Vi-n 1 .. Trú Tại Sāvatthi.
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, Như Lai đầy đủ mười lực, bốn vô sở úy … (như trên) … Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
Vi-n 3-4...
Vi-n 5 Như vậy, này các Tỷ-kheo, Pháp được Ta khéo thuyết, hiển thị, khai thị, hiển lộ, các buộc ràng được cắt đoạn.
Vi-n 6 Như vậy, này các Tỷ-kheo, với Pháp được Ta khéo thuyết, hiển thị, khai thị, hiển lộ, các buộc ràng được cắt đoạn, thật là đủ cho Thiện nam tử do lòng tin xuất gia có thể bắt đầu tinh tấn (hành trì và nguyện). Như vậy, này các Tỷ-kheo, với Pháp được Ta khéo thuyết, hiển thị, hiển lộ các buộc ràng được cắt đoạn. Chắc chắn dầu chỉ còn lại da, gân và xương trên thân, dầu thịt, máu trở thành khô cạn, mong rằng tinh tấn lực, sẽ được kiên trì để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, nhờ trượng phu lực, nhờ trượng phu tinh tấn, nhờ trượng phu cần dõng.
Vi-n 7 Khổ thay, này các Tỷ-kheo, là người sống biếng nhác, dính đầy các pháp ác, bất thiện và mục đích lớn bị suy giảm! An lạc thay, này các Tỷ-kheo, là người sống tinh cần, tinh tấn, viễn ly các ác, bất thiện pháp, và mục đích lớn được viên mãn!
Vi-n 8 Này các Tỷ-kheo, không phải với cái hạ liệt có thể đạt được cái cao thượng. Này các Tỷ-kheo, phải với cái cao thượng mới đạt được cái cao thượng. Ðáng được tán thán, này các Tỷ-kheo, là Phạm hạnh này với sự có mặt của bậc Ðạo Sư. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy tinh tấn lên để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.
Vi-n 9 Có vậy, sự xuất gia này của chúng ta sẽ không phải trống không, có kết quả, có thành tích (Sa udrayà). Và những vật dụng chúng ta thọ dụng như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc trị bệnh, dầu cho những thứ này là khiêm tốn (vokàrà), đối với chúng ta sẽ có quả lớn, có lợi ích lớn.
Vi-n 10 Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập. Này các Tỷ-kheo, thấy được tự lợi là vừa đủ để tinh tấn không phóng dật. Hay này các Tỷ-kheo, khi thấy lợi tha là vừa đủ để tinh tấn, không phóng dật. Hay này các Tỷ-kheo, thấy lợi cả hai, là vừa đủ để tinh tấn, không phóng dật.
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Dasabalasamannāgato, bhikkhave, tathāgato catūhi ca vesārajjehi samannāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti:
‘iti rūpaṁ iti rūpassa samudayo iti rūpassa atthaṅgamo,
iti vedanā iti vedanāya samudayo iti vedanāya atthaṅgamo,
iti saññā iti saññāya samudayo iti saññāya atthaṅgamo,
iti saṅkhārā iti saṅkhārānaṁ samudayo iti saṅkhārānaṁ atthaṅgamo,
iti viññāṇaṁ iti viññāṇassa samudayo iti viññāṇassa atthaṅgamo.
Iti imasmiṁ sati idaṁ hoti, imassuppādā idaṁ uppajjati;
imasmiṁ asati idaṁ na hoti imassa nirodhā idaṁ nirujjhati.
Yadidaṁ avijjāpaccayā saṅkhārā;
saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
Avijjāya tveva asesavirāganirodhā saṅkhāranirodho;
saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti’.
Evaṁ svākkhāto, bhikkhave, mayā dhammo uttāno vivaṭo pakāsito chinnapilotiko.
Evaṁ svākkhāte kho, bhikkhave, mayā dhamme uttāne vivaṭe pakāsite chinnapilotike alameva saddhāpabbajitena kulaputtena vīriyaṁ ārabhituṁ:
‘kāmaṁ taco ca nhāru ca aṭṭhi ca avasissatu, sarīre upassussatu maṁsalohitaṁ. Yaṁ taṁ purisathāmena purisavīriyena purisaparakkamena pattabbaṁ, na taṁ apāpuṇitvā vīriyassa saṇṭhānaṁ bhavissatī’ti.
Dukkhaṁ, bhikkhave, kusīto viharati vokiṇṇo pāpakehi akusalehi dhammehi, mahantañca sadatthaṁ parihāpeti.
Āraddhavīriyo ca kho, bhikkhave, sukhaṁ viharati pavivitto pāpakehi akusalehi dhammehi, mahantañca sadatthaṁ paripūreti.
Na, bhikkhave, hīnena aggassa patti hoti.
Aggena ca kho, bhikkhave, aggassa patti hoti.
Maṇḍapeyyamidaṁ, bhikkhave, brahmacariyaṁ, satthā sammukhībhūto.
Tasmātiha, bhikkhave, vīriyaṁ ārabhatha appattassa pattiyā, anadhigatassa adhigamāya, asacchikatassa sacchikiriyāya.
‘Evaṁ no ayaṁ amhākaṁ pabbajjā avañjhā bhavissati saphalā saudrayā.
Yesañca mayaṁ paribhuñjāma cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhāraṁ tesaṁ te kārā amhesu mahapphalā bhavissanti mahānisaṁsā’ti—
evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.
Attatthaṁ vā hi, bhikkhave, sampassamānena alameva appamādena sampādetuṁ;
paratthaṁ vā hi, bhikkhave, sampassamānena alameva appamādena sampādetuṁ;
ubhayatthaṁ vā hi, bhikkhave, sampassamānena alameva appamādena sampādetun”ti.
Dutiyaṁ.
SC 1At Savatthī. “Bhikkhus, possessing the ten powers and the four grounds of self-confidence, the Tathagata claims the place of the chief bull of the herd, roars his lion’s roar in the assemblies, and sets rolling the Brahma-wheel thus: ‘Such is form … as in §21 … Such is the cessation of this whole mass of suffering.’
SC 2“Bhikkhus, the Dhamma has thus been well expounded by me, elucidated, disclosed, revealed, stripped of patchwork. When, bhikkhus, the Dhamma has thus been well expounded by me, elucidated, disclosed, revealed, stripped of patchwork, this is enough for a clansman who has gone forth out of faith to arouse his energy thus: ‘Willingly, let only my skin, sinews, and bones remain, and let the flesh and blood dry up in my body, but I will not relax my energy so long as I have not attained what can be attained by manly strength, by manly energy, by manly exertion. ’ sn.ii.29
SC 3“Bhikkhus, the lazy person dwells in suffering, soiled by evil unwholesome states, and great is the personal good that he neglects. But the energetic person dwells happily, secluded from evil unwholesome states, and great is the personal good that he achieves. It is not by the inferior that the supreme is attained; rather, it is by the supreme that the supreme is attained. Bhikkhus, this holy life is a beverage of cream; the Teacher is present. Therefore, bhikkhus, arouse your energy for the attainment of the as-yet-unattained, for the achievement of the as-yetunachieved, for the realization of the as-yet-unrealized, with the thought: ‘In such a way this going forth of ours will not be barren, but fruitful and fertile; and when we use the robes, almsfood, lodgings, and medicinal requisites offered to us by others, these services they provide for us will be of great fruit and benefit to them.’ Thus, bhikkhus, should you train yourselves.
SC 4“Considering your own good, bhikkhus, it is enough to strive for the goal with diligence; considering the good of others, it is enough to strive for the goal with diligence; considering the good of both, it is enough to strive for the goal with diligence.”
Vi-n 1 .. Trú Tại Sāvatthi.
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, Như Lai đầy đủ mười lực, bốn vô sở úy … (như trên) … Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
Vi-n 3-4...
Vi-n 5 Như vậy, này các Tỷ-kheo, Pháp được Ta khéo thuyết, hiển thị, khai thị, hiển lộ, các buộc ràng được cắt đoạn.
Vi-n 6 Như vậy, này các Tỷ-kheo, với Pháp được Ta khéo thuyết, hiển thị, khai thị, hiển lộ, các buộc ràng được cắt đoạn, thật là đủ cho Thiện nam tử do lòng tin xuất gia có thể bắt đầu tinh tấn (hành trì và nguyện). Như vậy, này các Tỷ-kheo, với Pháp được Ta khéo thuyết, hiển thị, hiển lộ các buộc ràng được cắt đoạn. Chắc chắn dầu chỉ còn lại da, gân và xương trên thân, dầu thịt, máu trở thành khô cạn, mong rằng tinh tấn lực, sẽ được kiên trì để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, nhờ trượng phu lực, nhờ trượng phu tinh tấn, nhờ trượng phu cần dõng.
Vi-n 7 Khổ thay, này các Tỷ-kheo, là người sống biếng nhác, dính đầy các pháp ác, bất thiện và mục đích lớn bị suy giảm! An lạc thay, này các Tỷ-kheo, là người sống tinh cần, tinh tấn, viễn ly các ác, bất thiện pháp, và mục đích lớn được viên mãn!
Vi-n 8 Này các Tỷ-kheo, không phải với cái hạ liệt có thể đạt được cái cao thượng. Này các Tỷ-kheo, phải với cái cao thượng mới đạt được cái cao thượng. Ðáng được tán thán, này các Tỷ-kheo, là Phạm hạnh này với sự có mặt của bậc Ðạo Sư. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy tinh tấn lên để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.
Vi-n 9 Có vậy, sự xuất gia này của chúng ta sẽ không phải trống không, có kết quả, có thành tích (Sa udrayà). Và những vật dụng chúng ta thọ dụng như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc trị bệnh, dầu cho những thứ này là khiêm tốn (vokàrà), đối với chúng ta sẽ có quả lớn, có lợi ích lớn.
Vi-n 10 Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập. Này các Tỷ-kheo, thấy được tự lợi là vừa đủ để tinh tấn không phóng dật. Hay này các Tỷ-kheo, khi thấy lợi tha là vừa đủ để tinh tấn, không phóng dật. Hay này các Tỷ-kheo, thấy lợi cả hai, là vừa đủ để tinh tấn, không phóng dật.
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Dasabalasamannāgato, bhikkhave, tathāgato catūhi ca vesārajjehi samannāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti:
‘iti rūpaṁ iti rūpassa samudayo iti rūpassa atthaṅgamo,
iti vedanā iti vedanāya samudayo iti vedanāya atthaṅgamo,
iti saññā iti saññāya samudayo iti saññāya atthaṅgamo,
iti saṅkhārā iti saṅkhārānaṁ samudayo iti saṅkhārānaṁ atthaṅgamo,
iti viññāṇaṁ iti viññāṇassa samudayo iti viññāṇassa atthaṅgamo.
Iti imasmiṁ sati idaṁ hoti, imassuppādā idaṁ uppajjati;
imasmiṁ asati idaṁ na hoti imassa nirodhā idaṁ nirujjhati.
Yadidaṁ avijjāpaccayā saṅkhārā;
saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
Avijjāya tveva asesavirāganirodhā saṅkhāranirodho;
saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti’.
Evaṁ svākkhāto, bhikkhave, mayā dhammo uttāno vivaṭo pakāsito chinnapilotiko.
Evaṁ svākkhāte kho, bhikkhave, mayā dhamme uttāne vivaṭe pakāsite chinnapilotike alameva saddhāpabbajitena kulaputtena vīriyaṁ ārabhituṁ:
‘kāmaṁ taco ca nhāru ca aṭṭhi ca avasissatu, sarīre upassussatu maṁsalohitaṁ. Yaṁ taṁ purisathāmena purisavīriyena purisaparakkamena pattabbaṁ, na taṁ apāpuṇitvā vīriyassa saṇṭhānaṁ bhavissatī’ti.
Dukkhaṁ, bhikkhave, kusīto viharati vokiṇṇo pāpakehi akusalehi dhammehi, mahantañca sadatthaṁ parihāpeti.
Āraddhavīriyo ca kho, bhikkhave, sukhaṁ viharati pavivitto pāpakehi akusalehi dhammehi, mahantañca sadatthaṁ paripūreti.
Na, bhikkhave, hīnena aggassa patti hoti.
Aggena ca kho, bhikkhave, aggassa patti hoti.
Maṇḍapeyyamidaṁ, bhikkhave, brahmacariyaṁ, satthā sammukhībhūto.
Tasmātiha, bhikkhave, vīriyaṁ ārabhatha appattassa pattiyā, anadhigatassa adhigamāya, asacchikatassa sacchikiriyāya.
‘Evaṁ no ayaṁ amhākaṁ pabbajjā avañjhā bhavissati saphalā saudrayā.
Yesañca mayaṁ paribhuñjāma cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhāraṁ tesaṁ te kārā amhesu mahapphalā bhavissanti mahānisaṁsā’ti—
evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.
Attatthaṁ vā hi, bhikkhave, sampassamānena alameva appamādena sampādetuṁ;
paratthaṁ vā hi, bhikkhave, sampassamānena alameva appamādena sampādetuṁ;
ubhayatthaṁ vā hi, bhikkhave, sampassamānena alameva appamādena sampādetun”ti.
Dutiyaṁ.