, vaḍḍhati ārohapariṇāhena.
Evameva kho, kassapa, yassa kassaci saddhā atthi kusalesu dhammesu hirī atthi …
ottappaṁ atthi …
vīriyaṁ atthi …
paññā atthi kusalesu dhammesu tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no parihāni.
‘Saddho purisapuggalo’ti, kassapa, aparihānametaṁ;
hirimā …pe…
ottappī …
āraddhavīriyo …
paññavā …
akkodhano …
‘anupanāhī purisapuggalo’ti, kassapa, aparihānametaṁ;
‘santi bhikkhū ovādakā’ti, kassapa, aparihānametan”ti.
Sattamaṁ.